LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Viện Công nghệ
sinh học và môi trường, trường Đại học Nha Trang đã luôn quan tâm, chỉ bảo và
giảng dạy nhiệt tình, giúp cho tôi có được những kiến thức quý báu trong suốt
thời gian học tập tại trường.
Tôi xin dành lời cảm ơn sâu sắc nhất đến GS.TS Đặng Tuấn Đạt - Viện
trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên, Bác sĩ Phạm Công Tiến – Trưởng
Phòng Côn trùng và Kiểm dịch – Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên và ThS.
Nguyễn Thị Hải Thanh - Viện Công nghệ sinh học và Môi trường, trường Đại
học Nha Trang đã định hướng, dìu dắt và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời
gian tôi thực hiện đồ án tốt nghiệp này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể các anh chị Phòng Côn trùng – Kiểm
dịch Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Tây Nguyên đã tạo mọi điều kiện tốt nhất có thể cho tôi
thực hiện tốt đồ án tốt nghiệp này.
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, những người
luôn quan tâm giúp đỡ, động viên, đồng thời là chỗ dựa tinh thần rất lớn giúp tôi hoàn
thành tốt mọi công việc được giao trong suốt thời gian học tập và thực hiện đồ án vừa
qua.
Nha Trang, tháng 06 năm 2012
Sinh viên
Nguyễn Hoàng Hương Quỳnh i
ii
3.1 Sự biến đổi các điều kiện khí hậu của DakLak từ năm 2009 – 2011 31
3.2 Kết quả giám sát thành phần loài vật chủ - vector truyền bệnh dịch hạch 35
3.3 Các chỉ số giám sát của vật chủ - vector 37
3.4 Tác động của điều kiện khí hậu đến biến động số lượng vật chủ và vector 42
Chương 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
4.1 Kết luận 46
4.2 Kiến nghị: 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
PHỤ LỤC 51
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BC : Bọ chét
CSPP : Chỉ số phong phú
CSBC : Chỉ số bọ chét
TLN : Tỷ lệ nhiễm
DTTS : Dân tộc thiểu số
BHI : Môi trường Brain Heart Infusion
DOC : Môi trường Deoxycholate Natri
WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
VC : Vật chủ
Bảng 3.11: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của độ ẩm đến vật chủ vector 43
Bảng 3.12: Kết quả khảo sát ảnh hưởng của tổng lượng mưa đến vật chủ vector 44
vDANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ
HÌNH:
Hình 1: Vi khuẩn Yesinia pestis bắt màu đậm 2 đầu khi nhuộm Wayson 4
Hình 2: Bọ chét Xenopsylla cheopis (con cái) 9
Hình 3: Vòng đời phát triển của bọ chét. 10
Hình 4: Bản đồ dịch tễ bệnh dịch hạch trên toàn thế giới năm 1998 13
BIỂU ĐỒ:
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện nhiệt độ trung bình (
0
C) giữa các mùa từ năm 2009 –
2011 tại DakLak 31
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện độ ẩm trung bình (%) giữa các mùa từ năm 2009 – 2011
tại DakLak 33
Biểu đồ 3: Biểu đồ thể hiện tổng lượng mưa trung bình (mm) giữa các mùa từ năm
2009 – 2011 tại DakLak 34
Biểu đồ 4: Biểu đồ đánh giá ảnh hưởng của nhiệt độ đến vật chủ - vector 42
Biểu đồ 5: Biểu đồ đánh giá ảnh hưởng của độ ẩm đến vật chủ - vector 43
Vi khuẩn Yersinia pestis được cho là đã gây bệnh dịch hạch, giết chết hơn 20
