ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
2
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam đang trong giai đoạn Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước.
Cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống của người dân ngày càng được cải
thiện. Các nhu cầu về vật chất và tinh thần cũng tăng theo, yêu cầu về cơ sở vật
chất, hạ tầng cũng luôn được nâng cao. Tạo nên một số vấn đề nhất là suy thoái
môi trường.
Tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) nói riêng,
vấn đề môi trường chưa được quan tâm nhiều. Mặc dù môi trường chúng ta đang
sống ngày càng bò suy thoái trầm trọng. Các kênh rạch trên đòa bàn Thành phố
hiện nay hầu hết đều ô nhiễm nặng nề. Theo kết quả quan trắc nửa đầu năm
2004 của Chi cục Bảo vệ Môi trường TP.HCM cho thấy chỉ số ô nhiễm tại các
kênh rạch tăng đột biến, trong đó chỉ số ô nhiễm vi sinh cao gấp 100 lần so với
năm 2003. Đây là dạng ô nhiễm rất quan trọng, gây hại trực tiếp đến con người
và hệ động thực vật sống quanh nó. Nguyên nhân sinh ra ô nhiễm vi sinh chính là
do tiếp nhận nguồn chất thải không được xử lý. Nguồn chất thải này rất đa dạng.
Trong những năm gần đây, cùng với tốc độ phát triển kinh tế ở mức độ khá
cao, vấn đề ô nhiễm môi trường tại các kênh rạch trên đòa bàn Thành phố đã và
đang là sự quan tâm của cộng đồng dân cư và các cấp quản lý. Một trong số đó là
kênh Nhiêu Lộc- Thò Nghè (NL-TN). Ngày nay, ít ai biết được kênh NL-TN từng
một thời là con kênh đẹp nhất nhì của Thành phố. Người Pháp, ấn tượng trước vẻ
đẹp và sự trong sạch của kênh, đã đặt cho nó cái tên “Arroyo de l’Avalanche-
Kênh Tuyết đổ”. Trong quá trình phát triển của đô thò Sài Gòn-TP.Hồ Chí Minh,
kênh NL-TN luôn đóng vai trò quan trọng hình thành nên bộ mặt cảnh quan của ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
4
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ-XÃ HỘI
- CƠ SỞ HẠ TẦNG TRÊN LƯU VỰC KÊNH NHIÊU LỘC-
THỊ NGHÈ
2.1. TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC KÊNH NL-TN
2.1.1. Vò trí đòa lý và lưu vực
Kênh NL-TN nằm trong khu trung tâm của nội thành TP.HCM, chảy qua
đòa bàn 5 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, Quận 1, Quận 3 và Bình Thạnh.
Kênh NL-TN bắt đầu từ Quận Tân Bình chảy đến Quận Phú Nhuận (bờ
Bắc), Quận 3 (bờ Nam và một phần bờ Bắc), Quận 1 (bờ Nam), Q.Bình Thạnh
(bờ Bắc) và kết thúc ở sông Sài Gòn (cạnh xưởng sửa chữa tàu Ba-son).
Lưu vực kênh NL-TN có diện tích 3.324 ha nằm trên đòa bàn 7 Quận nội
thành (Quận 1, Quận 3, Quận 10, Quận Phú Nhuận, Quận Bình Thạnh, Quận Gò
Vấp và Quận Tân Bình) tập trung dân cư với mật độ cao vì bao gồm 2 khu vực
chính: khu Thành phố cũ (Quận 1, Quận 3 và 1 phần Quận Phú Nhuận, Quận Tân
Bình, Quận Bình Thạnh sát dọc kênh) có dáng dấp đô thò với các đặc trưng: mật
độ đường giao thông cao, tương đối có quy hoạch và khu Thành phố mới phát
triển được hình thành do làn sóng dân cư từ nông thôn đổ về, do có tính chất tự
phát nên hạ tầng kỹ thuật rất kém, không đáp ứng các tiêu chuẩn đô thò. Quá
trình phát triển của Thành phố đã mở rộng trung tâm ra đến gần như toàn bộ lưu
người/ha.
