Luận văn tốt nghiệp
LỜI MỞ ĐẦU
Giữa các quốc gia luôn có mối quan hệ về kinh tế và phi kinh tế. Biểu
hiện của mối quan hệ kinh tế là giao lưu hàng hoá (thương mại quốc tế), đầu tư.
Mối quan hệ phi kinh tế như viện trợ, giao lưu văn hoá, ngoại giao, chính trị.
Chủ thể tham gia vào các mối quan hệ này chủ yếu là các nhà kinh tế, ngoài ra
còn có chính phủ, cá nhân, tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Các mối quan hệ
kinh tế và phi kinh tế là cơ sở hình thành các dòng tiền chuyển dịch giữa các
quốc gia. Mối quan hệ phi kinh tế chỉ có dòng dịch chuyển một chiều mà không
có dòng dịch chuyển đối ứng. Ở bài viết này chỉ xin đề cập đến mối quan hệ
thuộc lĩnh vực kinh tế mà không đề cập đến mối quan hệ phi kinh tế giữa các
quốc gia.
Xu thế mở cửa hội nhập trên toàn thế giới nên hoạt động thanh toán quốc
tế ngày một trở nên phức tạp hơn. Hoà cùng xu thế ấy, là một nước đang phát
triển Việt Nam cần nhập khẩu máy móc thiết bị và những hàng hoá là cơ sở cho
phát triển kinh tế trong nước. Vì vậy, cần có hoạt động thanh toán nhập khẩu ở
nước ta. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với lịch sử hoạt động trong lĩnh
vực thanh toán quốc tế lâu đời và mạnh mẽ nhất tại Việt Nam. Với phương
châm phát triển “an toàn, hiệu quả, bền vững” và tôn chỉ “luôn vì sự thành đạt
của khách hàng”. Ngân hàng Ngoại thương đã và thực hiện những hoạt động gì làm
cho hoạt động thanh toán nhập khẩu phát triển; và trong thời gian tới Vietcombank
cần làm những gì để hoạt động này của Ngân hàng không ngừng phát triển.
Thực tế ở Việt Nam đặt ra và qua thời gian tìm hiểu ở Vietcombank cộng
với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Lữ hướng dẫn, em đã chọn đề
tài: “Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam” để tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu.
Đề án gồm ba chương:
Chương 1. Tổng quan về thanh toán nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Chương 2. Thực trạng thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu
tại Vietcombank.
2
Luận văn tốt nghiệp
Hiện nay, thanh toán nhập khẩu thường được chi trả thông qua mạng swift
là mạng điện tử có thể thanh toán trên toàn cầu không mất phí chuyển và đảm
bảo tuyệt đối an toàn. Ngoài ra, việc chi trả còn có thể được thực hiện thông qua
điện tín, bưu điện, hoặc qua uỷ nhiệm chi hộ, thu hộ giữa các ngân hàng với
nhau.
Trong thanh toán nhập khẩu các ngân hàng đóng vai trò là người đứng ra thu
hộ, chi hộ và thu phí của khách hàng nhờ thanh toán. Và ngân hàng thường cung cấp
thêm các dịch vụ đi kèm như phát hành thư tín dụng (L/C); thực hiện bảo lãnh cho
các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu hàng hoá trả tiền sau; cho vay để
thanh toán cho đối tác nước ngoài, cung cấp các dịch vụ tư vấn, làm môi giới,…
b, Sự cần thiết có thanh toán nhập khẩu
Một nước có thể tự sản xuất những hàng hoá cần thiết phục vụ cho đất
nước mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường các nước nhận thấy lợi ích
so sánh về sản xuất hàng hoá của từng nước; có nghĩa là mỗi nước có lợi thế về
sản xuất một số mặt hàng nhất định vì vậy các nước tập trung sản xuất mặt hàng
mà mình có lợi thế. Do đó, sẽ phát sinh những mặt hàng mà trong nước không
có do không sản xuất được hoặc sản xuất được trong nước nhưng chi phí cao đòi
hỏi phải nhập khẩu từ nước ngoài. Các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập
khẩu hàng hoá và kết thúc bằng việc thanh toán tiền tệ. Do việc vận chuyển
nhiều tiền qua lại giữa các nước có thể gặp nhiều rủi ro; mặt khác xu thế phát
triển của các nước trên thế giới là các tổ chức, cá nhân đều có tài khoản ở ngân
hàng. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tế và các khách hàng của mình ngân
hàng cần có thêm nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu hơn nữa các ngân hàng lại có
đủ khả năng thực hiện hoạt động thanh toán.
