Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các cơ sở đó, cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tủ tưởng Hồ Chí Minh. - Pdf 27

ĐỀ TÀI 1:
Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các cơ sở đó,
cơ sở nào quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tủ
tưởng Hồ Chí Minh.
1
MỤC LỤC
Trang
A. Mở đầu 3
B. Nội dung 4
I. Khái quát về tư tưởng hồ chí minh 4
1. Khái niệm tư tưởng 4
2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh 4
II. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 4
1. Nhân tố khách quan 4
Bối cảnh xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh 5
a. Tình hình thế giới 5
b. Tình hình Việt Nam 6
Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 8
a. Giá trị truyền thống dân tộc 8
b. Tinh hoa văn hóa nhân loại 10
c. Chủ nghĩa Mác – Lênin 13
2. Nhân tố chủ quan 15
III. Nhân tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ Chí
Minh 15
1. Chủ nghĩa Mác – Lênin 15
2. Con người Hồ Chí Minh 17
a. Khả năng tư duy và trí tuệ của Hồ Chí Minh 17
b. Phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn 18
C. Kết luận 20
Danh mục tài liệu tham khảo 21
A. MỞ ĐẦU

quan điểm, quan niệm, luận điểm được xây dựng trên một nền tảng triết học nhất
quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, được hình
thành trên cơ sở thực tiễn nhất định và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo
hiện thực.
2. Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.
Dựa trên những định hướng cơ bản của Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam, các nhà khoa học đã dưa ra định nghĩa: “Tư
tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn
đề cơ bản của Cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến
cách mạng xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự vận dụng sang tạo và phát triển chủ
nghĩa Mác – Lenin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết hợp tinh
hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải
phóng con người”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: tư tưởng về vấn đề dân tộc; về chủ nghĩa vã
hội và con đường đi lên chú nghĩa xã hội; về Đảng Cộng Sản Việt Nam; về đại
đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế; về dân chủ, Nhà nước của dân, do dân, vì
dân; về văn hóa, đạo đức,v.v
II. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
1. Nhân tố khách quan.
Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sản phẩm chủ quan, phản ánh tâm lý,
nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đổi với lãnh tụ kính yêu của mình. Tư tưởng
5
Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, ra đời do yêu cầu
khách quan và sự giải đáp những nhu cầu bức thiết do cách mạng đặt ra từ đầu thế
kỷ XX đến nay.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới tác động, ảnh hưởng của những
điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể của dân tộc và thời đại mà Ngừơi đã sống và hoạt
đông. Thiên tài của Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã nắm bắt chính xác xu hướng
phát triển của thời đại để tìm ra con đường cách mạng đúng đắn cho dân tộc mình.
Bối cảnh xuất hiện tư tưởng Hồ Chí Minh.

trung tâm tập hợp lực lượng cách mạng và chỉ đạo cách mạng thế giới. Sự xuất hiện
chủ nghĩa Lênin có vai trò quan trọng đối với sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
và tạo tiền đề bỏ qua CNTB lên CNXH ở Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dần dần từ cảm tính đến lý tính nhằm
tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc Việt Nam. Việc xuất hiện tư tưởng Hồ
Chí Minh là nhu cầu tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam và do lịch sử của
cách mạng Việt Nam quy định.
b. Tình hình Việt Nam
• Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Xã hội Việt Nam trước khi Pháp xâm lược là xã hội phong kiến độc lập, nền
nông nghiệp lạc hậu, trì trệ. Chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối
nội, đối ngoại bảo thủ, phản động… không mở ra khả năng cho Việt Nam cơ hội
tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới. Vì vậy, đã không phát huy được
những thế mạnh của dân tộc và đất nước, không tạo ra tiềm lực vật chất và tinh
thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân
phương Tây
Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và hiệp định Patơnốt (1884)
được ký kết, xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hội thuộc
7
địa nửa phong kiến. Trong lòng xã hội thuộc địa, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu
thuẫn cũ, nó không thủ tiêu mâu thuẫn cũ mà là cơ sở để duy trì mâu thuẫn cũ, làm
cho xã hội Việt Nam càng thêm đen tối. Các phong trào vũ trang kháng chiến
chống Pháp rầm rộ, lan rộng ra cả nước… lãnh đạo họ là các sĩ phu văn thân
mang ý thức hệ phong kiến nhưng đều không thành công: như Trương Định, Đồ
Chiểu, Thủ Khoa Huân. Nguyễn Trung Trực (Nam Bộ); Tôn Thất Thuyết, Phan
Đình Phùng, Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn (Trung Bộ); Nguyễn
Thiện Thuật, Nguyễn Quy Binh, Hoàng Hoa Thám (Bắc Bộ).
Sang đầu thế kỷ 20, xã hội Việt Nam có sự phân hóa sâu sắc: giai cấp CN, Tư
sản dân tộc, tiểu tư sản ra đời, các cuộc cải cách dân chủ tư sản ở Trung Quốc của
Khang Hiểu Vi, La Khải Siêu (dưới hình thức Tân Thư, Tân Sinh) tác động vào

