BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TỔNG CỤC THUỶ SẢN
VIỆN KINH TẾ VÀ QUY HOẠCH THỦY SẢN
CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA ỨNG PHÓ VỚI
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: 0356
TÊN NHIỆM VỤ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÊN HỆ
THỐNG CƠ SỞ HẠ TẦNG, DIỆN TÍCH, NĂNG SUẤT, SẢN
LƯỢNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VEN BIỂN NHẰM XÂY
DỰNG CÁC GIẢI PHÁP TỔNG HỢP VÀ MÔ HÌNH THỬ
NGHIỆM PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN VEN BIỂN
ỨNG PHÓ VÀ GIẢM NHẸ BIỂN ĐỔI KHÍ HẬU
BÁO CÁO TỔNG KẾT NHIỆM VỤ NĂM 2013
Chủ nhiệm nhiệm vụ: ThS. Cao Lệ Quyên
Các thành viên tham gia: ThS. Nguyễn Tiến Hưng
ThS. Nguyễn Ngọc Hân
ThS. Trần Văn Tam
ThS. Lê Thị Thu Hương
CN. Đỗ Anh Vũ
Cơ quan: Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản
Hà Nội, 2013
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
IPCC Uỷ ban Liên Chính phủ về BĐKH
PTNT Phát triển Nông thôn
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
VIFEP Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản
2.4. Định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản và nuôi tôm nước lợ của 2 tỉnh Thanh Hóa
và Hà Tĩnh 37
2.4.1. Định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản và nuôi tôm nước lợ của Thanh Hóa . 38
2.4.2. Định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản và nuôi tôm nước lợ của Hà Tĩnh 40
III. Đánh giá chung 41
I. Phương pháp tiếp cận và các bước nghiên cứu chung của nhiệm vụ 43
II. Phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến năng suất và
sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ven biển 44
2.1. Phương pháp xây dựng mô hình kinh tế lượng 44
2.2. Cách chọn các biến BĐKH để đưa vào mô hình hàm sản xuất 46
2.3. Phương pháp kiểm định tính phù hợp của mô hình 48
2.4. Phương pháp thu thập số liệu 48
2.4.1. Số liệu thứ cấp 48
2.4.2. Số liệu sơ cấp 49
2.4. Công cụ xử lý số liệu và phân tích 50
III. Phương pháp nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH đến diện tích và
cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản ven biển 50
IV. Phương pháp lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi tôm nước lợ
thích ứng với BĐKH 54
4.1. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình 54
4.2. Phương pháp đánh giá có sự tham gia trong điều tra khảo sát thực địa và tham vấn
cộng đồng 55
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 56
3
CHƯƠNG I. TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ SẢN
LƯỢNG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 56
I. Tác động của BĐKH đến năng suất và sản lượng nuôi tôm nước lợ tại
tỉnh Thanh Hóa 56
1.1. Kết quả đánh giá tác động cấp tỉnh 56
1.1.1. Dự báo tác động của BĐKH đến sản lượng tôm nuôi ở Thanh Hóa theo kịch bản
các vùng nuôi tôm nước lợ 82
1.3. Tác động của BĐKH đến CSHT và diện tích nuôi tôm nước lợ 84
1.4. Đánh giá chung 88
II. Tác động của BĐKH đến cơ sở hạ tầng và diện tích nuôi trồng thuỷ sản
tỉnh Hà Tĩnh 89
2.1. Hiện trạng cơ sở hạ tầng và diện tích các vùng nuôi tôm nước lợ tập trung 89
2.2. Xây dựng chỉ số điều kiện và mức độ tác động của BĐKH đến CSHT và diện tích 90
4
2.3. Tác động của BĐKH đến CSHT và diện tích các vùng nuôi tôm nước lợ 91
2.4. Đánh giá chung 95
CHƯƠNG III. LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM XÂY DỰNG MÔ HÌNH NUÔI
TÔM ỨNG PHÓ VỚI BĐKH 97
I. Tiêu chí lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình 97