Các tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài do xa cách
về địa lý nên gặp khó khăn khi thanh toán trực tiếp cho nhau. Hơn nữa, sự bất
đồng về ngôn ngữ, khác về luật lệ trong thanh toán, chi trả và khác nhau về tiền
tệ. Vì vậy, thanh toán nhập khẩu cần được thực hiện qua hệ thống ngân hàng.
đồng quyền chọn, dựa vào cơ chế xác định tỷ giá, điều chỉnh tỷ giá.
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
4
Luận văn tốt nghiệp
b, Địa điểm thanh toán
Việc thanh toán bắt đầu từ ngân hàng phục vụ người bán (người thụ
hưởng, người xuất khẩu) hay ngân hàng phục vụ người phải trả (người mua,
người nhập khẩu) là tuỳ thuộc sự thoả thuận giữa hai bên nhưng thường bên
được nhận sự hỗ trợ từ phía đối tác được quyền nêu lên địa điểm ngân hàng
thanh toán.
c,Thời điểm thực hiện thanh toán
Có thể chia thời điểm thực hiện thanh toán làm các nhóm: thời điểm hàng
xuất tập trung ở cảng, hàng được bốc lên tàu, hàng ra khỏi phao số 0, hàng tới cảng.
lựa chọn thời điểm nào là do thoả thuận của mỗi bên và ưu thế trong hợp đồng
thương mại của các bên.
d, Lựa chọn phương thức thanh toán
Các bên lựa chọn phương thức thanh toán đảm bảo quyền lợi cho các bên
tham gia thanh toán. Tuy nhiên, lựa chọn hình thức thanh toán nào thì cũng sẽ
có một bên có lợi thế hơn và một bên dễ gặp rủi ro hơn. Vì vậy, tuỳ vào từng
trường hợp cụ thể ưu thế trong giao dịch thuộc bên mua hay bên bán mà các bên
lựa chọn phương thức này hay phương thức khác.
1.1.3. Cơ sở pháp lý của thanh toán nhập khẩu
Thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung
và đối với kinh tế đối ngoại nói riêng. Có thể nói nếu không có thanh toán quốc
tế thì thì kinh tế đối ngoại không phát triển hay ít nhất chỉ tiến hành với phạm vi
hẹp và mức độ nhỏ. Tuy nhiên, do các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế thuộc
các quốc gia khác nhau nên có sự khác nhau về luật pháp, văn hoá, phong tục,…
Vì vậy, việc thực hiện thanh toán quốc tế phải theo các quy tắc chung do phòng
thương mại quốc tế ban hành, đồng thời cũng chịu sự chi phối của luật pháp
từng nước có chủ thể tham gia.
quy ước và thực tiễn các ngân hàng trong thanh toán quốc tế. Khác với luật quốc
gia hoặc công ước quốc tế, các văn bản quy tắc này không được tự động áp dụng
để điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế mà mang tính pháp lý tuỳ ý. Nghĩa là
các bên tham gia có quyền lựa chọn áp dụng hay không áp dụng. Nhưng khi đã
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
6
Luận văn tốt nghiệp
lựa chọn thì các quy tắc sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham
gia.
Ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có quy định riêng về thanh toán nhập
khẩu trong một Bộ luật, Pháp lệnh hay Nghị định của Chính phủ. Các quy định
của pháp luật về thanh toán nhập khẩu nằm rải rác ở các văn bản chủ yếu như:
Bộ luật Dân sự năm 1995 phần thứ bảy gồm 13 điều từ Điều 826 đến
Điều 838 quy định về các giao dịch có yếu tố nước ngoài. Trong đó có quy định
ưu tiên áp dụng điều lệ quốc tế trong trường hợp có sự trùng lặp.
Luật thương mại năm 1997 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997
cũng có quy định về ưu tiên áp dụng pháp luật thương mại quốc tế.
Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, tại Điều 3 quy định áp dụng điều ước
quốc tế và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng với nước ngoài. Tuy
nhiên, ưu tiên áp dụng luật nước ngoài, thông lệ, tập quán quốc tế khi nó không
trái với pháp luật Việt Nam.
Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định tại Điều 4: áp
dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong hoạt động thanh toán với nước ngoài.
Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ
về quản lý ngoại hối. Quy định tại Điều 3: áp dụng điều ước quốc tế, tập quán
quốc tế và pháp luật nước ngoài trong hoạt động ngoại hối với nước ngoài.
1.2. Các phương thức thanh toán nhập khẩu
1.2.1. Phương thức chuyển tiền
hợp đồng thanh toán sau. Tuy nhiên, điều này có phụ thuộc vào lợi thế của các
bên trong giao dịch, bên nào có ưu thế hơn trong giao dịch sẽ lựa chọn hình thức
thanh toán có lợi cho mình. Phương thức này lợi ích nghiêng về một bên trong
giao dịch nên ít được sử dụng đến; chỉ được sử dụng khi các bên có quan hệ lâu
dài và tin tưởng tuyệt đối lẫn nhau hoặc trong mối quan hệ phi hàng hoá và
chuyển tiền một chiều.
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
8
Luận văn tốt nghiệp
Thanh toán theo hình thức chuyển tiền có thể thực hiện theo 2 hình thức
chủ yếu:
- Chuyển tiền bằng thư : là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán
của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà ngân
hàng này gửi yêu cầu ngân hàng thanh toán thực hiện. Thư chuyển tiền là chỉ thị
của ngân hàng chuyển tiền đối với ngân hàng thanh toán yêu cầu ngân hàng này
chi trả một khoản tiền được ấn định cho người thụ hưởng được chỉ định trong
thư.
- Chuyển tiền bằng điện: là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh
toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dụng một bức điện, mà
ngân hàng này gửi cho ngân hàng thanh toán thông qua truyền tin của mạng viễn
thông như SWIFT. Trường hợp cả ngân hàng chuyển tiền và ngân hàng thanh
toán đều là thành viên của SWIFT, hoặc có trao đổi dữ liệu điện tử với nhau thì
các chỉ thị trao đổi chuyển tiền đều được chuẩn hoá và bảo mật hoàn toàn.
Với hai hình thức chuyển tiền nêu trên phí dịch vụ chuyển tiền bằng thư
thấp hơn phí dịch vụ chuyển tiền bằng điện nhưng lại không nhanh và an toàn
bằng chuyển tiền bằng điện.
c, Quy trình thanh toán
1
2 4
3
a, Khái niệm
Mở tài khoản ghi sổ là phương thức thanh toán mà người bán xin mở một
tài khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao
hàng hay dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra, đối chiếu theo thoả thuận giữa hai
bên (tháng, quý, bán niên) người mua trả tiền cho người bán. Phương thức thanh
toán này áp dụng để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Trường hợp cụ thể áp dụng
là bán hàng qua đại lý, cơ sở sản xuất ở nước ngoài với đại lý ở trong nước. Phía
nhập khẩu phải trả khi bán hết hàng. Là hình thức thanh toán đơn giản nhất
nhưng có nhiều rủi ro. Có thể xảy ra khi nhà nhập khẩu chấp nhận rủi ro để
chiếm lĩnh thị trường; hoặc mở rộng hơn có quan hệ công ty mẹ - công ty con,
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
10
Luận văn tốt nghiệp
những đơn vị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất kinh doanh. Tính về
doanh số thì cách thức này không chiếm số lớn, nhưng chuyển tiền làm nhiều
lần.