Huế, Người đã tận mắt nhìn thấy tội ác của bọn thực dân và thái độ ươn hèn, bạc
nhược của bọn quan lại Nam triều.
Tất cả những điều đó đã thôi thúc Người phải sớm ra đi tìm một con đường mới
để cứu dân, cứu nước. Quê hương, gia đình, truyền thống dân tộc,… đã chuẩn bị
cho Người về nhiều mặt, nhưng sẽ không thể thành công nếu không đến được với
trào lưu mới của thời đại.
Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
a. Giá trị truyền thống dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo
lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú và bền vững với những truyền
thống tốt đẹp, cao quý.
- Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng
nước và giữ nước. Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân vật truyền
thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần
Hưng Đạo, Nguyễn Trãi,… đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn. chủ
nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam. Mọi học
9
thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận,
khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêu nước đó. Đó là chuẩn mực cao nhất, đứng
đầu bảng giá trị văn hóa và tinh thần Việt Nam .
Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam được hun đúc nên bởi cuộc đấu tranh dựng nước
và giữ nước của nhân dân ta, của dân tộc ta. Tinh thần yêu nước đã trở thành đạo
lý, triết lý sống, niềm tự hào của con người Việt Nam. Bởi vậy, ở mỗi người dân
Việt Nam gắn mình với vận mệnh của Tổ quốc, của dân tộc thì chủ nghĩa yêu nước
ấy lại nhân sức mạnh của bản thân, biến thành một sức mạnh thúc đẩy mình vượt
qua mọi khó khăn, nguy hiểm, mọi thử thách gian nan. Chính từ thực tiễn, Hồ Chí
Minh đã đúc kết chân lý ấy: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một
truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh
thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua
mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước”.

- Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo
trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời cũng là một dân tộc ham học hỏi, cầu tiến
bộ, không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa văn hóa của nhân loại, từ Nho,
Phật, Lão của phương Đông đến tư tưởng văn hóa hiện đại của phương Tây. Trên
cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến
những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị của riêng mình. Hồ
Chí Minh là hình ảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó.
b. Tinh hoa văn hóa nhân loại.
Hồ Chí Minh xuất thân trong gia đình khoa bảng, từ nhỏ Người đã được hấp
thụ một nền Quốc học và Hán học khá vững vàng. Khi ra nước ngoài, Người
không ngừng làm giàu trí tuệ mình bằng tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chính
điều đó làm nên nét đặc sắc của Hồ Chí Minh, một con người tượng trưng cho sự
kết hợp hài hòa văn hóa Đông – Tây.
11
• Văn hoá phương Đông: Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo,
và tư tưởng tiến bộ khác của văn hoá phương Đông.
- Trước hết nói về Nho giáo: Nho giáo nói chung và Khổng giáo nói riêng là
khoa học về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng triết lý hành động, lý tưởng về một
xã hội bình trị. Đặc biệt Nho giáo đề cao văn hoá, lễ giáo và tạo ra truyền thống
hiếu học trong dân. Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng phê phán Nho giáo có tư tưởng tiêu cực duy tâm, lạc
hậu, như bảo vệ chế độ phong kiến, phân chia đẳng cấp – quân tử và tiểu nhân,
trọng nam khinh nữ, chỉ đề cao nghề đọc sách. Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng
của Nho giáo rất nhiều dựa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
- Tiếp theo là về Phật giáo. Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Ngay
khi Nho giáo trở thành quốc giáo, Phật giáo vẫn còn ảnh hưởng rất sâu sắc trong
nhân dân, để lại nhiều dấu ấn trong văn hóa Việt Nam, từ tư tưởng, tình cảm, tín
ngưỡng đến phong tục tập quán, lối sống,… Bên cạnh những mặt tiêu cực vốn có
của một tôn giáo, Phật giáo cũng có rất nhiều ưu điểm như: tư tưởng vị tha, từ bi,
bác ái, cứu khổ cứu nạn, thương người như thể thương thân; nếp sống có đạo đức,