1.1. Nhóm tiêu chí về tác động của biến đổi khi hậu 97
1.2. Nhóm tiêu chí về môi trường 98
1.3. Nhóm tiêu chí về tính đại diện và khả năng nhân rộng của mô hình 99
1.4. Nhóm tiêu chí về kinh tế - xã hội 100
1.5. Nhóm tiêu chí về khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu 101
1.6. Thang chấm điểm trong đánh giá lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình 104
II. Lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình nuôi tôm ứng phó với BĐKH 106
2.1. Mô hình nuôi tôm quảng canh cải tiến tại Thanh Hóa 106
2.1.1. Đề xuất các địa điểm để lựa chọn 106
2.1.2. Kết quả phân tích, đánh giá chấm điểm cho các vùng được đề xuất 107
2.1.3. Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản tại vùng nuôi được lựa chọn (mô hình cấp cộng
đồng) 111
2.1.4. Hiện trạng nuôi trồng thủy sản tại địa điểm lựa chọn (xây dựng mô hình nuôi tôm
QCCT cấp trang trại) 115
2.2. Mô hình nuôi tôm thâm canh tại Hà Tĩnh 118
2.2.1. Đề xuất các địa điểm để lựa chọn 118
2.2.2. Kết quả phân tích, đánh giá chấm điểm cho các vùng được đề xuất 119
Quyết định số 1690/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/9/2010) đã xác
định rõ về quan điểm phát triển thuỷ sản (trong đó có Nuôi trồng thuỷ sản) đến
năm 2020 là “theo hướng chất lượng và bền vững, trên cơ sở giải quyết hài hòa
mối quan hệ giữa nâng cao giá trị gia tăng với đảm bảo chất lượng…, bảo vệ
môi trường,… và chủ động thích ứng với tác động của BĐKH…”. Trong đó,
định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ đến năm 2020 cũng được xác
định là sẽ tiếp tục “hình thành các vùng nuôi công nghiệp tập trung có quy mô
6
diện tích lớn theo tiêu chuẩn GAP phù hợp với từng thị trường, tạo sản lượng
hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu và tiêu thụ trong nước ở các khu vực ĐBSH,
ven biển miền Trung và ĐBSCL gắn với truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương
hiệu thuỷ sản uy tín, chất lượng cao”. Định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản
mặn lợ vùng Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung cũng được xác định rõ trong
Chiến lược này “Tiếp tục duy trì phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước lợ khu vực
cửa sông, ven biển, đầm phá phục vụ xuất khẩu và tiêu dùng nội địa Đối
tượng nuôi chủ lực của vùng là tôm sú, tôm chân trắng, nhuyễn thể, các loài cá
biển, trồng rong câu tập trung chuyên canh trên các đầm phá. Phát triển nuôi
các đối tượng có tiềm năng như cá song, cá giò, cá hồng, bào ngư, vẹm xanh,
rong biển…”.
Tuy nhiên, do đặc thù địa hình và điều kiện tự nhiên, vùng duyên hải Bắc
Trung bộ cũng là vùng thường xuyên phải chịu các tác động bất lợi của thời tiết
và thay đổi khí hậu như hạn hán, bão, lũ lụt, gió lào tây nam khô nóng gây ảnh
hưởng lên sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong vùng. Theo kịch
bản về BĐKH và NBD (MONRE, 2012) thì duyên hải Bắc trung bộ cũng là
vùng chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH và nước biển dâng, đặc biệt là gia tăng
nhiệt độ và thay đổi lượng mưa. Theo MONRE (2012) trong kịch bản phát thải
trung bình (B2) khu vực từ Hà Tĩnh đến Quảng Trị có nhiệt độ mùa hè tăng từ
1,4 đến trên 1,8
0
C giữa thế kỷ 21 và 3,1 đến 3,7
kịch bản BĐKH và NBD của quốc gia là hết sức cần thiết để qua đó đánh giá
được tính khả thi của các định hướng phát triển ngành trong tương lai, xây dựng
được các giải pháp và hoạt động thích ứng cũng như làm cơ sở để xây dựng các
mô hình thử nghiệm hiệu quả.