a, Đặc điểm
Đây là phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng
với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán; các ngân hàng chỉ
đơn giản thực hiện chuyển tiền nếu hai bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển
tiền qua ngân hàng khi đến hạn trả tiền định kỳ. Các bên tham gia trong thanh
toán ở đây chỉ gồm người mua và người bán.
Tài khoản ở phương thức thanh toán này chỉ mở đơn biên không mở song
biên tức là chỉ mở tài khoản ở một bên mà không có tài khoản đối ứng ở bên kia.
Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi,
không có giá trị thanh quyết toán.
b, Quy trình thanh toán
1
2
3
Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán trong đó bên bán uỷ thác cho
ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do
người bán lập. Các chứng từ thương mại có liên quan đến giao dịch bên bán đã
chuyển giao trực tiếp cho bên mua, không qua ngân hàng. Phương thức nhờ thu
trơn là phương thức thanh toán không bình đẳng, vì trong thanh toán bên mua có
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
12
Luận văn tốt nghiệp
lợi thế hơn bên bán, bên mua có thể nhận hàng mà không trả tiền. Để công bằng
hơn hạn chế rủi ro cho bên bán người ta bổ sung phương thức thanh toán nhờ
thu kèm chứng từ.
Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán mà hối phiếu do người
bán phát hành đòi tiền bên mua kèm bộ chứng từ hàng hoá đã xuất, ngân hàng
chỉ chấp nhận giao bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập khẩu để nhận hàng sau
khi người nhập khẩu chấp nhận kí trả tiền trên hối phiếu. Đây cũng chưa là
phương thức an toàn bởi hàng đã sản xuất và chuyển sang nước nhập khẩu nếu
nhà nhập khẩu từ chối mua hàng hoá đó thì nhà xuất khẩu phải tìm biện pháp để
xử lý. Những biện pháp xử lý gây lỗ vốn cho nhà xuất khẩu; thất thoát do tiền
lưu kho, lưu bãi để tìm đối tác mới, giá hàng giảm đối tác mới chịu mua.
Phương thức nhờ thu vẫn được chấp nhận do các đơn vị có mối quan hệ với
nhau, có những ràng buộc pháp lý, hoặc hợp đồng không lớn về giá trị.
c, Quy trình thanh toán
1
4 5 2 7
3
6
Các bước trong thanh toán nhờ thu:
1- Bên bán chuyển giao hàng hoá, đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ hàng
tiền, hạch toán:
Nợ tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài
Có tài khoản tiền gửi của khách hàng
Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán
Có tài khoản thuế GTGT phải nộp
Đồng thời ghi nhận ngoại bảng
Xuất tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ gửi đi nước ngoài nhờ thu
Và báo có cho khách hàng.
1.2.4. Phương thức tín dụng chứng từ
a, Khái niệm
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
14
Luận văn tốt nghiệp
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ hay L/C là phương thức thanh
toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc
tế, chiếm khoảng 70% tổng giá trị thanh toán quốc tế. Do phương thức này bảo
đảm quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và người bán.
Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng phát hành
cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù
hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C.
Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, song sau khi
được thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương và
khi đó phương thức thanh toán này được thiết lập. Tính chất độc lập của thư tín
dụng được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C
(nhà xuất khẩu) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người
bán. Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và
nội dung của L/C đã được mở để trả tiền cho người bán. Việc thanh toán của
Ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng của hàng hoá. Nếu thực trạng của
hàng hoá không đúng với chứng từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết
với nhau. Trong trường hợp người mua không thanh toán tiền cho ngân hàng thì
0% - 100% giá trị thanh toán của thư tín dụng. Những khoản hàng nhập ngân
hàng chấp nhận cho vay thì sẽ không phải kí quỹ. Những khoản hàng nhập ngân
hàng không chấp nhận cho vay và L/C là loại thanh toán ngay thì phải kí quỹ
100%. Thông thường mức kí quỹ là 25% cao hoặc thấp hơn là tuỳ vào từng
trường hợp và tuỳ vào mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng, đây còn là
công cụ cạnh tranh của các ngân hàng. Có kí qũy vì thời gian từ lúc nhận hàng
đến lúc thanh toán dài. Nhà xuất khẩu chỉ nhận được tiền khi chứng minh được
hàng hoá đã xuất phù hợp với những yêu cầu được thể hiện trong L/C. Ngân
hàng phục vụ nhà nhập khẩu phải có đủ uy tín đối với nhà xuất khẩu mới được
nhà xuất khẩu chấp nhận là ngân hàng mở L/C. Trong trường hợp ngân hàng
phục vụ nhà nhập khẩu không đủ uy tín thì cần có một ngân hàng khác bảo lãnh.
Ngân hàng bảo lãnh phải do nhà xuất khẩu chỉ định.
Các bên tham gia trong thanh toán L/C:
- Nhà nhập khẩu: là người mua hàng hoá, dịch vụ, người yêu cầu mở L/C.
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
16
Luận văn tốt nghiệp
- Ngân hàng phát hành: là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu, mở L/C
theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và thanh toán khi nhà xuất khẩu trình bộ chứng
từ đòi tiền hoàn hảo.
- Nhà xuất khẩu: người bán, người hưởng lợi trong thanh toán.
- Ngân hàng thông báo: là ngân hàng tiếp nhận bộ chứng từ L/C từ ngân
hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tới thông báo cho nhà xuất khẩu biết nhà
nhập khẩu đã mở L/C.
- Ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu thường kiêm luôn thông báo,
thực hiện chi trả tiền cho nhà xuất khẩu.
- Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng đứng ra xác nhận cho người mở L/C
theo yêu cầu của nhà xuất khẩu trong trường hợp nhà xuất khẩu không biết đến
hoặc không tin tưởng vào uy tín của ngân hàng mở L/C.Thường ngân hàng xác
nhận phải là ngân hàng có uy tín lớn trên thị trường tín dụng và tài chính quốc
nhưng quên đóng dấu sẽ được coi là không huỷ ngang.
L/C trả chậm là L/C mà nhà nhập khẩu được quyền nhận hàng, bán hàng
đi sau đó mới thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu. Khi bộ chứng từ chuyển đến
đòi tiền bên nhập khẩu chỉ cần kí chấp nhận trả tiền để nhận hàng sau đó mới
phải trả tiền sau.
d, Quy trình thanh toán
Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C
Sau khi ký hợp đồng thương mại về mua bán hàng hoá, nhà nhập khẩu
đề nghị ngân hàng phục vụ mình phát hành L/C. Ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu sẽ căn cứ yêu cầu của khách hàng và hợp đồng thương mại để mở một L/C
và gửi tới ngân hàng thông báo L/C. Tại ngân hàng phát hành sẽ hạch toán:
Nợ tài khoản tiền gửi của khách hàng nhập khẩu
Có tài khoản ký quỹ thanh toán L/C.
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
18
Luận văn tốt nghiệp
Ngân hàng thông báo kiểm tra tính hợp lệ của L/C và thông báo cho nhà
xuất khẩu. Nhà xuất khẩu kiểm tra xem L/C có tuân thủ các điều khoản thương
mại đã thoả thuận trong hợp đồng hay không, các điều kiện đã ghi cụ thể trong
L/C có thể được thoả mãn hay không và sau đó tiền hành xuất hàng. Nhà xuất
khẩu chuẩn bị bộ chứng từ được đề cập trong L/C, kiểm tra chứng từ xem có
khác gì so với L/C không, ký phát hối phiếu và xuất trình hối phiếu cùng bộ
chứng từ cho ngân hàng thông báo.