nước ta.
• Cùng với những tư tưởng triết học phương Đông, Hồ Chí Minh còn nghiên
cứu tiếp thu ảnh hưởng của nền văn hóa dân chủ và cách mạng phương Tây.
Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng
phương Tây như: tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự
do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776. Trước khi
ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang
Pháp Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy
độc lập tự chủ. Người đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái.
13
Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà Khai sáng Pháp như Voltaire, Rousso,
Montesquieu.
Thiên chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh quan niệm Tôn
giáo là văn hoá. Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng nhân ái. Hồ Chí
Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông - Tây để phục vụ cho cách mạng
Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính
mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại.”
Tóm lại, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã tự biết làm giàu trí tuệ của
mình bằng vốn trí tuệ của thời đại, Đông và Tây, vừa tiếp thu, vừa gạn lọc để từ
tầm cao tri thức nhân loại mà suy nghĩ, lựa chọn, kế thừa và đổi mới, vận dụng và
phát triển.
c. Chủ nghĩa Mác – Lênin.
Chủ nghĩa Mác Lê Nin là đỉnh cao trí tuệ nhân loại bao gồm 3 bộ phận cấu
thành:
Triết học giúp Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan, phương pháp biện chứng,
nhân sinh quan, khoa học, Cách Mạng, thấy được những quy luật vận động phát
triển của thế giới và xã hội loài người.
Kinh tế chính trị học vạch rõ các quan hệ xã hội được hình thành phát triển gắn
với quá trình sản xuất, thấy được bản chất bốc lột của chủ nghĩa Tư bản đối với

Chính thế giới quan và phương pháp luận Mác – Lênin đã giúp Hồ Chí Minh
tổng kết kiến thức và kinh nghiệm thực tiễn của mình mà tìm ra con đường cứu
nước. ảnh hưởng sâu sắc và quyết định ấy đã thể hiện trong câu nói của Người:
“Chủ nghĩa Lênin là cái cẩm nang thần kỳ”, hoặc: “Lúc đầu chính là chủ nghĩa
yêu nước chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo
Quốc tế III. Trong cuộc đấu tranh, vừa nghiên cứu lý luận Mác – Lênin, vừa
làm công tác thực tế, dần dần tôi hiểu được rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công
15
nhân thế giới”. “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa
chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin”. Và “Chính
do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với thực
tế Việt Nam mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được thắng lợi to lớn”.
2. Nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh
- Hồ Chí Minh là người có đầu óc thông minh sáng suốt, năng lực tư duy độc
lập, sáng tạo, học vấn uyên bác, năng lực phân tích, so sánh, đối chiếu, tổng hợp
sâu sắc suốt trong việc nghiên cứu, tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới.
- Có ý chí nghị lực kiên cường, những phẩm chất được tôi luyện đã quyết định
việc Hồ Chí Minh tiếp thu, chọn lọc, chuyển hóa, phát triển những tinh hoa của
dân tộc, thời đại thành những tư tưởng đặc sắc độc đáo của mình.
- Có tấm lòng yêu nước, thương dân, thương yêu những con người cùng khổ vô
bờ bến, một chiến sĩ cộng sản quả cảm, nhiệt thành sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc,
nhân dân, dân tộc và nhân loại.
- Người không ngừng học tập nhằm chiếm lĩnh vốn tri thức vốn trí thức đồ sộ
của nhân loại, tiếp thu kinh nghiệm, bề dày của phong trào cộng sản và chủ nghĩa
quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc. Nhân cách, phẩm chất, tài năng và trí tuệ
của Hồ Chí Minh đã giúp Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và tiếp thu được
các giá trị văn hoá nhân loại.
III. Nhân tố quyết định bản chất cách mạng và khoa học của tư tưởng Hồ
Chí Minh.

của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tìm ra quy luật về sự diệt vong của chủ
nghĩa tư bản cũng như thắng lợi của chủ nghĩa xã hội như một tất yếu thông qua
cuộc cách mạng xã hội.
- Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện ở
chỗ: Đó là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến mà nó đòi hỏi luôn được bổ
sung, tự đổi mới, tự phát triển trong dòng phát triển trí tuệ của nhân loại.
17
Chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về sự phát triển, bao hàm cả sự phát triển
của chính học thuyết đó với tinh thần phê phán và tự phê phán. Bởi lẽ, có nhiều
vấn đề mà các ông chưa có điều kiện, thời gian nghiên cứu, làm sáng tỏ hoặc do
hạn chế của lịch sử nên những luận điểm của các ông cần phải điều chỉnh cho phù
hợp với thực tiễn. Các ông đòi hỏi những người cách mạng đời sau bổ sung và phát
triển làm cho học thuyết đó hoàn chỉnh.
Toàn bộ học thuyết Mác-Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện
chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học và nhân đạo, chủ nghĩa Mác-
Lênin sống mãi trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao
động trên thế giới và là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng
và cách mạng Việt Nam.
Vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin thể hiện:
- Quyết định bản chất thế giới quan khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Quyết định phương pháp hành động biện chứng của Hồ Chí Minh.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam, là tư tưởng
Việt Nam thời Hiện đại.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Chủ
nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, khoa học nhất, cách mạng nhất,
“muốn cách mạng thành công, phải đi theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và chủ nghĩa
Lênin”. Tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”
2. Con người Hồ Chí Minh.

Quan điểm thực tiễn của Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét trong cách tiếp cận với
các học thuyết cách mạng. Hồ Chí Minh luôn coi các học thuyết chỉ là công cụ để
thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc và đem lại hoà bình, tự do, hạnh phúc cho
19
nhân dân. Trong Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin, Hồ Chủ Tịch viết:
"Tôi tham gia Ðảng Xã hội Pháp chẳng qua là vì các "ông bà" ấy- (hồi đó tôi gọi
các đồng chí của tôi như thế) - đã tỏ đồng tình với tôi, với cuộc đấu tranh của các
dân tộc bị áp bức Hồi ấy, trong các chi bộ của Ðảng Xã hội, người ta bàn cãi sôi
nổi về vấn đề có nên ở lại trong Quốc tế thứ hai, hay là nên tổ chức một Quốc tế
thứ hai rưỡi, hoặc tham gia Quốc tế thứ ba của Lênin? Ðiều mà tôi muốn biết hơn
cả - và cũng chính là điều mà người ta không thảo luận trong cuộc họp là: vậy thì
cái quốc tế nào bênh vực nhân dân các nước thuộc địa? Trong một cuộc họp, tôi
đã nêu câu hỏi ấy lên, câu hỏi quan trọng nhất đối với tôi. Có mấy đồng chí đã trả
lời: Ðó là Quốc tế thứ ba, chứ không phải Quốc tế thứ hai. Và một đồng chí đã đưa
cho tôi đọc Luận cương của Lênin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo
Nhân đạo Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin
tưởng biết bao? Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà
tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày
đau khổ! Ðây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”
Quan điểm thực tiễn càng rõ trong hoạt động ngoại giao. Những ngày tháng
đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám, để có thời gian củng cố lực lượng cho chính
quyền nhân dân còn non trẻ, đồng thời tranh thủ sự hậu thuẫn quốc tế, thêm bạn
bớt thù, Hồ Chủ tịch chủ trương đối thoại, hòa hoãn, nhưng kiên trì mục đích cuối
cùng là độc lập dân tộc. Nhận rõ những khó khăn do thái độ không thiện chí của
Pháp và cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu tăng lên giữa các cường quốc, Hồ Chủ Tịch
thậm chí từng có ý định từ chức để Bảo Đại thay mặt chính phủ thương thuyết
nhằm đạt được độc lập dân tộc. Chính nhờ đường lối khôn khéo này mà chúng ta
đã đấy được quân Tàu Tưởng ra không miền Bắc và đạt được thoả thuận với Pháp
tháng 3 năm 1946, trong đó Pháp "công nhận nước Cộng Hòa Việt Nam là một
Quốc Gia Tự Do, có Chính phủ, Quốc hội, Ngân khố, Quân đội, nằm trong khuôn

theo tư tưởng Hồ Chí Minh như Đảng và Nhà nước đã phát động.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai. Nxb CTQG. H.1996, tập.9, tr. 314.
2. “Một lãnh tụ ở bước ngoặt lịch sử”, Báo Nhân dân số ra ngày 17-9-1969.
3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 6, (xuất bản lần thứ 2), Nxb CTQG, H.1995, tr.171.
4. Hồ Chí Minh: Sđd, tập l0, tr. 128.
5. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội
6. Hồ Chí Minh, Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lê-nin, Báo Nhân dân, số 2226,
ngày 22-4-1960; />7. />8. Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, 2010.
9. Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam www.cpv.org.vn
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status