đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước mặt tỉnh quảng ngãi - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
NGUYỄN KIM TUYÊN
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Môi trường
Mã số:608502
LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. Huỳnh Thị Lan Hương
2. PGS.TS. Phạm Thị Hương Lan

Hà Nội – 2013

i MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH SÁCH BẢNG v

DANH SÁCH HÌNH vii

MỞ ĐẦU ix

CHƯƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN TỈNH QUẢNG NGÃI 1

1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN 1

1.1.1. Vị trí địa lý 1

1.1.2. Địa hình địa mạo 2

1.2. CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI 4

1.2.1. Tài nguyên đất 4

1.2.2. Tài nguyên nước 4



1.5.1. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế của tỉnh 15

1.5.2. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn 18

1.5.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng 23

ii 1.5.4. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 30

CHƯƠNG 2. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 33

2.1. BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG NHỮNG NĂM
GẦN ĐÂY 33

2.1.1. Sự thay đổi của nhiệt độ 33

2.1.2. Sự thay đổi của lượng mưa 37

2.2. LỰA CHỌN KỊCH BẢN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 39

2.2.1. Các kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam 39

2.2.2. Các kịch bản biến đổi khí hậu cho Tỉnh Quảng Ngãi 41

CHƯƠNG 3. ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC
MẶT TỈNH QUẢNG NGÃI 45



3.4.1. Xác định các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu cho từng lĩnh vực cụ thể
85

3.4.2. Nâng cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực 86

3.4.3. Tăng cường hợp tác quốc tế 87

iii 3.4.4. Tích hợp, lồng ghép vấn đề biến đổi khí hậu vào các chiến lược, chương
trình, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành và địa
phương 87

KẾT LUẬN 89

TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
iv DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH Biến đổi khí hậu
NBD Nước biển dâng
MIKE Bộ mô hình thuỷ lực và thuỷ văn của Viện Thuỷ lực Đan Mạch
MIKE - NAM Mô đun tính toán dòng chảy từ mưa trong bộ mô hình MIKE
MIKE 11 -GIS Mô hình tính toán ngập lụt

Bảng 1.2. Danh sách các hiểm họa thiên tai thường xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi 14

Bảng 1.3. Giá trị sản xuất các ngành nông lâm ngư nghiệp 15

Bảng 1.4. Giá trị sản xuất công nghiệp, tỷ đồng 16

Bảng 2.1. Trị số phổ biến của độ lệch tiêu chuẩn (S) và biến suất (Sr) nhiệt độ trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 34

Bảng 2.2. Nhiệt độ trung bình của tháng I, VII, Năm các nửa thập kỷ 35

Bảng 2.3. Xu thế biến đổi nhiệt độ tại một số trạm điển hình ở tỉnh Quảng Ngãi 35

Bảng 2.4. Xu thế biến đổi nhiệt độ mùa tại một số trạm điển hình ở tỉnh Quảng Ngãi
35

Bảng 2.5. Chênh lệch nhiệt độ (
0
C) giữa thời kỳ (2000-2010) và thời kỳ (1980-
1999) 36

Bảng 2.6. Trị số phổ biến của độ lệch tiêu chuẩn (S) và biến suất (Sr) lượng mưa
tại Quảng Ngãi 37

Bảng 2.7. Lượng mưa trung bình các nửa thập kỷ mùa khô, mùa mưa, mưa năm . 37

Bảng 2.8. Xu thế biến đổi đặc trưng lượng mưa mùa tại một số trạm điển hình tại
tỉnh Quảng Ngãi 38



Bảng 3.7. Kết quả tính toán cân bằng nước giai đoạn hiện tại theo các vùng. 68

Bảng 3.8. Hệ số dòng chảy của một số lưu vực tại trạm thủy văn theo các kịch bản
73

Bảng 3.9. Diện tích ngập lớn nhất theo các kịch bản 77

Bảng 3.10.Tóm tắt tác động của lũ lụt 79

Bảng 3.11. Tóm tắt ảnh hưởng của bão đến Quảng Ngãi 80

Bảng 3.12. Danh sách các khu mỏ khai thác khoáng sản bị tác động do ngập lụt 82

Bảng 3.13. Diện tích đất nông nghiệp có khả năng bị ngập lớn nhất theo các kịch
bản 84

Bảng 3.14. Tóm tắt tác động của BĐKH và biện pháp ứng phó theo các lĩnh vực . 87
vii DANH SÁCH HÌNH
Hình 1.1. Vị trí địa lý tỉnh Quảng Ngãi 2

Hình 1.2. Diện tích rừng bị thiệt hại giai đoạn 2000 – 2010 13

Hình 2.1. Xu thế biến đổi các đặc trưng nhiệt độ tại trạm Ba Tơ 36

Hình 3.12. Dòng chảy tính toán và thực đo tại trạm An Chỉ 1980-1999 67

Hình 3.13. Bản đồ thiếu nước tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn hiện tại 70

Hình 3.14. Bốc hơi tiềm năng theo các kịch bản tại trạm Ba Tơ 71

Hình 3.15. Biến đổi của bốc hơi tiềm năng so với kịch bản nền tại trạm Ba Tơ 71

Hình 3.16. Bốc hơi tiềm năng theo 71

Hình 3.17. Biến đổi của bốc hơi tiềm năng so với kịch bản nền tại trạm Quảng Ngãi
71

Hình 3.18. Dòng chảy năm tại trạm Sơn Giang theo các kịch bản 73

Hình 3.19. Dòng chảy năm tại trạm An Chỉ theo các kịch bản 73

viii Hình 3.20. Dòng chảy mùa lũ tại một số trạm theo các kịch bản 74

Hình 3.21. Dòng chảy mùa cạn tại một số trạmtheo các kịch bản 74

Hình 3.22. Biến đổi dòng chảy tháng theo các kịch bản 76

Hình 3.23. Tổng diện tích ngập lớn nhất theocác kịch bản 78

Hình 3.24. Thay đổi của diện tích ngập so với trận lũ năm 1999 78


giảm đi trong tháng 7, 8 và tăng lên trong các tháng 9, 10, 11.Mưa phùn giảm đi rõ
rệt ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ trong một số năm gần đây.
Trung bình hàng năm có khoảng 4,7 cơn bão và áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng
đến nước ta. Ba thập kỷ gần đây, số cơn bão ảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh
hưởng cũng có xu hướng tăng. Bão thường xuất hiện muộn hơn và dịch chuyển
xuống vĩ độ thấp hơn.
Trong thời gian gần đây, lũ lụt lớn xảy ra ở các tỉnh miền Trung và Đồng
bằng sông Cửu Long có xu thế tăng hơn nửa đầu thếkỷ trước.
Tần suất và cường độ El-Nino tăng lên rõ rệt trong những năm cuối thế kỷ
trước và những năm đầu thế kỷ này. Trong 5 thập kỷ gần đây hiện tượng ENSO
ngày càng có tác động mạnh mẽ đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu trên nhiều
khu vực của Việt Nam.
x Nhận thức được tính cấp bách của các vấn đề liên quan đến BĐKH, Việt
Nam đã có những hoạt động tích cực trong những năm qua. Ở cấp độ quốc tế, Việt
Nam đã tham gia vào các công ước quốc tế như Công ước Khung của Liên hiệp
quốc về BĐKH (UNFCCC) vào tháng 6 năm 1992, phê chuẩn tháng 11 năm 1994
và Nghị định thư Kyoto vào tháng 11 năm 1998 và phê chuẩn tháng 9 năm 2002.
Việt Nam cũng đã triển khai nhiều hoạt động ứng phó với BĐKH được lồng
ghép vào Luật Bảo vệ Môi trường, Chương trình nghị sự Agenda 21, Chiến lược
quốc gia về quản lý môi trường biển và ven biển, Kế hoạch hành động quốc gia về
DDSH và BĐKH, Chiến lược quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm
2020… Trong thời gian gần đây, nhiều Bộ, ngành, địa phương đã và đang triển khai
các chương trình, dự án nghiên cứu tình hình diễn biến và tác động của BĐKH đến
tài nguyên, môi trường, sự phát triển KT-XH, đề xuất và bước đầu thực hiện các
giải pháp ứng phó.
Đã có những biểu hiện ngày càng rõ nét tác động của BĐKH đến nhiều lĩnh
vực khác nhau ở Quảng Ngãi. Trong những năm gần đây, lũ lụt, hạn hán xảy ra trên

- Phía Nam : Giáp tỉnh Bình Định.
- Phía Bắc : Giáp tỉnh Quảng Nam.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 515.295,46 ha (theo thống kê đất đai tỉnh
Quảng Ngãi năm 2011) chiếm 1,7% diện tích tự nhiên của cả nước.
Tỉnh Quảng Ngãi có 14 đơn vị hành chính cấp huyện bao gồm 1 thành phố, 6
huyện đồng bằng, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo, với 184 xã, phường, thị
trấn.Dân số năm 2010 là 1,22 triệu người, chiếm 1,6% dân số của cả nước, mật độ
dân số 237 người/km
2
.
Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung có hệ
thống giao thông thuận lợi như đường sắt Bắc - Nam, Quốc lộ 1A chạy qua tỉnh, và
tuyến Quốc lộ 24 nối tỉnh Quảng Ngãi với Kon Tum, Tây nguyên, Lào và Đông
Bắc Thái Lan, cùng các tuyến giao thông quan trọng khác đã giúp lưu thông hàng
hóa, phát triển kinh tế, giao lưu văn hóa giữa các vùng, miền trong nước và quốc tế.
Quảng Ngãi có bờ biển dài hơn 130 km có nhiều cửa biển lớn như Sa Kỳ,
Cửa Đại, Mỹ Á, Sa Huỳnh .v.v.
Vùng biển Quảng Ngãi là nơi tiếp giáp của hai dòng hải lưu nóng và lạnh
nên có lượng phù du phong phú, với diện tích ngư trường tương đối lớn, nguồn hải
sản đa dạng. Do có sự lồi lõm, gấp khúc, nhiều mũi đá cứng nhô ra biển, chia cắt bờ
thành những vũng, vịnh. Đặc biệt có cảng nước sâu Dung Quất, tại đây hình thành
một khu kinh tế đang hoạt động có hiệu quả trong đó nhà máy lọc dầu số 1 Dung
Quất là hạt nhân. Khu kinh tế hình thành là điều kiện thuận lợi để Quảng Ngãi phát
triển kinh tế toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cách bờ biển 25
km là đảo Lý Sơn với chiều dài 5,5 km, chiều ngang chỗ rộng nhất là 2,5 km, diện
2 tích trên đảo khoảng 10 km
2

ven biển có độ cao từ 10 - 30 m. Đồng bằng của tỉnh Quảng Ngãi có đặc điểm
không liên tục mà bị phân cách bởi các sông, đồi núi xen kẽ, vừa thể hiện tính chất
của đồng bằng phù sa và đồng bằng gò đồi.
1.1.2.3. Vùng đồi
Đây là dạng địa hình chuyển tiếp giữa núi và đồng bằng chiếm khoảng 18 %
diện tích tự nhiên toàn tỉnh, độ cao từ 30 - 300 m. Độ dốc tương đối lớn, lớp phủ
thực vật kém, khả năng xói mòn lớn.
1.1.2.4. Vùng núi cao trung bình
Nằm ở phía Tây và Tây Nam của tỉnh, chiếm 56% diện tích tự nhiên.Độ cao
từ 300 - 1.800 m. Địa hình này bị phân cách mạnh, độ dốc lớn, quá trình xói mòn,
rửa trôi xảy ra mạnh. 4 1.2. CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI
1.2.1. Tài nguyên đất
Kết quả điều tra xây dựng bản đồ đất thuộc hệ thống phân loại FAO-
UNESCO, đất của tỉnh Quảng Ngãi được chia làm 9 nhóm đất chính với 25 đơn vị
đất và 68 đơn vị đất phụ, cụ thể như sau:
- Nhóm đất cát biển
- Nhóm đất mặn
- Nhóm đất phù sa
- Nhóm đất Glây
- Nhóm đất xám
- Nhóm đất đỏ
- Nhóm đất đen
- Nhóm đất nứt nẻ
- Nhóm đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá

trắc, huỳnh, hương, sến, kiền kiền, gụ, mật, lim, sao cát, muồng đen, dầu, dổi gõ, chỏ,
chênh vênh… Giá trị sản lượng khai thác năm 2010: 185.760 m
3
. Ngoài các loại cây
lấy gỗ, dưới tán rừng còn có nhiều loại tre, nứa, song mây, đót…làm nguồn nguyên
liệu cho công nghiệp chế biến. Giá trị sản lượng năm 2010 của các sản phẩm này là
197.075 triệu đồng (theo giá hiện hành). Rừng còn có nhiều loại cây dược liệu có giá
trị như: Sa nhân, hà thủ ô, ngũ gia bì, sâm,…
Rừng Quảng Ngãi còn là nơi sinh sống của nhiều loại thú quý như gấu,
hươu, nai, khỉ, trăn và hàng trăm loài chim quý.
Ngoài ra, Quảng Ngãi còn có 163.320,21 ha rừng trồng (trong đó rừng
phòng hộ là 34.720,51 ha và rừng sản xuất là 128.599,70 ha), phân bố rải rác ở hầu
hết các huyện trong tỉnh.
Hiện nay diện tích đất trống đồi núi trọc của tỉnh Quảng Ngãi còn khoảng
52.800 ha, đây là điều kiện thuận lợi cho các dự án trồng rừng nguyên liệu trên địa
bàn tỉnh.
1.2.4. Tài nguyên biển
Quảng Ngãi có tiềm năng lớn về tài nguyên biển, bờ biển dài trên 130 km,
với 6 cửa lạch lớn nhỏ như Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy, cửa Lở, cửa Mỹ Á, cửa Sa
Huỳnh, tàu thuyền có thể ra vào thuận lợi. Diện tích mặt nước có thể khai thác đánh
bắt thủy, hải sản khoảng 11.000 km
2
. Qua điều tra ngư học vùng biển Quảng Ngãi
nói riêng và vùng Duyên hải miền Trung nói chung đã phát hiện trên 160 loại cá
(trong đó cá nổi chiếm 60% và cá đáy 40%).
Biển Quảng Ngãi còn có nhiều hải sản quý có giá trị kinh tế cao như cua
Huỳnh Đế, Sò, Điệp, Hải Sâm,…
Dọc bờ biển của tỉnh Quảng Ngãi có nhiều lợi thế phát triển về du lịch như
bãi tắm Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Mũi Ba Tân Gân, Khe Hai là những cảnh đẹp, vào mùa
6

Dân tộc kinh 88,6%, dân tộc Hre 8%, dân tộc Cor 1%, dân tộc KaDong và một số
dân tộc ít người khác.
Các dân tộc Hre, Cor và KaDong sinh sống chủ yếu ở các vùng Sơn Tây,
Sơn Hà, Trà Bồng, Tây Trà, Ba Tơ, Minh Long. Tuy số lượng ít nhưng vốn văn hóa
của các dân tộc ít người ở Quảng Ngãi tương đối hấp dẫn.
Về âm nhạc: dân tộc ít người đã tạo được nhiều thể loại âm nhạc và múa với
các làn điệu dân ca phổ biến như Ca chòi, Ca lêu, Xà ru, A giới, Cà lù, Cor nghé…
Nhạc cụ gồm nhiều loại như: bộ chiêng hòa âm với trống, đàn gió, đàn nước,
đàn Brang, được sử dụng khá phổ biến trong ngày cưới, ngày ngã rạ, lễ đâm trâu,
mừng nhà mới, tiếp khách, lễ tạ thần, cầu an,…
7 Vùng đất này còn có bề dày lịch sử với nền văn hóa lâu đời, với nhiều dấu
tích cổ xưa: Di chỉ Gò Đá (xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh), Di chỉ Gò Vàng (xã Sơn
Kỳ, huyện Sơn Hà) thuộc thời kỳ đồ đá cũ, Di chỉ Long Thạnh (xã Phổ Thạnh,
huyện Đức Phổ) thuộc sơ kỳ đồng thau, Di chỉ Bình Châu (huyện Bình Sơn) thuộc
trung kỳ đồng thau; Văn hóa Sa Huỳnh thuộc thời kỳ đồ sắt là những di sản văn hóa
cần được giữ gìn và tôn tạo.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa: Đây là Lễ hội của người dân huyện đảo Lý
Sơn nhằm tôn vinh những người con nơi đây đã ra đi khám phá và bảo vệ vùng biển
Hoàng Sa,Trường Sa góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam.
Quảng Ngãi vốn trước đây còn là một trong những trung tâm tiếp nhận
truyền bá Phật giáo của miền Trung. Nhiều chùa chiền được xây dựng rất sớm và
mang tính đặc trưng riêng của khu vực, điển hình là chùa Thiên Ấn (Sơn Tịnh
1695), chùa Ông (huyện Tư Nghĩa, 1821), chùa Bà (Trà Xuân, huyện Trà Bồng),…
1.3. THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NGÃI
Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng với sự phát
triển chung của cả nước, tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước phát triển đáng kể, tỷ
trọng công nghiệp dịch vụ trong cơ cấu kinh tế ngày được nâng cao, cuộc sống của

cầu oxy hóa học vượt tiêu chuẩn cho phép).
1.3.3. Môi trường không khí
Đối với khu vực nông thôn chất lượng không khí còn tốt, chưa có dấu hiệu ô
nhiễm. Trong khi đó không khí tại các tuyến quốc lộ, các khu vực khai thác vật liệu
xây dựng thông thường, cũng như trong khu vực thành phố đã có dấu hiệu ô nhiễm
bụi và tiếng ồn ở mức độ nhẹ. Nguyên nhân là do sự phát triển về kinh tế đã kéo
theo sự gia tăng đột biến về các phương tiện giao thông, đặc biệt là xe máy và ô tô
trên địa bàn tỉnh.
1.3.4. Chất thải rắn
Hàng năm trung bình có khoảng 63.000 tấn chất thải rắn phát sinh, dự báo
trong những năm đến lượng chất thải rắn trên địa bàn tỉnh tăng nhanh (năm 2010:
320.400 tấn/năm; 2015: 473.436 tấn/năm; 2020: 626.904 tấn/năm). Hoạt động xử lý
chất thải rắn mới đáp ứng thu gom, xử lý khoảng 70-75% lượng rác thải phát sinh
trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi; 20 - 35 % lượng chất thải rắn phát sinh trên địa
bàn các huyện.
Như vậy: Hiện trạng về môi trường của tỉnh Quảng Ngãi trong những năm
qua tuy chưa ở mức độ ô nhiễm nghiêm trọng nhưng cũng đã ở tình trạng báo động.
Nước thải, khí thải từ các khu công nghiệp, từ các khu đô thị xử lý chưa đạt chuẩn
hoặc chưa được xử lý thải ra môi trường, rác thải chưa được thu gom, xử lý triệt để.
9 Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, đặc biệt là các
ngành công nghiệp nặng phát triển tại Khu kinh tế Dung Quất cũng như quá trình
đô thị hóa diễn ra nhanh sẽ đặt công tác môi trường trở thành một trong những vấn
đề trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
1.4. CÁC LOẠI HÌNH THIÊN TAI THƯỜNG XUẤT HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NGÃI
1.4.1. Bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, lũ quét
Theo số liệu thống kê (Bảng 1.1), trung bình hàng năm ở tỉnh Quảng Ngãi có

thường kéo theo hiện tượng mưa lớn gây ngập lụt, nhiều nơi trong tỉnh phải đối mặt
với cảnh ngập nước, tắc đường, nứt núi và nhiều khu vực đứng trước nguy cơ bị cô
lập.
Trung bình mỗi năm, trên các sông lớn thuộc tỉnh Quảng Ngãi có 5- 7 đợt lũ
lớn trên báo động cấp II. Có những cơn lũ vượt báo động cấp III từ 1 – 2,6m; những
trận lũ kép nhiều đỉnh, kéo dài nhiều ngày gây ngập lụt nghiêm trọng cho vùng thấp
trũng ở đồng bằng và ven biển. Lũ, lụt là loại hình thiên tai nguy hiểm nhất, có mức
độ ảnh hưởng nghiêm trọng và gây thiệt hại lớn nhất về dân sinh, kinh tế - xã hội
của tỉnh. Một số trận lũ lớn, điển hình như lũ lịch sử xảy ra vào cuối tháng XI, đầu
tháng XII năm 1999; trận lũ xảy ra vào cuối tháng X, đầu tháng XI năm 2003; trận
lũ giữa tháng XI năm 2007; trận lũ ngày 29-30/IX/2009 (do ảnh hưởng của bão số
9).
Mưa lớn thường gây ra lũ quét làm nhiều tuyến đường từ trung tâm huyện đi
các xã Sơn Long, Sơn Lập, Sơn Tân, Sơn Tinh, Sơn Mùa bị sạt lở nặng với
khốilượng đất đá lên đến hàng trăm ngàn mét khối, giao thông bị ách tắc nghiêm
trọng. Lũ quét thường phát sinh bất ngờ, xảy ra trong phạm vi hẹp, nhưng rất khốc
liệt và gây ra thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Thiên tai lũ quét hiện nay
chưa dự báo được, công tác phòng tránh hết sức khó khăn.
Sạt lở, gió mùa đông bắc, dông, lốc, sét
1.4.1.1. Sạt lở
Hiện nay tình hình sạt lở bờ sông, bờ biển diễn ra khá phức tạp (60 điểm có
nguy cơ cao), tuỳ vào đặc điểm từng hệ thống sông, cấu tạo địa chất từng vùng mà
tốc độ sạt lở cũng khác nhau, tốc độ sạt lở bình quân từ 5 ÷ 10 m/năm, có những
vùng lên đến 20 m/năm với tổng chiều dài các đoạn sạt lở là: 65,25 km bờ sông;
45,3 km bờ biển. Khu vực ảnh hưởng trên lưu vực 4 hệ thống sông lớn của Quảng
Ngãi: Trà Bồng, Trà Khúc, Trà Câu, Sông Vệ và khu vực ven biển thuộc địa bàn
các huyện: Sơn Hà, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, thành phố Quảng Ngãi, Mộ
Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, Ba Tơ.
Do tập tục của nhân dân trong vùng thường sống tập trung ở ven sông, ven
biển (càng xuôi về hạ lưu, dân cư tập trung còn đông, nhất là ở vùng đồng bằng)