Tình trạng ô nhiễm và bồi lấp của kênh hiện nay đã gây ảnh hưởng trầm
trọng đến việc thoát nước của lưu vực, cụ thể các lưu vực dọc kênh từ đường
Phạm Văn Hai kéo dài xuống cầu Lê Văn Sỹ thường xuyên bò ngập khi mưa, các
khu vực ngã tư Bảy Hiền, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, 3 Tháng 2, khu rạch
Miếu Nổi-Quận Bình Thạnh cũng thường ngập lụt và rút rất chậm sau khi mưa do
các chi lưu của kênh bò lấn chiếm, bồi lấp.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
6ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
7
Bảng 2.1: Diện tích và dân số các lưu vực thoát nước của TP.HCM
Lưu vực Diện tích (ha) Dân số (người) Mật độ dân số
(người/ha)
Nhiêu Lộc-Thò Nghè 3.324 1.200.000 361
Tàu Hủ-Bến Nghé-Đôi-
Tẻ
3.065 1.500.000 489
Tân Hóa-Lò Gốm 2.447 540.000 221
Tây Sài Gòn I và II 1.315 100.000 76
Tham Lương- Bến Cát 1.500 190.000 127
GVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
8
2.2.1.1. Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí ít thay đổi giữa các tháng trong năm, biên độ dao động
trong khoảng 5-7
0
C, nhiệt độ trung bình năm là 27
0
C. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa
ban ngày và ban đêm lại tương đối lớn (khoảng 7-10
0
C vào mùa khô và 5-9
0
C
vào mùa mưa).
Bảng 2.2: Thống kê về nhiệt độ tại TP.HCM
Mô tả Nhiệt độ,
0
C
Nhiệt độ trung bình năm 27,0
Nhiệt độ cao nhất đã từng được ghi nhận (vào năm
1912)
40,0
Nhiệt độ thấp nhất đã từng được ghi nhận (vào năm
1937)
13,8
Dao động nhiệt độ trong tháng nóng nhất (tháng 4) 24-35
tháng 2 là tháng khô nhất. Cường độ mưa theo tần suất 5 năm và 10 năm được
ước tính lần lượt là 80 và 91mm/giờ. Lượng mưa theo tần suất 5 năm và 10 năm
được ước tính lần lượt là 114 và 128mm.
Lượng mưa phân bố không đồng đều giữa các vùng:
¾ Vùng Bắc và Đông Bắc: 1900-2000mm/năm
¾ Vùng trung tâm Thành phố: 1600-1900mm/năm
¾ Vùng Nam và Đông Nam: 1200-1300mm/năm
Bảng 2.4: Các đặc trưng chế độ mưa (Trạm đo mưa Tân Sơn Nhất)
Các yếu tố đặc trưng chế độ mưa Trò số
Lượng mưa trung bình năm 1.979 (mm)
Lượng mưa lớn nhất năm 2.718 (mm)
Lượng mưa nhỏ nhất năm 1.553 (mm)
Số ngày mưa trung bình năm 154 (ngày)
Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất 338 (mm) (tháng 9)
Số ngày mưa trung bình tháng lớn nhất 22 (ngày) (tháng 9)
Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất 3 (mm)
Lượng mưa cực đại 177 (mm)
Lượng mưa tháng cực đại 603 (mm)
Nguồn: Công ty thoát nước đô thò
2.2.1.3. Lượng nắng - mây
Lượng nắng hàng năm trung bình 6,2 giờ mỗi ngày, với lượng nắng tối đa
là 8 giờ trong tháng 2 và 3 tối thiểu là 5 giờ vào tháng 10. Lượng mây thay đổi
trung bình từ 65-80% vào tháng 7, 8, 9 và 40% vào tháng 2. Sấm sét, giông gió
thường xảy ra vào mùa mưa, khoảng 6, 7 ngày/tháng nhưng hiếm xảy ra trong
những tháng còn lại. ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DI
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
11
2.2.1.6. Tốc độ gió
Bảng 2.6: Tốc độ gió (m/s) trung binh tháng (Trạm đo Tân Sơn Nhất)
Tháng trong năm
Đặc
trưng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Cả
năm
Tốc
độ TB
(m/s)
2,5 2,8 3,2 3,2 2,7 3,1 3,2 3,3 2,9 2,5 2,3 2,3 2,8
Hướng
gió
chính
ĐB ĐN ĐN ĐN N TN TN TTN T T B B
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn TP.HCM
Nhìn chung, gió trong khu vực cũng có quy luật tuân theo hai mùa chính là
Nhuận, cao độ đòa hình từ 10,0m-2,5m, độ dốc đòa hình lớn, nguồn thoát là
đoạn giữa kênh nên có thể xây dựng các tuyến thoát nước với độ dốc lớn,
thoát nước tốt.