triệu người vào thời Trung cổ. Theo các nhà nghiên cứu, căn bệnh này thường gặp ở
loài gặm nhấm trong đó bọ chét ký sinh là trung gian truyền bệnh. Bọ chét sinh sôi
nhanh khi nhiệt độ vượt quá 10 độ C, vào mùa xuân ấm áp là mùa lý tưởng để loài
động vật ký sinh này phát triển. Bệnh dịch hạch lây từ người sang người qua các vết
bọ chét đốt. 2
Sự thuận lợi của khí hậu nóng ẩm đã dẫn đến gia tăng số lượng loài côn
trùng này, hậu quả là nguy cơ lan truyền bệnh dịch hạch lớn hơn. Nghiên cứu cho
thấy nhiệt độ chỉ cần tăng 1
0
C vào mùa xuân cũng đủ dẫn đến tăng 59% căn bệnh
này. Quá trình nghiên cứu sự biến đổi khí hậu ở khu vực Tây Nguyên cho thấy
trong 30 năm qua (1980-2009) nhiệt độ trung bình năm tăng lên 0.5-0.7
0
C, lượng
mưa giảm khoảng 2% làm điều kiện tự nhiên của Tây Nguyên thêm khắc nghiệt, tần
suất thiên tai ngày càng nhiều với cường độ mạnh và khó dự đoán. Sự biến đổi này
ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng/giảm số lượng cá thể trong quần thể vật chủ vector
truyền bệnh dịch hạch. Tại các ổ dịch cũ – nơi bệnh dịch hoành hành trong một thời
gian dài mới có thể khống chế và dập tắt thì mầm bệnh vẫn còn tồn tại dai dẳng và
tiềm ẩn trong tự nhiên, một khi có sự xuất hiện của mầm bệnh kết hợp với điều kiện
khí hậu thuận lợi làm gia tăng nhanh chóng số lượng loài vật chủ và vector truyền
bệnh, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch trên diện rộng và khó kiểm soát gây hậu quả
nghiêm trọng và khó lường.
Những năm gần đây, tình hình bệnh dịch hạch biến động rất phức tạp và có
xu hướng lây lan qua các quốc gia. Dự báo trong những năm tới do biến động về
ngay dịch hạch thể phổi nguyên phát hay dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết nguyên
phát. Thể hạch cũng có thể diễn biến xấu qua thể phổi thứ phát hay thể nhiễm khuẩn
huyết thứ phát. Thể phổi nguyên phát hay thứ phát đều là nguồn truyền nhiễm nguy
hiểm lây lan qua những người tiếp xúc theo đường hô hấp. [Bộ Y Tế Tập san y học
dự phòng Tây Nguyên, 2011]
Bệnh dịch hạch tồn tại và lây lan trong tự nhiên được cấu thành bởi “bộ ba”
và thường gọi là “bộ ba” dịch hạch đó là: Vật chủ (các loài gặm nhấm, thú nhỏ),
Vector (bọ chét), mầm bệnh (Vi khuẩn Yersinia pestis).
1.1.1 Mầm bệnh – vi khuẩn dịch hạch (Yesinia pestis)
Mầm bệnh dịch hạch là vi khuẩn Yersinia pestis, thuộc họ vi khuẩn đường
ruột (Enterobacteriaceae)
Trực khuẩn dịch hạch được Alecxandre Yersin phân lập năm 1894 trong một
vụ dịch ở Hồng Kông. Năm 1896, Lahmann và Neumann đặt tên cho vi khuẩn này
là Bacterium pestis. Năm 1944, Van Loghen chuyển chúng sang giống Yesinia để
ghi công của A.Yesin. 4
1.1.1.1 Hình thái và tính chất bắt màu
Vi khuẩn dịch hạch là trực khuẩn ngắn, hình bầu dục nhỏ, kích thước 0,3 –
0,7x1-2µm, thuộc nhóm vi khuẩn gram âm, bắt màu đậm ở hai đầu khi nhuộm
Wayson hay xanh Methylen. Trong bệnh phẩm, vi khuẩn đứng riêng lẻ hoặc xếp đôi
có vỏ. Trong môi trường nuôi cấy ở 37
0
C Y.pestis có vỏ, nếu nuôi cấy ở 28
0
C thì
không có vỏ, không sinh bào tử và không di động.
