LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức
thương mại thế giới. Đây thực sự trở thành một mốc son quan trọng trong lịch sử Việt
Nam, đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức với Việt Nam - một con hổ đang chuyển mình.
Năm 2007 một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam đã chính thức
thực thi các cam kết của WTO. Nền kinh tế Việt Nam đã thực sự bước vào một con
đường mới - con đường mở cửa và hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới. Trong xu
hướng hội nhập của nền kinh tế, các hoạt động kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng và
phát triển, làm phát sinh nhiều nhu cầu về thực hiện nghĩa vụ tiền tệ với các đối tác nước
ngoài. Do vậy, hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương mại cần được mở
rộng và phát triển.
Tuy nhiên, việc thực thi các cam kết hội nhập đòi hỏi Việt Nam phải mở cửa lĩnh
vực hoạt động của nền kinh tế trong đó có lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Kể từ tháng
4/2007 Việt Nam chính thức cho phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Theo
đó, năm 2007 đã có rất nhiều tổ chức nước ngoài nộp đơn xin ngân hàng nhà nước cho
phép thành lập ngân hàng. Điều này, đã tạo ra sức cạnh tranh rất lớn từ các ngân hàng
nước ngoài đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Các ngân hàng thương mại
Việt Nam sẽ làm gì trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt đó? Đó là các ngân
hàng thương mại Việt Nam phải có chiến lược sử dụng các nguồn lực hiện có để nâng
cao sức cạnh của mình, để tiếp tục tồn tại và phát triển trong thời gian dài.
Ngân hàng Nông nghiệp Đông Hà Nội trực thuộc ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển Nông thôn Việt Nam là một ngân hàng thương mại nhà nước trước yêu cầu hội
nhập và phát triển cũng đang đề ra chiến lược phát triển nhằm nâng cao sức cạnh tranh
của mình để tồn tại và phát triển. Cùng với xu hướng hội nhập của nền kinh tế vấn đề
1
mở rộng và phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu
của thị trường đã và đang được ban lãnh đạo ngân hàng quan tâm.
Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Phát triển dịch vụ
thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam –
Chi nhánh Đông Hà Nội”
Phương pháp lịch sử:
Xem xét hoạt động thanh toán quốc tế trong quá khứ, hiện tại để rút ra các mặt
được và chưa được trong phát triển hoạt động thanh toán quốc tế. Từ đó, đề ra các giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế
Các phương pháp khác:
Đề tài cũng sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, mô tả, tổng hợp, tư duy
logic, phân tích hệ thống …. để luận giải các vấn đề liên quan của đề tài.
5. Kết cấu của đề tài
Kết cấu của đề tài gồm phần mở đầu, phần kết luận và ba chương:
Chương 1: Lý luận chung về dịch vụ thanh toán quốc tế và các yêu cầu phát triển
dịch vụ thanh toán quốc tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh Đông Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh Đông Hà Nội.
3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ VÀ
CÁC YÊU CẦU PHÁT TRIỂN CÁC DỊCH VỤ THANH TOÁN QUỐC TẾ
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1. Một số vấn đề chung về dịch vụ Thanh toán quốc tế trong các Ngân
hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Thanh toán quốc tế
Khái niệm
Thanh toán quốc tế là hoạt động thanh toán giữa các nước với nhau về những
khoản nợ lẫn nhau phát sinh (thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh) từ các quan hệ
kinh tế, tài chính, chính trị, văn hoá,… giữa các chủ thể của các nước có liên quan.
Từ khái niệm Thanh toán quốc tế ta có thể rút ra các đặc điểm riêng có của Thanh
toán quốc tế so với thanh toán trong nước như sau:
cho các hợp đồng nhập khẩu, thu tiền xuất khẩu kịp thời, an toàn và chính xác và bảo vệ
được uy tín của ngân hàng.