¾ Vùng thấp nằm dọc theo tuyến kênh, có cao độ đòa hình nhỏ hơn 2,5m, các
tuyến kênh thoát nước chòu ảnh hưởng nặng của thủy triều, gần như là
vùng chứa của toàn bộ lưu vực khi mưa do kênh thoát nước không kòp. Vì
vậy, thường bò ngập và 1 thời gian dài sau mưa vẫn trong tình trạng rút
chậm.
(Nguồn: Công ty Thoát nước Đô thò)
2.2.3. Đặc điểm về đòa chất công trình
Lưu vực kênh NL-TN được phủ bởi lớp trầm tích Pleitoxen có nguồn gốc
sông, thành phần cấu tạo chủ yếu là cát và sét… Ở những vùng thấp dọc kênh, do
quá trình đô thò hóa một cách tự phát, trên bề mặt có thêm các lớp phủ rất đa
dạng bao gồm: cát, rác, xà bần hoặc đất, đất đỏ đắp thêm nhằm mục đích tôn
nền.
Có nhiều hố khoan thăm dò đòa chất trên toàn lưu vực cũng như dọc kênh ở
các độ sâu khác nhau vào mùa khô cũng như mùa mưa cho thấy phân bố đòa tầng
từ trên xuống dưới như sau:
¾ Lớp đất đắp có độ dày từ 1,0-2,0m gồm: đất sét, cát, đất bột lẫn nhiều đá
vụn, rác và xác thực vật. Nguồn gốc hình thành lớp đất này do quá trình
dân cư lấn kênh tạo thành, chỉ xuất hiện ở các vùng thấp, trũng dọc kênh.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
13
¾ Lớp đất sét lẫn cát bột, nhiều cát, màu xám, ở trạng thái mềm, dẻo (CL)
bề dày trung bình từ 2-3m, ở độ sâu từ 2-7m. Cường độ chòu tải R
CT
/s đến 200m
3
/s.
¾ Sông Sài Gòn: bắt nguồn từ Campuchia, chảy qua vùng đồi núi phía Tây
Bắc huyện Lộc Ninh (Bình Phước) ở cao độ 200-250m. Sông Sài Gòn dài
256km, diện tích lưu vực 5.560km
2
. Đoạn chảy qua đòa bàn tỉnh từ Dầu
Tiếng đến Lái Thiêu dài 143km. Ở thượng lưu sông hẹp, nhưng đến Dầu
Tiếng, sông mở rộng 100m và đến thò xã Thủ Dầu Một là 200m. Đoạn
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
14
chảy qua Thành phố có bề rộng từ 225-370m, chiều sâu đến 20m. Sông
này hợp lưu với sông Đồng Nai ở cửa Cát Lái, đoạn sông hợp lưu này gọi
là sông Nhà Bè chảy thẳng ra biển. Lưu lượng bình quân 85m
3
/s, độ dốc
của sông nhỏ chỉ 0,7%. Hệ thống các chi lưu của sông Sài Gòn rất nhiều và
có lưu lượng trung bình vào khoảng 54m
3
/s. Sông Sài Gòn là sông có độ
dốc nhỏ, lòng vẫn hẹp nhưng sâu, ít khu chứa do vậy thủy triều truyền vào
rất sâu và mạnh. Vào mùa khô, triều lan truyền lên trên cầu Bưng Bàn (khi
chưa có hồ Dầu Tiếng). Do vậy, chế độ thuỷ văn, thuỷ lực của kênh rạch
trong Thành phố chòu ảnh hưởng chủ yếu của sông Sài Gòn.