0
C/1 phút. Các
yếu tố ngoại cảnh như ánh nắng mặt trời, nhiệt độ cao và các chất khử trùng sẽ diệt
được vi khuẩn nhanh chóng. Trong điều kiện khô hanh hoặc phơi nắng vài giờ vi
khuẩn có thể chết. Trong các tổ chức của xác chuột, ở đất ẩm, trong nước đá vi
khuẩn có thể tồn tại từ vài chục ngày đến vài tháng.
Trong điều kiện tự nhiên, chúng rất dễ bị tiêu diệt bởi các loại kháng sinh
thường dùng trong điều trị như Streptomycin, tetracycline, bactrim,
cloramphenicol
1.1.1.5 Kháng nguyên và các yếu tố gây bệnh
Bản thân vi khuẩn Y. pestis có các loại kháng nguyên sau:
- Kháng nguyên vỏ: còn gọi là kháng nguyên F1 (Fraction 1), có trong
điều kiện nuôi cấy vi khuẩn ở 37
0
C hoặc ở trong bệnh phẩm của cơ thể
đang bị bệnh. Bản chất là protein. Kháng nguyên vỏ giúp cho vi khuẩn
chống lại hiện tượng thực bào.
- Kháng nguyên V và W: Gồm một phức hợp gồm protein V và
lipoprotein W. Các kháng nguyên này liên quan đến khả năng chống lại
hiện tượng thực bào. 6
- Kháng nguyên thân: là kháng nguyên chung với các vi khuẩn họ đường
ruột.
- Độc tố: vi khuẩn Y. pestis có 2 loại độc tố:
+ Nội độc tố: bản chất là Lipopolysaccharide gắn liền với vách tế bào
vi khuẩn, gây ra các triệu chứng sốt trong bệnh dịch hạch.
+ Độc tố chuột (murine toxin) bản chất là protein như một ngoại độc
Chuột khuy có kích thước tương đối lớn, trọng lượng dao động từ 140 – 300
gram. Chiều dài thân khoảng 160 - 210mm, chiều dài đuôi khoảng từ 176 – 250mm
và thường dài hơn thân. Màu lông lưng sẫm hung, màu trắng xám ở bụng và đuôi
màu nâu thẫm.
Chuột khuy phân bố mọi sinh cảnh. Trong rừng, chúng làm tổ trên cây.
Ngoài đồng, chúng đào hang làm tổ ở bờ ruộng, mô đất, rơm rạ…Trong nhà, Rattus
rattus thường làm tổ trong ống tre hoặc cắn tranh trong mái nhà…
Tùy vào môi trường đang sống mà chuột khuy chọn nguồn thức ăn thích hợp.
Chúng sống khá gần người nên cũng ăn thức ăn của người: thóc, ngô, củ, mì, rau,
cá, thịt…Thường mùa khô ở ngoài đồng thiếu thức ăn, nước uống chuột thường vào
trong nhà, mùa có lúa ngoài đồng chúng lại di chuyển ra ngoài đồng. [Đặng Tuấn
Đạt, Phạm Văn Hậu và Cs, 2003]
1.1.2.3 Chuột cống (Rattus norvegicus)
Chuột cống là loài có thân hình lớn, chiều dài từ mũi đến đuôi của con
trưởng thành khoảng 439 – 500mm, trong đó đuôi bao giờ cũng ngắn hơn thân,
khoảng 190 – 238mm. Màu lông lưng thay đổi từ nâu xám đến xám đen. Bộ lông có
nhiều lông cứng mọc dài hơn lông thường. Lông bụng trắng đục, gốc màu xám.
Chuột cống thường hoạt động dưới đất, cống rãnh ẩm ướt. Loài chuột này là
chỉ thị cho môi trường kém vệ sinh. Di chuyển phạm vi 50m, đào hang, ăn tạp (20 -
30g thịt/ ngày). [Đặng Tuấn Đạt, Phạm Văn Hậu và Cs, 2003]
1.1.2.4 Chuột chù hay còn gọi là chuột xạ (Suncus murinus)
Là loài thú ăn côn trùng, sâu bọ là chính, có mõm nhọn, mũi và mắt nhỏ, tai
có nhiều ngăn phức tạp, đuôi có lông mọc dài, màu lông xám tro đậm. Chuột có
chất tiết có mùi hôi đặc biệt.