Tuy nhiên, hiện chưa có các đánh giá đầy đủ về tác động của BĐKH lên
diện tích, năng suất, sản lượng và cơ sở hạ tầng trong NTTS theo các kịch bản
BĐKH và NBD đã được Chính phủ ban hành năm 2012 trong vùng Bắc Trung
bộ và duyên hải miền Trung. Hiện tại, mới chỉ có một số nghiên cứu tác động
của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản được thực hiện ở đồng bằng
sông Cửu Long, chưa có nghiên cứu tại các khu vực duyên hải Bắc Trung bộ.
Nghiên cứu của Kam và các cộng sự (2010) ở đồng bằng sông Cửu Long cho
thấy nếu không có giải pháp thích ứng, thu nhập của các hộ nuôi cá tra có thể
giảm 3 tỷ đồng/ha vào năm 2020 và các hộ nuôi tôm có thể giảm 130 triệu
8
đồng/ha vào năm 2020 và lên đến 950 triệu đồng/ha năm 2050. Chi phí thích
ứng biến đổi khí hậu trong nuôi tôm có thể sẽ tăng bao gồm các gia tăng chi phí
bơm nước và lấy nước, tại các đầm nuôi tôm có thể chiếm khoảng 2,4% tổng chi
phí hàng năm (giai đoạn 2010-2050). Nghiên cứu này cũng sử dụng cách tiếp
cận không gian và mô hình toán thủy lực một chiều (Vietnamese River System
and Plain-VRSAP) để xem xét bao nhiêu diện tích nuôi cá tra và nuôi tôm nước
lợ vùng ven biển ĐBSC sẽ bị ảnh hưởng của NBD. Kết quả nghiên cứu cho thấy
khi NBD lên 50cm sẽ gây ảnh hưởng lớn đến dòng chẩy của các nhánh sông
trong hệ thống sông Mê kong vào mùa lũ (làm tăng mức ngập lũ), cũng như làm
thay đổi độ mặn của các thủy vực ven biển và gây ảnh hưởng lên diện tích nuôi
cá tra nội đồng và diện tích nuôi tôm nước lợ.
Trong nghiên cứu của Phạm Quang Hà và cộng sự (2011) về tác động của
BĐKH lên sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, nhóm tác giả đã dùng mô hình
DSSAT để xác định tương quan giữa BĐKH với năng suất một số cây trồng
chính tại các vùng sinh thái khác nhau. Kết quả đánh giá thông qua mô hình
DSSAT đã cho thấy, năng suất tiềm năng của cây lúa ở vùng ĐBSCL theo các
tính toán bộ chỉ số đánh giá theo 3 yếu tố chính của tình trạng dễ bị tổn thương
(yếu tố điều kiện – Exposure, nhạy cảm – sensitivity và năng lực thích ứng –
adaptive capacity) kết hợp với các công cụ GIS để thể hiện kết quả tính toán tình
trạng dễ bị tổn thương của lĩnh vực nông nghiệp (bao gồm cả thuỷ sản) trên bản
đồ. Theo đó, những vùng ven biển là những vùng có mức độ dễ bị tổn thương
cao. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng vẫn chưa tập trung đánh giá sâu cho lĩnh
vực nuôi trồng thủy sản do phạm vi nghiên cứu trải rộng trong toàn bộ 6 lĩnh
vực của ngành nông nghiệp nên việc phân tích đánh giá khó có thể thực hiện sâu
sắc cho từng lĩnh vực.