Kênh NL-TN có chiều dài rạch chính là 9.470m và các chi lưu:
1, Quận Bình Thạnh và một phần Quận Gò Vấp với diện tích khoảng 3.324 ha,
dân số khoảng 1.200.000 người. Cao độ mặt đất thay đổi như sau: cao nhất là
Quận Gò Vấp, Quận 1, Quận 3: 6-9m đến thấp nhất ở ven kênh từ 1,5-2m, chiều
dài kênh khoảng hơn 10km, chiều rộng thay đổi từ Nhiêu Lộc đến Thò Nghè là
10-20-30m, độ sâu từ 2-3-4m. Diện tích mặt nước khoảng 10ha. Khối lượng nước
về mùa cạn lúc chân triều khoảng 700.000m
3
. Rạch cũng chòu ảnh hưởng chế độ
thủy triều sông Sài Gòn truyền vào nên trong ngày chiều nước chảy cũng thay đổi
hai lần. Nhưng do kênh ngắn, nông, nhỏ hẹp, uốn khúc, lòng rạch lại bò lấn chiếm
nhiều bởi nhà dân nên ảnh hưởng của thủy triều bò suy giảm nhanh dọc theo kênh
rạch. Nước từ sông Sài Gòn trong quá trình triều lên chỉ vào được tới cầu Kiệu
cách sông 4,5m. Khi triều đã rút hết ở sông Sài Gòn thì mực nước ở đầu nguồn
Nhiêu Lộc vẫn cao hơn mức bình thường.
2.2.4.2. Thủy văn
Chế độ thủy văn của sông Sài Gòn chòu ảnh hưởng rõ rệt của thủy triều
đến tận Bến Than, cách hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai 60km. Lưu
lượng thủy triều của sông Sài Gòn ở vàm kênh NL-TN (15km thượng nguồn của
hợp lưu sông Sài Gòn và sông Đồng Nai), vào khoảng ± 3.000m
3
/s. Ở Phú Cường
(45km thượng nguồn vàm kênh NL-TN), lưu lượng thủy triều khoảng ± 1.500m
3
/s.
Lưu lượng thủy triều của kênh NL-TN ở vàm kênh vào khoảng ±75m
3
/s.
Ở lưu vực thấp của hệ thống sông Đồng Nai, dòng chảy thường xuyên bò
ảnh hưởng bởi thủy triều từ cửa sông và các dòng chảy từ thượng nguồn, được
điều tiết bởi các công trình thủy lợi.
có những tính chất, những đặc trưng riêng về độ lớn và cường suất biến đổi hàm
lượng vật chất gây mức độ độc và nó sẽ quyết đònh nên tính chất cơ bản về nguồn
nước của kênh NL-TN.
Hình 2.2: Mô hình sự hình thành dòng chảy trên kênh NL-TN
Ghi chú: Nguồn nước từ nước mưa
Thủy triều và dòng triều
Nguồn nước từ nước thải
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
17
Vào mùa mưa, nhờ lượng nước mưa lớn, kênh bớt ô nhiễm hơn do nước
thải được pha loãng và đưa ngay ra sông Sài Gòn. Kênh bò thu hẹp và bồi lấp nên
khi mưa lớn, lượng nước mưa không thoát ngay ra sông mà kéo dài trong nhiều
giờ, nhờ đó lưu lượng dòng kênh vẫn lớn hơn mùa khô giảm bớt ô nhiễm. Tuy
nhiên, bùn lắng đọng trên kênh vẫn phân hủy tạo mùi hôi. Kết quả đo đạc lưu
lượng trên kênh cho thấy:
¾ Lưu lượng mùa khô: tỉ lệ với biên độ triều (thay đổi theo ngày, tháng và vò
trí mặt cắt đo đạc). Càng xa cửa rạch mực nước đỉnh triều và biên độ mực
nước càng giảm. Do đó, nước từ cầu Kiệu đến vàm tiêu thoát nước dễ dàng
hơn đoạn bên trên.
¾ Lưu lượng mùa mưa: khu vực phía Bắc của lưu vực, mạng lưới thoát nước
còn thưa thớt, phần lớn nước thấm giúp điều hòa một phần lưu lượng.
Lượng nước mưa rất lớn so với nước thải (gấp hơn 20 lần) tạo dòng chảy
mạnh trong kênh. Tuy nhiên, dòng chảy này không đủ sức cuốn theo toán
bộ lượng cặn lắng đọng trên kênh, vẫn có sự phân hủy chất hữu cơ ngay
trên kênh gây ô nhiễm với mức độ nhẹ hơn mùa khô.
nước chảy vao. Cho nên ở một số kênh rạch thì khối lượng nước bẩn chưa chảy ra
khỏi cửa kênh thì đã bò nước đẩy trở vào làm cho tình hình ô nhiễm càng trầm
trọng thêm (vì tính chất bán nhật triều- hai lần nước lớn và hai lần nước ròng).