Ngân hàng thông báo có trách nhiệm đối chiếu hối phiếu và chứng từ theo
các điều khoản quy định trong L/C và gửi chúng tới ngân hàng phát hành. Ngân
hàng phát hành ghi sổ theo dõi ngoại bảng:
Nhập tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ nước ngoài gửi đến đợi thanh toán
Ngân hàng phát hành kiểm tra nếu bộ chứng từ không hoàn hảo thì sẽ gửi
trả lại cho ngân hàng thông báo. Nếu là bộ chứng từ hoàn hảo sẽ tiến hành thanh
toán ngay lập tức đối với L/C trả ngay hoặc thanh toán vào một ngày nào đó nếu
tư cao cho việc mua sắm trang thiết bị và công nghệ hiện đại vì thế vốn là điều
kiện đầu tiên và vô cùng quan trọng để bắt kịp với những tiến bộ về công nghệ
thanh toán trên thế giới.
Nhân lực: là một phương tiện thanh toán hiện đại, thanh toán nhập khẩu
mang tính tiêu chuẩn hoá cao, có quy trình thanh toán thống nhất. Vì vậy, đòi
hỏi cán bộ ngân hàng phải có một trình độ phù hợp với yêu cầu của thanh toán
nhập khẩu như trình độ về chuyên môn thanh toán, về ngoại ngữ, về luật pháp,
… Hơn nữa, trình độ của nhân viên cũng là một trong các yếu tố quan trọng để
thu hút khách hàng. Với nhân viên có trình độ cao sẽ thoả mãn nhu cầu khi
khách hàng tìm đến, vì vậy khách hàng sẽ có xu thế tiếp tục đến với ngân hàng
và giới thiệu với những người quen về dịch vụ thanh toán nhập khẩu ở ngân
hàng. Hoặc ngược lại khi khách hàng không được hài lòng.
Vị thế và quan hệ của ngân hàng ở trong nước và trên thị trường thế giới:
vị thế của ngân hàng ở trong nước sẽ quyết định số lượng khách hàng đến với
ngân hàng. Thanh toán nhập khẩu rất quan trọng đối với một doanh nghiệp do số
tài sản lớn của doanh nghiệp nằm ở lô hàng đó; do vậy quyết định của doanh
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
20
Luận văn tốt nghiệp
nghiệp khi lựa chọn ngân hàng phục vụ mình là dựa vào lý trí mà không vì tình
cảm. Vì vậy, vị thế của ngân hàng rất quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân
hàng của nhà nhập khẩu. Hơn nữa, nếu ngân hàng không có vị thế trên trường
quốc tế thì không đủ tin cậy cho nhà xuất khẩu vì vậy nhà xuất khẩu có thế
không đồng ý cho ngân hàng đó bảo lãnh hoặc chấp nhận là ngân hàng phát
hành (trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ).