Nhiệm vụ “Xây dựng mô hình NTTS ven biển ứng phó với Biến đổi khí
hậu” hiện đang được thực hiện bởi Viện Nghiên cứu NTTS 1 (RIA 1) (năm
2012-2014) tập trung vào việc xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá khả năng ứng
phó với BĐKH của cộng đồng và trang trại NTTS ven biển và xây dựng được
một số mô hình NTTS cộng đồng và trang trại ven biển nâng cao khả năng ứng
phó và nhân rộng với BĐKH. Tuy nhiên, nhiệm vụ này chỉ tập trung đánh giá và
10
xây dựng các mô hình nuôi tôm, nuôi ngao và nuôi cá biển thích ứng với BĐKH
trong khu vực đồng bằng sông Hồng, không đánh giá và xây dựng mô hình tại
vùng duyên hải Bắc Trung bộ.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các tác động của BĐKH lên NTTS cũng
có thể được giảm nhẹ thông qua các biện pháp thích ứng hiệu quả của người
nuôi và các tổ chức cộng đồng thông qua việc quản lý trang trại hiệu quả cũng
như sử dụng hợp lý các nguồn thức ăn và năng lượng trong hoạt động nuôi.
Chính vì vậy, mặc dù một số chính sách đã được ban hành nhằm hỗ trợ các địa
phương xây dựng CSHT và khuyến khích người nuôi chuyển dịch cơ cấu vật
nuôi cây trồng, chuyển dịch mùa vụ, né vụ, tuân thủ lịch thời vụ do các cơ quan
quản lý sản xuất ban hành để thích ứng với diễn biến bất lợi của thời tiết và
giảm thiểu KNK từ hoạt động NTTS nhưng chưa được người nuôi biết đến
nhiều và hưởng ứng rộng rãi. Một số nguyên nhân gây cản trở người nuôi tham
gia vào hoạt động ứng phó với BĐKH có thể từ việc thiếu thông tin dẫn đến hạn
ngành thuỷ sản đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 và Quyết định 1183/QĐ-
TTg ngày 30/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ, và góp phần phát triển ngành
nông nghiệp bền vững, thích ứng hiệu quả và giảm nhẹ BĐKH.
7.2. Mục tiêu của nhiệm vụ
7.2.1. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được tác động của BĐKH đến NTTS ven biển, đề xuất được các
giải pháp thích ứng tổng hợp và mô hình thử nghiệm nhằm góp phần phát triển
nuôi trồng thủy sản ven biển bền vững trong bối cảnh BĐKH.
7.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống cơ sở hạ tầng,
diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ven biển;
- Xây dựng được các giải pháp tổng hợp để quản lý và phát triển nuôi
trồng thủy sản ven biển bền vững ứng phó với biến đổi khí hậu;
12
- Xây dựng được mô hình thử nghiệm nuôi trồng thuỷ sản ven biển ứng
phó với biến đổi khí hậu.
7.3. Các vấn đề cần giải quyết trong nhiệm vụ
Nhằm đạt được mục tiêu đặt ra, lựa chọn các vấn đề cần giải quyết như
sau:
- Phân tích và lựa chọn được phương pháp đánh giá tác động của BĐKH
lên hệ thống cơ sở hạ tầng, diện tích, năng suất, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản
ven biển;
- Đánh giá ảnh hưởng của BĐKH lên NTTS ven biển để định hướng cho
việc nâng cao khả năng thích ứng và giảm thiểu;
- Hệ thống hóa các giải pháp thích ứng của cộng đồng thông qua xem xét
hiệu quả các giải pháp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH hiện tại của các hệ thống
nuôi trồng thuỷ sản ven biển và đề xuất giải pháp thích ứng tổng hợp;
- Xây dựng mô hình nâng cao khả năng thích ứng và giảm nhẹ BĐKH;
- Nhân rộng mô hình NTTS ven biển ứng phó với BĐKH thông qua các
giải pháp về chính sách, tuyên truyền và KHCN.
cho 4 tỉnh còn lại.
2 Đánh giá hiệu quả các giải
pháp ứng phó BĐKH của
các hệ thống nuôi trồng thuỷ
sản ven biển
Hệ thống hóa được các giải pháp thích ứng của
cộng đồng thông qua xem xét hiệu quả các giải
pháp thích ứng và giảm nhẹ BĐKH hiện tại của
các hệ thống nuôi trồng thuỷ sản ven biển
3 Đề xuất giải pháp ứng phó
tổng hợp phát triển nuôi
trồng thuỷ sản ven biển bền
vững trong bối cảnh BĐKH
Các giải pháp thích ứng được đề xuất cho NTTS
ven biển của cả vùng duyên hải Bắc Trung bộ, và
được thử nghiệm cụ thể cho một số mô hình nuôi
nước lợ của 2 tỉnh Thanh Hóa và Hà Tĩnh.
4 Xây dựng mô hình NTTS ở
cấp độ cộng đồng và trang
trại ứng phó với BĐKH.
Do tầm quan trọng của tôm nước lợ trong NTTS
ven biển toàn quốc nói chung và vùng duyên hải
Bắc Trung bộ nói riêng, việc xây dựng mô hình
thử nghiệm sẽ được thực hiện cho đối tượng tôm
nước lợ. Dự kiến 04 mô hình tôm nước lợ: 02 mô
hình tại Thanh Hóa và 02 mô hình tại Hà Tĩnh sẽ
được thử nghiệm.
8. Mục tiêu cụ thể cho năm 2013
- Lựa chọn được phương pháp đánh giá tác động của BĐKH lên NTTS
ven biển;
mô hình tại Hà Tĩnh.
10. Nội dung thực hiện năm 2013
Nội dung 1. Nghiên cứu tổng quan về các phương pháp đánh giá tác động
của BĐKH lên nuôi trồng thủy sản:
- Tổng quan về các phương pháp đánh giá tác động của BĐKH lên NTTS;
- Tổng quan về các kết quả nghiên cứu về tác động của BĐKH lên Nuôi
trồng thủy sản;
- Tổng quan về các giải pháp thích ứng đã được đề xuất và áp dụng
Nội dung 2: Đánh giá hiện trạng và các định hướng quy hoạch phát triển
nuôi tôm nước lợ ven biển trên quan điểm ứng phó với biến đổi khí hậu
trên toàn quốc và tại vùng nghiên cứu:
- Tổng quan, đánh giá hiện trạng và các định hướng quy hoạch phát triển
nuôi tôm nước lợ ven biển trên toàn quốc;
- Đánh giá hiện trạng nuôi tôm nước lợ ven biển tại 2 tỉnh Thanh Hóa và Hà
Tĩnh.
Nội dung 3: Lựa chọn phương pháp đánh giá tác động của biến đổi khí
hậu đến hệ thống cơ sở hạ tầng, diện tích, năng suất, sản lượng nuôi tôm
nước lợ ven biển:
15
- Lựa chọn mô hình ứng dụng GIS trong đánh giá tác động của biến đổi khí
hậu đến hệ thống cơ sở hạ tầng và diện tích nuôi tôm nước lợ;
- Lựa chọn mô hình hàm sản xuất và áp dụng các công cụ kinh tế lượng để
lượng hóa ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến năng suất và sản lượng nuôi tôm
nước lợ
Nội dung 4: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống cơ sở hạ
tầng và diện tích nuôi tôm nước lợ ven biển tại 2 tỉnh Thanh Hóa và Hà
Tĩnh :
- Đánh giá hiện trạng hệ thống cơ sở hạ tầng và hiện trạng diện tích;
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến cơ sở hạ tầng và diện tích (khả
năng mở rộng và thu hẹp) nuôi tôm nước lợ ven biển;
- Tăng ngập lụt vùng ven biển và ven sông;
- Xâm nhập mặn sâu hơn làm ảnh hưởng tới các hoạt động cung cấp nước,
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản…;
- Giảm khả năng tiêu thoát nước.
IMHEN (2011) cũng cho rằng “Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu là
việc xác định các ảnh hưởng do biến đổi khí hậu. Cần chú ý rằng ngoài các ảnh
hưởng bất lợi, biến đổi khí hậu có thể có các ảnh hưởng có lợi”.
Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận trong đánh giá tác động của biến đổi khí
17
hậu. Ví dụ như, theo Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) thì có 3
cách: Tiếp cận tác động (impact-based approach), tiếp cận tương tác
(interaction-approach) và tiếp cận tổng hợp (integrated approach). Mỗi cách tiếp
cận có những điểm mạnh và điểm hạn chế riêng. Việc lựa chọn cách tiếp cận
nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yêu cầu đánh giá, phạm vi,
khung thời gian và nguồn lực cho phép.
Trong khuôn khổ nhiệm vụ này, do việc đánh giá tác động của BĐKH đến
nuôi trồng thủy sản ven biển được xác định lên 2 nhóm khía cạnh chính là diện
tích và cơ sở hạ tầng; và năng suất và sản lượng nuôi trồng thủy sản ven biển.
Các nhóm đối tượng này cần những phương pháp đánh giá đặc thù riêng (kinh tế
học, công cụ không gian GIS, liệt kê, hồi cứu…) nhưng lại có mối quan hệ qua
lại với nhau nên phương pháp tiếp cận tổng hợp (integrated approach) được lựa
chọn để triển khai các phương pháp nghiên cứu cụ thể cho mỗi nhóm đối tượng
trong nhiệm vụ.
Cũng theo tài liệu của IMHEN (2011), quy trình đánh giá tác động của
BĐKH được chỉ ra bao gồm các bước:
Bước 1: Xác định các kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng;
Bước 2: Xác định các kịch bản phát triển;
Bước 3: Xác định các ngành và đối tượng ưu tiên và phạm vi đánh giá;
Bước 4: Lựa chọn và phân tích các công cụ đánh giá tác động biến đổi khí
hậu;
Mực nước biển
dâng
Diện tích nuôi
thủy sản
Nước mặn xâm nhập làm
giảm các vùng thủy sản nước
ngọt
Mất những vùng đất ngập
nước ven biển và sinh thái
cửa sông do sự thay đổi dòng
chảy và mực nước biển
Các hiện tượng
khí
hậu cực đoan
khác:
Bão, áp thấp
nhiệt đới…
Năng suất và
cơ sở hạ tầng
nuôi trồng và
đánh bắt thủy
hải sản.
Gây thất thoát thủy hải sản
nuôi trồng trong các ao hồ,
đầm…gẫy…
Tàn phá, làm hư hỏng các cơ
sở hạ tầng nuôi trồng thủy hải
sản, làm mất hoặc hư hỏng
tàu thuyền và các thiết bị
đánh bắt khác…
α
0
+
α
1
t
+
α
2
avgT
t
+
ε
t
,
ε
t
~
iid
(
0,
t
,
u
t
~
iid
(
0,
1
) (2)
Trong đó, mô hình (1) là thể hiện mối quan hệ giữa sản lượng cá măng
nuôi và nhiệt độ bề mặt nước biển trung bình năm và mô hình (2) là mối quan hệ
giữa sản lượng với nhiệt độ thấp nhất trong các tháng 1 – 3 hàng năm.
Trong các mô hình trên, Q là sản lượng cá măng, T là nhiệt độ bề mặt nước
biển trung bình năm và
T
123
là
nhiệt độ bề mặt nước biển thấp nhất trong các
tháng 1 – 3 hàng năm.
Kết quả nghiên cứu của Chen (2011) cho thấy, nhiệt độ bề mặt nước biển
trung bình năm không có ảnh hưởng ở mức ý nghĩa đến sản lượng cá măng.