Thời gian quá ngắn chỉ 6 giờ nên lượng nước không kòp chảy ra ngoài sông chính
và trên kênh rạch còn tồn tại vùng giáp nước. Chính vì vậy nơi đây thường bò ô
nhiễm rất nặng.
Ảnh hưởng của thủy triều lên khá xa trên 2 sông: sông Đồng Nai lên đến
Trò An cách biển 150km; sông Sài Gòn lên đến Dầu Tiếng cách biển 180km.
Cùng với thủy triều là sự xâm nhập mặn, vào mùa mưa ảnh hưởng của thủy triều
đối với độ mặn trên sông thấp nhưng về mùa khô, do lưu lượng sông giảm nhiều,
ảnh hưởng rất lớn.
Trên kênh NL-TN, do lòng rạch nhỏ hẹp, nông, bò bồi lấp, lấn chiếm bởi
nhà dân và chất thải, bò cản trở bởi rau, bèo và do cao độ đòa hình thay đổi nhanh,
ảnh hưởng của thủy triều suy giảm mạnh, nước từ sông Sài Gòn theo triều lên chỉ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
19
đến được cầu Kiệu (cách sông 2,5km), phần còn lại của kênh bò dồn ứ bởi nước
thải gây ô nhiễm lòng kênh.
2.2.4.4. Vùng ngập úng
Tình trạng của hệ thống bò hư hỏng nhiều năm qua là do kết quả của việc
thiếu duy tu. Hơn 50 vùng bò ngập cục bộ kéo dài từ 1-2 ngày vào mùa mưa trong
toàn Thành phố. Kiểm tra sơ bộ có 8 khu vực lớn (gồm nhiều vùng ngập nhỏ bên
trong) nằm trong lưu vực kênh NL-TN.
Một số nguyên nhân gây ra hiện tương ngập úng tại lưu vực kênh:
¾ Do nước triều cường: mức triều cường làm nước sông tràn ngập các vùng
đòa hình thấp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình ngập. Hệ thống đường
lâu năm và chỉ phù hợp với lưu lượng tải trọng giao thông thấp.
¾ Do hệ thống cống hiện hữu bò quá tải và thiếu cống thoát nước: hệ thống
thoát nước chưa hoàn chỉnh, trong khi một số đường thoát nước quá tải, bò
hư hỏng. Một số hầm ga, đường cống thoát, kênh rạch bò tắt nghẽn bởi rác,
đất cát nên ngập úng xảy ra bất cứ khi nào có mưa lớn.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
21ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
22
Bảng 2.7: Một số tuyến đường chính chòu ảnh hưởng thường xuyên của việc ngập
úng (tháng 5-tháng 9- 2007)
Đánh giá mức độ
STT Tên đường Quận Số lần
ngập
Nhẹ Vừa Nặng
1 Cao thắng 3 1 1
2 3 tháng 2 10 3 3
GVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
23
2.3. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI TRÊN LƯU
VỰC KÊNH NL-TN
2.3.1. Hiện trạng về dân số và phân bố dân cư trên lưu vực
Theo số liệu thống kê, trong lưu vực kênh NL-TN có 1.200.000 nhân khẩu
cư trú (không kể số khách vãng lai và cư trú bất hợp pháp), chiếm 30,7% dân số
nội thành. Mật độ dân số toàn khu bình quân là 361 người/ha, phân bố không
đồng đều trên các Quận và Phường. Tập trung đông dân cư nhất là các khu nhà ở
thấp tầng thuộc Quận 3, Quận 10, Quận Tân Bình, Quận Phú Nhuận với mật độ
lên đến 500-1000người/ha (cao nhất là phường 12-Quận Phú Nhuận với mật độ
1.016người/ha); ở mức thấp với mật độ từ 90-200người/ha (thấp nhất là phường 8-
Quận Phú Nhuận với 91người/ha) là các khu vực biệt thự trung tâm Quận 3 và
các khu quân sự đang chuyển đổi thành khu dân cư hoặc các khu bán nông thôn
thuộc Quận Tân Bình; mức trung bình là các khu còn lại của lưu vực với mật độ
khoảng 200-500người/ha. (Nguồn: Viện Quy hoạch xây dựng và thiết kế Đô thò)
Số người sống trên và ven kênh chủ yếu là tạm cư, không có hộ khẩu chính
thức, có nguồn gốc là dân hồi cư từ các vùng kinh tế mới, dân từ các đòa phương
khác do điều kiện kinh tế khó khăn đổ về Thành phố. Số dân này thường có thu
nhập thấp và không ổn đònh từ các công việc lao động giản đơn không cần tay
nghề. Đây là một khía cạnh cần quan tâm khi tổ chức tái đònh cư.