Hạn hán là hiện tượng thời tiết khô không bình thường ở một khu vực do
trong một thời gian dài không có mưa hay mưa không đáng kể. Ở tỉnh Quảng Ngãi,
có hai thời kỳ hạn hán và cháy rừng xảy ra trong năm là tháng VII và tháng VIII.
Do đặc điểm điều kiện địa hình, điều kiện địa chất thủy văn, điều kiện nguồn nước,
nên các khu vực thường có nguy cơ xuất hiện hạn cao nhất trên địa bàn tỉnh Quảng
Ngãi, là:
12 - Vùng chưa có công trình thủy lợi (hoặc có nhưng là công trình thủy lợi nhỏ,
nằm ở vùng núi có độ dốc lớn nên gây khó khăn cho việc tưới tự chảy) như huyện
Sơn Tây, Sơn Hà, Trà Bồng, Tây Trà, Minh Long, Ba Tơ và huyện đảo Lý Sơn.
- Vùng phía Tây các huyện đồng bằng bao gồm Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư
Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ và Nghĩa Hành (thường có cao trình cao, khó khống chế
tưới tự chảy từ những công trình thủy lợi đã có và số lượng công trình phục vụ tưới
động lực lại ít, cục bộ)
- Vùng phía đông (giáp biển) của huyện Bình Sơn, Mộ Đức và Đức Phổ do
nhiễm mặn nguồn nước khi nắng hạn kéo dài, do địa hình dạng bán sơn địa; vùng
phía Nam huyện Đức Phổ (do địa hình đồi, dốc cao).
Ngoài ra, những vùng tưới từ các công trình đập dâng nước (loại hình công
trình phụ thuộc nguồn nước đến trực tiếp tại chân công trình) cũng có nguy cơ cao
xảy ra hạn nếu xuất hiện thời tiết khô nóng, ít mưa sẽ không có nguồn nước bổ sung
dòng chảy. Đó là những diện tích tưới ở các huyện miền núi, vùng tưới của đập
Thạch Nham (vùng tưới của đoạn cuối kênh chính Bắc và Nam), những vùng có
lượng mưa tương đối thấp như huyện Đức Phổ, các huyện miền núi và huyện Lý
Sơn.
Hạn hán không xảy ra thường xuyên hàng năm mà có chu kỳ lặp lại 2 đến 3
năm một lần. Do chưa dự báo được hạn hán trên các hệ thống sông nên công tác
phòng chống còn bị động, khi hạn hán xảy ra sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng.
Hạn hán kéo dài cộng với các đợt gió Tây Nam khô nóng tạo ra nguy cơ

Cuối cùng, nhiệt độ gia tăng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng
của các loài gây hại mới, hoặc làm thay đổi tần suất và mức độ thiệt hại gây ra bởi
các loài sâu bệnh đến khu rừng.Điều này sẽ gây ảnh hưởng xấu đến các hoạt động
trồng rừng và nuôi rừng tại tỉnh Quảng Ngãi.
1.4.3. Xâm nhập mặn, nước biển dâng
1.4.3.1. Xâm nhập mặn
Độ mặn trong nước sông vùng ven biển Quảng Ngãi là do độ mặn từ nước
biển xâm nhập vào qua các cửa sông khi triều lên. Mức độ nhiễm mặn trên từng con
sông phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Độ mặn của nước biển ven bờ (vùng biển Quảng
Ngãi có độ mặn lớn nhất trung bình vào khoảng 32‰); Chế độ triều vùng cửa sông
(theo số liệu khảo sát, vùng ven biển có chế độ nhật triều và bán nhật triều không
đều; Biên độ triều vùng cửa sông trong mùa khô trung bình từ 1,2 – 1,3 m, lớn nhất
0
20
40
60
80
100
120
140
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Bị cháy (ha)
Bị chặt phá (ha)

Trích đoạn Mụhỡnh MIKE 11 –GIS Khai thỏc khoỏng sản và sửdụng đất vựng hạ lưu Trà Khỳc Nõng cao nhận thức và phỏt triển nguồn nhõn lực
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status