Thay vào đó thì nhiệt độ thấp nhất trong các tháng mùa đông từ tháng 1 đến
tháng 3 hàng năm có tác động tiêu cực đáng kể đến sản lượng cá măng nuôi tại
khu vực nghiên cứu. Đây là một hướng nghiên cứu tiềm năng có thể xem xét,
chỉnh lý, phát triển để áp dụng vào việc lượng hóa các tác động của BĐKH đến
NTTS tại Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ này.
(công thức/mô hình 3)
Trong đó:
F
t
: Sản lượng hải sản (bao gồm cả nuôi trồng và khai thác hải sản), đơn vị
tính là tấn;
t: thời gian (tính theo năm)
lnP
t
: là giá trị logarit của giá xuất khẩu trung bình của các mặt hàng thủy
sản và các sản phẩm kèm theo;
P
t
: Giá xuất khẩu trung bình (USD/kg hải sản);
SST
t
: nhiệt độ bề mặt nước biển (tính bằng độ C);
Rain
ct
: Lượng mưa hàng năm trung bình của vùng ven biển Guyan (đơn vị
tính là mét).
Tuy nhiên, trong mô hình trên, các tác giả đã không xem xét đến một số
biến cũng có những tác động nhất định đến sản lượng hải sản như cường lực
khai thác (bao gồm cả số lượng và công suất tàu thuyền, số lao động nghề cá).
Lý do được giải thích là do đặc thù của quốc gia này có số lượng lao động nghề
cá chiếm tỷ trọng nhỏ trong sản xuất nông nghiệp (chỉ khoảng 10%). Ngoài ra,
do đặc điểm của nghề cá Guyana là 2/3 sản lượng đánh bắt và nuôi trồng là để
phục vụ cho xuất khẩu (chủ yếu sang Hoa Kỳ) nên nhóm tác giả đã đưa biến giá
hải sản xuất khẩu vào trong mô hình. Biến lượng mưa trung bình hàng năm của
vùng ven biển được sử dụng do các hoạt động khai thác và nuôi trồng hải sản
22
được giả định là không thay đổi theo mức quan sát cuối cùng trước đó. Các tác
giả cũng thực hiện đánh giá chất lượng của mô hình dự báo thông qua việc kiểm
định độ chính xác của các dự báo ngoài mẫu nghiên cứu.
Các thiệt hại/lợi ích từ BĐKH tác động lên sản lượng thủy sản sau đó được
tính toán thông qua việc so sánh giữa sản lượng thủy sản có được từ kịch bản
tham chiếu BAU với sản lượng tính toán trong các kịch bản A2 và B2.
Mô hình kết quả được hình thành như sau:
(công thức/mô hình số 5)
Từ mô hình kết quả ở công thức số (5) cho thấy, nếu các yếu tố tác động
khác trong mô hình được giữ nguyên không thay đổi thì sản lượng thủy sản tại
Guyana thể hiện xu hướng tăng theo thời gian, khoảng 1,2%/năm. Hơn thế nữa,
mô hình cũng thể hiện sự tiếp nối trong sản lượng giữa các năm khi sản lượng
năm trước liên quan đáng kể đến sản lượng năm sau (với hằng số quan hệ là
0,459). Điều này cho thấy các yếu tố không có mặt trong mô hình cũng có
những đóng góp đáng kể vào sản lượng thủy sản kể cả trong quá khứ và tương
lai, như: các chính sách thúc đẩy phát triển thủy sản của Chính phủ (chính sách
khoa học, công nghệ phục vụ cho thủy sản, chính sách hỗ trợ nghề cá, chính
sách tăng cường năng lực, chính sách mở rộng diện tích nuôi tại Guyana: từ 10,1
ha nuôi năm 1997 tới 1.619,4 ha năm 2006); sự tăng trưởng đáng kể của lĩnh
vực thủy sản trong những năm 1990 so với các năm 1980 do thị trường xuất
khẩu được khai thông và mở rộng, cũng như sự hình thành và phát triển của 02
công ty chế biến thủy sản lớn tại khu vực này (ECLAC, 2011).