Chúng sống trên mặt đất, không leo trèo. Mặc dù là loài ăn côn trùng nhưng
chúng sống bám vào nhà. Trong nhà ở, chúng sống, trú ẩn và làm tổ trong các hang 8
9
các loài Rattus, nhưng cũng gặp trên các loài gặp nhấm khác sống trong và xung
quanh khu dân cư. Những nơi kín đáo có điều kiện vi khí hậu ổn định thích hợp cho
bọ chét Xenopsylla cheopis lưu giữ lâu dài Yersinia peptis trong điều kiện nhiệt độ
tối ưu như: nhiệt độ không khí vào khoảng gần 24
0
C và không quá 27
0
C. Trên 27
0
C sự lưu hành của của dịch ngưng lại do Yersinia peptis biến mất nhanh chóng
trong ống tiêu hóa của bọ chét Xenopsylla cheopis với cơ chế là sự gia tăng tính
thực bào của bạch cầu được hút vào cùng với Yersinia peptis trong máu của vật chủ
đang nhiễm bệnh [23]. Tìm hiểu của Macchiavello ở Peru cho thấy Xenopsylla
cheopis mang Yersinia pestis trong các hang ổ vật chủ bỏ không, lâu đến 6 tháng
[Tikhomirov E. và Cs, 1999]. Nghiên cứư tại labo dịch hạch Viện VSDT Tây
Nguyên cho thấy thời gian từ khi Xenopsylla cheopis nhiễm Yersinia pestis - truyền
bệnh cho đến khi chết là trên 50 ngày ở nhiệt độ 25
0
C – 28
0
C [Barnes A.M,
Karrtman L. và Cs, 1960]. Báo cáo lần thứ tư của ban chuyên viên dịch hạch của Tổ
Chức Y Thế Giới nói bọ chét nhiễm Yersinia pestis có thể sống và mang mầm bệnh
đến 1 năm trong điều kiện vi khí hậu thích hợp [Velimirovic B. và Cs, 1974].
Hình 2: Bọ chét Xenopsylla cheopis (con cái)
Các yếu tố tự nhiên gồm khí hậu nóng, ẩm, vị trí địa lý v.v cần thiết cho sự
sinh tồn và phát triển của mầm bệnh, vật chủ và vector là điều kiện có tính chất
quyết định cho sự lưu truyền và phát triển bệnh dịch hạch trong thiên nhiên. dịch
hạch ở các loài gặm nhấm phát triển được khi mật độ gặm nhấm tăng cao. Theo
thường quy giám sát và phòng chống dịch hạch của Bộ Y tế thì khi chỉ số phong
phú của chuột >7% được coi là báo động, trên 15% là nghiêm trọng. Ở vùng dịch
hạch nếu chỉ số bọ chét ký sinh trên chuột lớn hơn 1 được coi là nguy hiểm; lớn hơn
1,5 là báo động và trên 4 là nghiêm trọng. Đặc biệt, trong vùng dịch khi đã có mầm
bệnh thì tỷ lệ nhiễm bọ chét càng cao thì nguy cơ có thể bùng dịch càng lớn.
Các yếu tố xã hội:
Ảnh hưởng của một số nghề nghiệp có tiếp xúc với gặm nhấm hoặc với hang
ổ của chúng như các thủ kho lương thực, người săn bắn, các nhân viên y tế đặc biệt
là y tế cơ sở và khoa truyền nhiễm.
Điều kiện kinh tế, hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn, ở chen chúc nhau và
những nơi điều kiện vệ sinh hoàn cảnh yếu kém, còn những tập quán lạc hậu, không
cải thiện được điều kiện ăn ở, phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe đây là những điều
kiện thuận lợi cho vật chủ, vector dịch hạch tồn tại và phát triển khi có mầm bệnh
xuất hiện thì nguy cơ mắc bệnh là khó tránh khỏi.
1.2 Tình hình bệnh dịch hạch trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình dịch hạch trên thế giới
Bệnh dịch hạch đã được biết đến và là mối đe dọa lớn cho cho sự tồn tại và
phát triển của con người từ cổ xưa. Kinh thánh đã nói đến sự có mặt của dịch hạch
1320 năm trước công nguyên. Trong hai thiên niên kỷ vừa qua có lúc dịch hạch lây
lan rộng. Có ba vụ đại dịch được ghi nhận:
Đại dịch lần thứ nhất vào thế kỷ VI, 542 - 546, làm tử vong gần 100 triệu
người ở châu Á, châu Phi và châu Âu. 12
13Hình 4: Bản đồ dịch tễ bệnh dịch hạch trên toàn thế giới năm 1998
Châu Phi:
Bắt đầu thập niên 1980 có sự gia tăng dần số mắc dịch hạch ở châu lục này
và có xu hướng gia tăng.
Từ 1980-1997 có 19349 trường hợp mắc với 1781 tử vong (tỷ lệ tử vong
9.2%), chiếm 66.8% số mắc và 75.8% số tử vong thế giới. Thời kỳ này dịch hạch
ghi nhận ở 13 quốc gia là Angola, Botswana, Cộng hoà dân chủ Công gô, Keny,
libya, Madagascar, Malawi, Mozambique, Nam phi, Uganda, Tanzania, Zambia và
Zimbabwe. Trong đó, Cộng hoà dân chủ Công gô và Madagascar bệnh xảy ra liên
tục hàng năm. Trong 15 năm qua, chỉ 2 nước Madagascar và Tanzania chiếm 62.5%
số bệnh nhân dịch hạch toàn châu lục này.
Châu Á:
Từ 1954 đến đầu thập kỷ 1980, hầu hết số mắc dịch hạch trên toàn thế giới là
ở châu Á và riêng 2 quốc gia là Việt Nam và Myama, năm nào cũng ghi nhận bệnh
nhân dịch hạch. 14
Từ 1980 đến 1997, dịch ghi nhận ở 7 nước là: Trung Quốc, Ấn Độ,
Kazakhan, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Mônglia, Myama và Việt Nam. Giai
đoạn 1966 đến 1972, dịch lớn xảy ra ở Việt Nam chiếm hầu hết số mắc trên thế
giới. Những vụ dịch lớn khác như ở Ấn Độ trong thập niên 1950 đã ảnh hưởng lớn
đến tổng số mắc toàn cầu
Tại Ấn Độ, sau những vụ dịch lớn xảy ra vào nữa đầu thế kỷ 20 và sau đó lại
xảy ra vào năm 1954 và 1963. Sau đó gần 30 năm yên lặng, đến đầu tháng 8 năm
6.2%), chiếm 82% số mắc của toàn châu lục
Nghiên cứu chu kỳ dịch hạch xảy ra khác nhau, thời kỳ yên tĩnh có thể kéo
dài 10 năm hoặc hơn sau khi xuất hiện đột ngột dịch trên người và động vật. Dịch
hạch ở Tanzania bùng phát vào năm 1991 với 129 trường hợp; Peru từ cuối 1992
đến giữa 1994: 1.151 bệnh nhân và gần như đồng thời với Ấn Độ, Mozambic cũng
ghi nhận được dịch hạch thể hạch sau hơn 15 năm vắng lặng. dịch hạch ở những nơi
này có tỷ lệ chết cao nhưng không làm chấn động thế giới như Ấn Độ, điều đó có lẽ
do Ấn Độ các phương tiện truyền thông đại chúng phát triển và sự giao lưu với thế
giới rất mạnh mẽ. Vì vậy rất có thể chỉ một con chuột nhiễm dịch hạch hay một
người đang ủ bệnh sẽ gây ra hoặc mang đến một nơi khác một ổ dịch mới.