2.3.2. Hiện trạng CN-TTCN tại lưu vực kênh NL-TN
Một trong những nguyên nhân làm cho lưu vực kênh NL-TN bò ô nhiễm là
do sự tập trung của các cơ sở CN-TTCN xung quanh kênh. Các cơ sở này phân
tán rộng khắp trên lưu vực với quy mô vừa và nhỏ, thay đổi rất linh hoạt (về số
lượng và mặt hàng sản xuất) theo nhu cầu thò trường, chủ yếu là các ngành sản
xuất TTCN trong lónh vực tiêu dùng và thực phẩm. Các cơ sở sản xuất hầu hết
¾ Tình trạng vệ sinh môi trường và an toàn lao động trong sản xuất.
2.3.2.1. Hiện trạng sản xuất TTCN tại khu vực
TTCN là một thế mạnh sản xuất của khu vực đang xét. Đặc điểm của quá
trình sản xuất như quy trình công nghệ, nguyên liệu, sản phẩm,… đều mang tính
đặc trưng của mỗi nền sản xuất vừa và nhỏ, quy mô gia đình và mang tính thủ
công cao. Hầu hết các loại hình TTCN đều có mặt trong khu vực này và tạo nên
một bức tranh khá đa dạng của nền sản xuất TTCN của TP.HCM. Hầu hết các cơ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP SVTH: NGUYỄN HẠ DIGVHD: TS.TRƯƠNG THANH CẢNH
25
sở sản xuất đều đã tồn tại từ lâu. Đây cũng là nguồn sống chính của nhiều người
dân trong khu vực, trong số này có một số ngành sản xuất mang tính chất cha
truyền con nối.
Quy mô và doanh thu trong các cơ sở sản xuất ngày càng được nâng cao và
song song với điều này là việc đổi mới dần công nghệ đặt ra cho hầu hết các
ngành sản xuất, trước tiên là các ngành như dệt nhuộm, nhựa… Tuy vậy, nhìn
chung nền sản xuất TTCN ở khu vực vẫn còn đang ở trong tình trạng lạc hậu và
không đồng bộ. Phần lớn các hoạt động sản xuất vẫn còn là thủ công, sử dụng
nhiều sức lao động của người dân trong khu vực. Các cơ sở sản xuất TTCN trong
khu vực vẫn còn là nguồn giải quyết công ăn việc làm chính cho phần lớn nhân
dân tại đây. Máy móc thiết bò đã lạc hậu, cũ kỹ. Nhiều nơi sản xuất ra các sản
phẩm kém chất lượng. Cùng với sự phát triển chung, nhiều cơ sở sản xuất TTCN
đã bắt đầu hình thành nên các xí nghiệp tư nhân vừa và nhỏ dưới dạng các công
ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hoặc doanh nghiệp tư nhân (DNTN) có khả
năng cạnh tranh với các xí nghiệp lớn của quốc doanh. Tiêu biểu trong số này là
một số cơ sở xí nghiệp như: xí nghiệp may Hòa Phú, công ty dệt may Gia Đònh,
công ty TNHH song mây Đức Thành, DNTN Hiệp Lực, công ty TNHH Sơn Kha,
Bình)
Công ty dệt may Gia Đònh (189 Phan Văn Trò, Phường 11- Quận Bình
Thạnh)
Nhà máy dệt chăn len Bình Lợi (438 Nơ Trang Long, Phường 13- Quận
Bình Thạnh)
Công ty Đồng Tấn Phát (131 Lê Lợi- Quận Gò Vấp)
Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Nhật Nam (12/18C Phan Huy Ích,
Phường 12- Quận Gò Vấp)
Ngành công nghiệp thực phẩm
Các nhà máy, xí nghiệp tiêu biểu trong khu vực là:
Công ty Cổ phần dầu thực vật Tường An (85/5 Phan Huy Ích- Quận Tân
Bình)
Công ty Cổ phần Việt Phong (Lô II, cụm 1 đường số 1, nhóm CNII- KCN
Tân Bình)