Quan điểm của lãnh đạo ngân hàng về phát triển dịch vụ thanh toán nhập
khẩu: quan điểm của lãnh đạo ngân hàng mang tính chất quyết định đến việc có
phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu của ngân hàng đó hay không. Nếu
ngân hàng đó có tất cả các yếu tố rất thuận lợi cho phát triển dịch vụ thanh toán
nhập khẩu nhưng ban lãnh đạo ngân hàng lại nhận thấy ngân hàng mình không
hưởng đến thanh toán nhập khẩu. Tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ thay
đổi sẽ làm thay đổi hoạt động ngoại thương. Khi tỷ giá giảm làm giảm giá trị
của đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ khi đó chi phí để mua cùng một loại hàng
hoá ở trong nước sẽ rẻ tương đối hơn so với mua ở nước ngoài vì vậy sẽ có xu
hướng thúc đẩy nhập khẩu của một nước. Ngược lại khi tỷ giá tăng làm tăng giá
đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
Tình hình chính trị xã hội của một quốc gia cũng ảnh hưởng tới thanh
toán nhập khẩu. Chính trị ổn định hay không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển
kinh tế của một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà
đầu tư vì chính trị bất ổn gắn với rủi ro cao trong vân chuyển, giao nhận hàng
hoá, thanh toán… nên tất yếu sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cũng như
quyết định xuất nhập khẩu của đơn vị. Khi nền kinh tế có tình hình chính trị xã
hội ổn định thì hoạt động kinh tế sẽ có một nền tảng vững chắc để phát triển. Sự
bất ổn định của chính trị xã hội sẽ làm trì trệ và tàn phá nền kinh tế. Trong mua
bán ngoại thương thì rủi ro do chính trị xã hội bất ổn định là những rủi ro bất
khả kháng vì thông thường không có bảo hiểm cho những rủi ro thuộc loại này.
Do vậy, trong bất kỳ trường hợp nào thì các nhà kinh doanh đều tránh giao dịch
với các tổ chức kinh tế tại các quốc gia có tình hình kinh tế xã hội không ổn
định.
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
22
Luận văn tốt nghiệp
Chủ trương chính sách ngoại thương của nhà nước có tác dụng khuyến
khích hay hạn chế hoạt động nhập khẩu và nó có tác động trực tiếp hay gián tiếp
lên tỷ giá. Do đó, sự ổn định đúng đắn của các chính sách vĩ mô của nhà nước sẽ
có tác động rất lớn đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mà thanh toán
quốc tế. Một chính sách mà không đúng đắn, hiệu quả, ổn định sẽ dẫn đến khó
khăn trong việc thu hút vốn, khách hàng, cân đối ngoại tệ và rủi ro cho doanh
nghiệp cũng như cho ngân hàng. Ví dụ với những chính sách thuế, điều khoản
thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu bằng
Trần Thị Thu Thủy Ngân Hàng 44A
24
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG THANH TOÁN NHẬP KHẨU
TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1. Khái quát Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
2.1.1. Lịch sử hình thành
Hoạt động kinh doanh đối ngoại ở một đất nước là không thể thiếu, và do
nhu cầu có một ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực thanh toán quốc tế là cần
thiết. Đáp ứng nhu cầu cấp bách lúc bấy giờ, Ngân hàng Ngoại thương đã ra đời
ngày 1/4/1963 hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thanh toán đối ngoại.
Trước năm 1987, hệ thống ngân hàng nước ta là hệ thống ngân hàng một
cấp. Vì vậy các ngân hàng chuyên nghiệp như Ngân hàng Ngoại thương (1963),
Ngân hàng kiến thiết (1957)…chỉ có bộ máy tổ chức ở trung ương, không có hệ
thống cơ sở, thực hiện chức năng và nhiệm vụ do Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam giao. Do đó, thực chất các ngân hàng chuyên nghiệp chỉ là một vụ,
cục chức năng hay chi nhánh đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà thôi.
Đến năm 1987, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, những
hoạt động của hệ thống Ngân hàng cũng được cải cách cho phù hợp với những đổi
mới của nền kinh tế thời kỳ đó. Ngày 26/03/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là
Chính phủ) ra Nghị định 53/HĐBT về việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng. Theo
tinh thần Nghị định này hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm hai cấp là Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng chuyên doanh gồm: Ngân hàng Công
thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam. Từ sau Nghị định này Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực
sự là một ngân hàng thương mại quốc doanh, hoạt động kinh doanh một cách độc
lập, tách rời chức năng phát hành tiền và là cơ quan hành chính của Nhà nước; từ
đây Ngân hàng Ngoại thương chỉ chịu sự quản lý vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước
và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan.