1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
Hanoi Pedagogical University N
o
2
NGUYỄN THANH MINH
NGUYỄN THANH MINH
Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy
Vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạyhọc tích cực trong môn học
học tích cực trong môn họcLắp đặt điện
Lắp đặt điện
Chuyên đề: Lý luận và phương pháp dạy học
Chuyên đề: Lý luận và phương pháp dạy học
Thái nguyên,12-2010
Thái nguyên,12-2010
PHỤ LỤC
Nội dung Trang
I . Quan niệm về dạy học tích cực 2
II. Một số PP và kĩ thuật dạy học tích cực 6
1. Phương pháp dạy học tích cực 6
2. Một số kỹ thuật dạy học 6
nhận thức, nếu xét dưới góc độ triết học là thái độ, cải tạo của chủ thể nhận
thức đối với đối tượng nhận thức. Tức là tài liệu học tập được phản ánh vào
não của HS phải được biến đổi, được vận dụng linh hoạt vào các tình huống
khác nhau để cải tạo hiện thực và cải tạo cả bản thân.
1
Kharlamop I.F (1970), Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào, NXB Giáo dục, Hà Nội,
tr.43
3
Nếu xét dưới góc độ tâm lí học thì tích cực nhận thức là mô hình tâm lý
hoạt động nhận thức. Đó là sự kết hợp giữa các chức năng nhận thức, tình
cảm, ý chí, trong đó chủ yếu là nhận thức của HS. Mô hình này luôn luôn biến
đổi, tuỳ theo nhiệm vụ nhận thức cụ thể mà các em phải thực hiện . Chính sự
biến đổi liên tục bên trong của mô hình tâm lý hoạt động nhận thức là đặc
trưng của tính tích cực nhận thức ở HS. Sự biến đổi này càng năng động bao
nhiêu thì càng thể hiện tính tích cực ở mức độ cao bấy nhiêu.
Tính tích cực của HS có hai mặt tự phát và tự giác. Mặt tự phát của tính
tích cực biểu hiện ở sự tò mò, hiếu kì, hiếu động, sôi nổi trong hoạt động. Đó
chính là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh của trẻ em, cần coi trọng và bồi
dưỡng trong quá trình dạy học. Còn mặt tự giác thể hiện ở óc quan sát, hành
vi tự phê phán, nhận xét trong tư duy, tò mò khoa học. Đây chính là trạng thái
tâm lí tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, có hoạt động để chiếm lĩnh
đối tượng đó.
Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy. GV có
thể căn cứ vào những biểu hiện sau (theo các cấp độ từ thấp lên cao) để phát
hiện tính tích cực của HS:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết
khác nhau về một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
- Chú ý học tập, hăng hái tham gia phát biểu ý kiến, ghi chép…
5
vai trò chủ thể, tính tích cực của HS cũng không phải nhỏ. Nói như
GS.Nguyễn Đình Chú : “với thầy giáo, việc thuyết giảng cho ra thuyết giảng,
thuyết giảng để học sinh nhớ đời bài giảng, không đáng gọi là chủ thể ư ?”.
Và từ việc nhớ đời bài giảng ấy các em có động cơ, hứng thú học tập tốt hơn,
có khát khao trí tuệ, có ý chí quyết tâm học lên hoặc phấn đấu học tập, rèn
luyện nối nghiệp người thầy từng ghi lại trong các em ấn tượng sâu sắc về
một bài giảng “để đời” ấy chẳng nhẽ không được gọi là tích cực ? Nhưng
ngay cả khi HS chỉ ngồi nghe thầy giáo thuyết giảng thì điều đó cũng không
hoàn toàn có nghĩa là thiếu tích cực hay không có sự tích cực trong nhận thức.
R.Beach và J.Marshall - hai nhà khoa học người Mỹ là của Đại học Orlando
(Florida) lý giải : “trong phương thức thơ, chúng ta giữ một vai trò khán giả”,
“trong mỗi trường hợp, vai trò của người đọc hay của người nghe chỉ là vai
trò “người chứng kiến” – một người không dính líu trực tiếp vào hành động”
và “Trong khi chúng ta giữ vai trò khán giả trong lúc đọc, chỉ chứng kiến chứ
không tham gia tích cực vào những sự kiện trình bày trong văn học, thì kinh
nghiệm của việc đáp ứng văn học không thụ động chút nào” bởi theo hai ông
“chính vì thế (tức là chính vì không “dính líu trực tiếp vào hành động”) mà lại
có vị trí rất tốt để suy nghĩ, đánh giá và thích thú với bản thân kinh
nghiệm đó”. Tức là, một khi GV thuyết giảng thành công thì hiệu lực của nó
cũng sẽ gây nên những “chấn động” bên trong ở HS, khiến các em có những
vận động trí tuệ cảm xúc tích cực. Mà cái tích cực bên trong này mới là quan
trọng và thể hiện hiệu quả giáo dục cao. Tất nhiên, như thế cũng lại phải tránh
một cực đoan khác là lạm dụng các PP dùng lời.
Tóm lại, vẫn là Kharlamôp trong Phát huy tính tích cực học tập của học
sinh như thế nào viết : “Không nên đặt đối lập những nguyên tắc dạy học cổ
điển với những nguyên tắc lý luận dạy học gọi là mới. Mỗi nhóm nguyên tắc
đó có một ý nghĩa bản chất, và nếu suy nghĩ sâu sắc hơn về từng hệ thống
những nguyên tắc đó thì sẽ thấy chúng đều nhấn mạnh từ những khía cạnh
6
Ví dụ
Trên cơ sơ đồ mạch rơ le xung:
Hãy xây dụng mạch đảo trạng thái
mạch điện nhằm thỏa mãn các thông
số về điển áp chuyển mạch và điện
áp cuộn dây
Liệt kê tất cả các ý tưởng sau đó đưa lên
bảng và tổng hợp với 2 dạng chính sau:
2.2. Kĩ thuật mảnh ghép
Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân,
nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
- Kích thích sự tham gia tích cực của HS : nâng cao vai trò của cá nhân
trong quá trình hợp tác (Không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1
mà còn phải truyền đạt kết quả và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2).
Vòng 1 :
Hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, …
8
Mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ (Ví dụ : nhóm 1 : nhiệm vụ A;
nhóm 2: nhiệm vụ B, nhóm 3: nhiệm vụ C, …)
Đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi
trong nhiệm vụ được giao.
Mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.
Vòng 2 :
Hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới (1 người từ nhóm 1, 1 người từ
nhóm 2 và 1 người từ nhóm 3 …)
Các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới
chia sẻ đầy đủ với nhau.
Sau khi chia sẻ thông tin vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm
vừa thành lập để giải quyết.
2.4. Sơ đồ KWL
Là kĩ thuật dạy học nhằm tạo điều kiện cho người học nêu được những
điều đã biết liên quan đến chủ đề, những điều muốn biết về chủ đề trước khi
học và những điều đã học được sau khi học.
11
Dựa trên sơ đồ KWL, người học tự đánh giá được sự tiến bộ của mình
trong việc học, đồng thời GV biết được kết quả học tập của người học, từ đó
điều chỉnh việc dạy học cho hiệu quả
K(Điều đã biết) W (Điều muốn biết) L(Điều học được)
Người học điền những
điều đã biết về chủ đề /
bài học trước khi học
Người học điền những điều
muốn biết về chủ đề / bài
học
Sau khi học
xong chủ đề/bài học, người
học điền những điều đã
học được
2.5. Học theo dự án
Học theo dự án (Project Work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội
cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một
cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống.
Các bước Học theo dự án :
Bước 1 : Lập kế hoạch
12
Là bước đầu tiên quan trọng, tất cả các thành viên trong nhóm cùng
tham gia xây dựng và xác định được:
- mục tiêu cần hướng tới
- nhiệm vụ phải làm
• Hàn dây
• Thực hành đo
Dụng cụ
14
Uốn dây
Các bước để thực
hiện uốn dây
- Xử lý thông tin;
- Thảo luận với các thành viên khác;
- Trao đổi và xin ý kiến giáo viên hướng dẫn.
Bước 3 : Tổng hợp kết quả
- Xây dựng sản phẩm với chi tiết đơn lẻ
-
Trình bày sản phẩm;
15
- Bài học kinh nghiệm sau khi thực hiện dự án.
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Hữu Chương, Phương pháp và kỹ thuật lên lớp, NXB Giáo dục -
1983.
[2] Nguyễn Bá Kim, Dạy học trong hoạt động và bằng hoạt động, NXB Giáo
dục - 1998.
[3] Nguyễn Văn Cường, Một số vấn đề chung về đổi mới PPDH.
[4] Đặng Vũ Hoạt, Hà Thị Đức (2008), Lý luận dạy học Đại học, NXB
ĐHSP Hà Nội.
[5] Lê Đức Ngọc (2005), Giáo dục Đại học – phương pháp dạy và học,
NXB ĐHQG Hà Nội.
[6] Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên) (2004), Học và dạy cách học, NXB ĐHSP
Hà Nội.