1.1.2. Sự cần thiết phát triển địch vụ thanh toán quốc tế trong các Ngân hàng
thương mại
1.1.2.1. Đối với nền kinh tế
a. Thu hút nguồn ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Trong phát triển kinh tế, không có một quốc gia nào có thể tự đáp ứng vốn cho
phát triển. Ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) nhu cầu vốn cho phát triển
kinh tế là rất lớn. Nguồn vốn bên ngoài có vai trò quan trọng trong thúc đẩy nền kinh tế
các nước này tăng trưởng và phát triển nhanh hơn. Vì vậy, các biện pháp nhằm thu hút
nguồn vốn bên ngoài được các nước đề ra như: thực hiện chiến lược phát triển nền kinh
tế hướng về xuất khẩu, tăng cường các biện phát thu hút đầu tư trực tiếp, gián tiếp nước
5
ngoài, vay nợ nước ngoài …... Tất cả các hoạt động đó đều làm phát sinh các nghĩa vụ
tiền tệ của mỗi chủ thể nước này với các chủ thể nước ngoài. Các hoạt động này chỉ diễn
ra thuận lợi khi hoạt thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn, chính xác
và hiệu quả.
b. Tăng GDP của nền kinh tế
Thanh toán quốc tế phát triển giúp quá trình lưu thông hàng hoá - tiền tệ giữa
người mua và người bán diễn ra trôi chảy và hiệu quả hơn. Luồng vốn được quay vòng
nhanh hơn, được sử dụng hiệu quả hơn và giảm rủi ro cho các doanh nghiệp tham gia
vào quá trình thanh toán. Mỗi doanh nghiệp là một chủ thể của nền kinh tế, sự phát triển
của doanh nghiệp đóng góp vào tăng trưởng GDP của nền kinh tế.
Thanh toán quốc tế cũng làm gia tăng thu nhập của các Ngân hàng thương mại
thông qua các khoản phí thu được khi thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế, tạo việc
làm và tăng thu nhập cho người lao động. Do vậy hoạt động thanh toán quốc tế phát
triển góp phần vào tăng trưởng GDP của nền kinh tế
c. Tăng cường quan hệ đối ngoại của các cá nhân, pháp nhân và chính phủ
Trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, hoạt động kinh tế đối ngoại
càng trở nên quan trọng hơn đối với sự phát triển của các quốc gia. Các chủ thể của nền
vốn, làm tăng số dư tiền gửi trong quá trình thực hiện các phương thức thanh toán quốc
tế cho khách hàng như: việc ký quỹ mở L/C trong phương thức tín dụng chứng từ …..
Làm tăng tính thanh khoản cho ngân hàng
Phát triển hoạt động Thanh toán quốc tế giúp ngân hàng thương mại mở rộng
hoạt động kinh doanh thông qua việc cung ứng các dịch vụ ngân hàng quốc tế. Kinh
doanh đa năng luôn là một phương sách hiệu quả để phân tán rủi ro cho các ngân hàng.
Mặt khác, thông qua hoạt động Thanh toán quốc tế, ngân hàng có thể quản lý việc sử
7
dụng vốn vay, giám sát được tình hình kinh doanh của khách hàng, tạo điều kiện quản lý
và nâng cao hiệu quả đầu tư.
c. Tăng cường quan hệ đối ngoại của Ngân hàng thương mại
Thanh toán quốc tế giúp quy mô hoạt động của ngân hàng thương mại vượt ra
khỏi biên giới quốc gia, thiết lập mối quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài. Nâng
cao uy tín của ngân hàng trên trường quốc tế. Trên cơ sở đó khai thác nguồn tài trợ trên
thị trường tài chính quốc tế, từ các ngân hàng nước ngoài, thu hút thêm khách hàng.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của các Ngân
hàng thương mại
1.1.3.1. Nhân tố khách quan
a. Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Chính sách kinh tế vĩ mô của mỗi nước đề ra nhằm mục đích điều tiết, định
hướng phát triển nền kinh tế. Một số chính sách có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp
đến hoạt động Thanh toán quốc tế của các Ngân hàng thương mại như: Chính sách kinh
tế đối ngoại, Chính sách quản lý ngoại hối, Chính sách tỷ giá, Chính sách thuế, Chính
sách quản lý xuất nhập khẩu ….
Chính sách kinh tế đối ngoại
Kinh tế đối ngoại là một lĩnh vực rộng lớn bao gồm hoạt động ngoại thương, đầu
tư tài chính, dịch vụ quốc tế, chuyển giao công nghệ và nhiều hoạt động kinh tế khác,
trong đó ngoại thương là hoạt động trọng tâm. Thanh toán quốc tế về bản chất chính là
việc thanh toán những khoản nợ giữa các chủ thể của các quốc gia trong các quan hệ:
kinh tế, văn hoá, chính trị …. Chính sách kinh tế đối ngoại có tác dụng thúc đẩy hoặc
nhu cầu thực hiện nghĩa vụ tiền tệ của quốc gia này đối với quốc gia khác. Khi hoạt
động ngoại thương càng phát triển trên phạm vi toàn cầu cả về chiều rộng và chiều sâu
giữa các chủ thể khác nhau của các quốc gia khác nhau. Điều này, càng làm tăng tính
9
phức tạp của hoạt động ngoại thương, làm phát sinh những nhu cầu đảm bảo an toàn,
chính xác và hiệu quả trong thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ giữa các chủ thể tham gia.
Trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay, các ngân hàng thương mại là cầu nối thanh toán
tham gia mạnh mẽ vào các quan hệ thương mại giữa các tổ chức, cá nhân trong nước với
các tổ chức và cá nhân nước ngoài, giúp các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu đạt được
các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh, thực hiện được yêu cầu của chính sách kinh tế đối
ngoại. Vì vậy, nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh toán quốc tế là nhiệm vụ quan
trọng của các ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển của hoạt
động ngoại thương, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngoại thương phát triểthanh
toán, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
c. Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ của một quốc gia tính bằng tiền tệ
của một quốc gia khác, hay là quan hệ so sánh về mặt giá cả giữa hai đồng tiền của các
quốc gia khác nhau.
Tỷ giá hối đoái là một nhân tố nhạy cảm được xác định bởi quan hệ cung cầu trên
thị trường ngoại hối và sự biến động của tỷ giá có tác động trực tiếp đến hoạt động thanh
toán quốc tế của các ngân hàng thương mại được thể hiện:
Biến động của tỷ giá ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương
Khi tỷ giá hối đoái giảm, đồng nội tệ trở nên đắt tương đối so với đồng ngoại tệ.
Giá hàng hoá xuất khẩu đắt lên tương đối trên thị trường quốc tế làm giảm lượng hàng
hoá xuất khẩu và tăng hàng nhập khẩu do giá hàng hoá quốc tế rẻ tương đối so với hàng
trong nước. Ngược lại khi tỷ giá hối đoái tăng lên: xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm.
Ví dụ trong những tháng đầu năm 2008, do nền kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy
thoái. FED đã liên tục cắt giảm lãi suất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hành động cắt
giảm lãi suất của FED đã làm cho giá trị của đồng USD giảm so với các đồng tiền khác
trên thế giới nói chung và giá trị của đồng tiền Việt Nam nói riêng. Điều này có nghĩa tỷ
khăn cho các ngân hàng thương mại cũng như các chủ thể tham gia vào hoạt động thanh
toán quốc tế.