Theo thông báo dịch của Tổ chức y tế thế giới, trong những năm gần đây,
dịch vẫn xảy ra thường xuyên tại nhiều nơi trên thế giới. Năm 1999, dịch xảy ra ở
Ohangwena, Namibia từ ngày 6 tháng 4 đến ngày 5 tháng 5 có 39 người mắc (6
trường hợp trong số này được khẳng định bằng vi sinh vật) có 8 trường hợp tử
vong.
Bởi thế, không thể nói rằng sẽ loại trừ dịch hạch trong tương lai gần. Cũng
không thể buông lỏng sự giám sát dịch hạch. Năm 1995 ở Madagascar bắt đầu
nghiên cứu phòng chống dịch hạch toàn diện và tổ chức mạng lưới nghiên cứu vấn
đề này trong các Viện Pasteur (Acip Peste). Tại Trung Quốc mặc dù tình hình dịch
hạch đã được khống chế mạnh mẽ nhưng hệ thống giám sát phòng chống chủ động
bệnh dịch này vẫn được đẩy mạnh và giải quyết chặt chẽ. Những năm gần đây Hội
nghị quốc tế về nghiên cứu và phòng chống dịch hạch vẫn được Tổ chức y tế thế
giới tổ chức thu hút được nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu về lĩnh vực
này tham dự. 16
1.2.2 Tình hình bệnh dịch hạch trong nước:
Ở Việt Nam, dịch hạch xâm nhập vào từ 1898 tại Nha Trang. Dưới thời Pháp
17
Dịch bùng phát lan tràn ở miền Nam. Sau đó tiếp tục lưu hành trên diện rộng
ở các tỉnh ven biển miền Trung, Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ. Chính quyền
miền Nam được Mỹ giúp đỡ để thực hiện chương trình quốc gia phòng chống dịch
hạch vào cuối thập niên 1960. Đầu thập niên 1970 đã khống chế được dịch một
bước, nhưng nhìn chung dịch vẫn nặng nề với quy mô lớn.
Từ 1975 đến 1990:
Sau 1975 dịch bùng phát, số mắc - chết tăng vọt, có năm dịch lan ra các tỉnh
thành phía Bắc:
Hà Nội : 1977,1978,1986, 1987
Hải Phòng : 1978, 1986.
Bắc Thái : 1978.
Hải Hưng : 1978, 1986.
Hà Nam Ninh : 1986.
Thanh Hóa : 1980.
Nghệ Tĩnh : 1978, 1979.
Thời kỳ thu hẹp - chỉ còn lưu hành tại một số ổ dai dẳng 1991 - 2000
Số mắc - chết có chiều hướng giảm và phạm vi dịch thu hẹp dần. Cả nước
chỉ còn hai tỉnh DakLak và Gialai ghi nhận tại một số ổ dai dẳng
1.2.3 Bệnh dịch hạch ở DakLak
Bệnh dịch hạch xuất hiện ở ĐakLak vào thời kỳ dịch bùng phát lan tràn ở
miền Nam. Bệnh nhân dịch hạch đầu tiên ghi nhận vào tháng 11-1964 tại khu vực
Hoà Bình (xã Hòa Thắng - Tp Buôn Ma Thuột hiện nay). Tháng 12-1964 có 8 bệnh
nhân, tử vong 4 tại Lạc Thiện (Huyện Lak). Tháng 01-1965 có 1 trường hợp tử
vong, bệnh nhân là một thương gia người Hoa tại Ban Mê Thuột. Số liệu dịch hạch
ghi nhận từ tháng 1 đến tháng 8 năm 1965.
người
mắc
bệnh
Số
người
tử
vong
(a)
(1) (2) (3) (1) (2) (3)
(1) (2) (3)
1964 9
1976
2640 113 1988 2171 27
1965 539
1977
2653 29 1989 427 29
1966 785
1978
1845 29 1990 799 23
1967 746
1979
1597 26 1997 108 5
1974 176 0
1986
968 28 1998 47 1
1975
(b)
86 2
1987
1425 40 1999 157 3 2000 23 0
(a): Để trống là không có số liệu
(b): Số liệu không đầy đủ