Phương trình tại công thức số 5 cho thấy cứ 1% tăng lên trong giá xuất
khẩu mặt hàng thủy hải sản thì sẽ dẫn đến mức giảm 0,034% trong sản lượng
thủy sản. Điều này có thể giải thích là khi giá xuất khẩu tăng lên thì thu nhập
của ngư dân và người NTTS có thể tăng nên họ không có nhu cầu tiếp tục tăng
23
cường lực khai thác để tăng sản lượng khai thác, hoặc tăng sản lượng nuôi. Tuy
nhiên, mối liên hệ này không thực sự lớn. Mô hình số 5 cũng cho thấy khi lượng
các công cụ GIS để thể hiện kết quả tính toán tình trạng dễ bị tổn thương trên
bản đồ. Theo đó, những vùng ven biển là những vùng có mức độ dễ bị tổn
thương cao. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu trải rộng trong toàn bộ 6 lĩnh vực
của ngành nông nghiệp nên nghiên cứu này cũng chưa thể tập trung đánh giá sâu
cho riêng lĩnh vực NTTS.
Trong nghiên cứu của Phạm Quang Hà và nnk (2012) về tác động của
BĐKH lên sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản, nhóm tác giả đã sử dụng bộ chỉ số
bao gồm 3 yếu tố thành phần là chỉ số thiệt hại, chỉ số tổn thương và chỉ số dự
báo để đánh giá tác động của BĐKH đến nông nghiệp và thuỷ sản. Trong nghiên
cứu này, nhóm tác giả đã dùng mô hình DSSAT để xác định tương quan giữa
BĐKH với năng suất một số cây trồng chính tại các vùng sinh thái khác nhau.
Đối với lĩnh vực thuỷ sản, nhóm tác giả đã xây dựng mô hình hồi quy mô tả sự
tương quan giữa sản lượng tôm nuôi trong giai đoạn 1995-2010 của 7 vùng sinh
thái trên toàn quốc với các yếu tố tác động chính là nhiệt độ và lượng mưa. Với
vùng duyên hải Bắc Trung bộ, nhóm tác giả đã chọn 2 tỉnh Nghệ An và Thừa
Thiên – Huế để chạy mô hình tương quan giữa sản lượng tôm nuôi của tỉnh và
yếu tố nhiệt độ và lượng mưa trong giai đoạn nói trên. Kết quả tương quan cho
thấy, đối với yếu tố nhiệt độ, tại Nghệ An, sự thay đổi nhiệt độ các tháng trong
năm cũng là một nhân tố gây ảnh hưởng đến sản lượng tôm nuôi trung bình của
tỉnh trong giai đoạn nghiên cứu với R = 0,98; F = 4,69 > Fα = 0,18). Tương tự
như vậy với sản lượng tôm nuôi của tỉnh Thừa Thiên – Huế. Còn đối với yếu tố
lượng mưa thì kết quả chạy mô hình tương quan của các tác giả này không cho
thấy sự ảnh hưởng của lượng mưa lên sản lượng tôm nuôi của các tỉnh nghiên
cứu. Tuy nhiên, việc chạy mô hình tương quan trong nghiên cứu còn nhiều điểm
cần phải xem xét kỹ thêm vì các tác giả chưa xem xét đến các yếu tố cũng có tác
động lớn đến sản lượng NTTS trong giai đoạn vừa qua như yếu tố về công nghệ,
kỹ thuật nuôi, quá trình mở rộng diện tích, yếu tố thị trường, kinh tế xã hội,…
Chính vì vậy, kết quả chạy mô hình chưa lượng hóa được hết các tác động của
25