1.1.3.2. Nhân tố chủ quan (Nhân tố thuộc về bản thân Ngân hàng thương mại)
a. Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng thương mại
Trong thanh toán quốc tế luôn có vai trò tham gia cung ứng dịch vụ của các ngân
hàng thương mại bằng các phương thức thanh toán quốc tế khác nhau. Mỗi ngân hàng
thương mại đều có cách thức tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế riêng phụ thuộc vào
chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng nhằm đạt được tính tối ưu về các dịch vụ mà
họ cung cấp, sử dụng một cách tốt nhất vốn trong kinh doanh, đảm bảo được việc kiểm
soát, giám sát hoạt động thanh toán quốc tế.
b. Việc tổ chức điều hành thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng
thương mại
Điều hành hoạt động thanh toán quốc tế là việc chỉ đạo thực hiện tất cả các hoạt
động liên quan để thực hiện chiến lược phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của ngân
hàng. Để hoạt động thanh toán quốc tế diễn ra thuận lợi, các ngân hàng thương mại cần
đưa ra được một quy trình thực hiện nghiệp vụ làm sao vừa tạo ra sự thuận lợi cho khách
hàng, dễ thực hiện đối với cán bộ thanh toán quốc tế nhưng vẫn đảm bảo được độ an
toàn cho ngân hàng. Việc tổ chức thực hiện tốt sẽ giúp hoạt động thanh toán quốc tế diễn
ra nhanh chóng và an toàn đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng.
c. Mạng lưới thanh toán quốc tế
Mạng lưới thanh toán quốc tế là cách thức tổ chức các chi nhánh, các điểm giao
dịch thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế. Mạng lưới thanh toán quốc tế ảnh hưởng
trực tiếp đến việc thu hút khách hàng, đối tượng khách hàng mà ngân hàng hướng tới.
Mặc dù, việc tổ chức thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế của mỗi ngân hàng
là khác nhau song thường tập trung ở các thành phố lớn nơi có sự tập trung đông các
doanh nghiệp xuất nhập khẩu và phát sinh nhiều nhu cầu thanh toán quốc tế. Tuy nhiên
12
đây cũng là nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại trong thu
hút khách hàng.
d. Khả năng nguồn lực của Ngân hàng thương mại
khách hàng cũng giảm được chi phí phát sinh từ việc giao dịch với ngân hàng có uy tín
không cao. Đây là điều kiện quan trọng để ngân hàng thu hút thêm khách hàng và mở
rộng thị phần thanh toán quốc tế. Tuy nhiên, uy tín của mỗi ngân hàng không chỉ phụ
thuộc vào ngân hàng trung ương của nó mà còn do bản thân mỗi chi nhánh của nó quyết
định
1.1.4. Rủi ro trong thanh toán quốc tế tại các Ngân hàng Thương mại
Rủi ro được hiểu là những việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của con người,
đem lại những hậu quả không thể dự đoán trước được. Hoạt động thanh toán quốc tế liên
quan đến các giao dịch thương mại quốc tế, khoảng cách địa lý xa cùng với sự khác biệt
về văn hoá, luật pháp giữa các bên đối tác tham gia vào quá trình thanh toán đã làm tăng
tính rủi ro trong quá trình thanh toán.
1.1.4.1. Rủi ro quốc gia
Đó là những rủi ro liên quan đến sự thay đổi về chính trị, chính sách kinh tế, quản
lý ngoại hối của một quốc gia khiến cho nhà xuất khẩu không nhận được tiền, nhà nhập
khẩu không nhận được hàng hoá.
Các nguyên nhân gây ra các biến cố chính trị, kinh tế xã hội: mâu thuẫn sắc tộc,
tôn giáo, các cuộc xung đột thông qua đình công, biểu tình, chiến tranh bạo động; Cán
cân thanh toán của một nước bị thâm hụt nặng nề buộc chính phủ của nước đó phải thay
đổi chính sách quản lý ngoại hối và chính sách ngoại thương ….
1.1.4.2. Rủi ro pháp lý
Mặc dù, hoạt động thanh toán quốc tế chủ yếu dựa vào các thông lệ và tập quán
quốc tế. Song ở mỗi nước, ngoài các thông lệ quốc tế còn có pháp luật của mỗi quốc gia
14
để tạo nên một hành lang pháp lý đầy đủ cho hoạt động thanh toán quốc tế ở nước đó.
Pháp luật ở các quốc gia thông thường là tôn trọng các thông lệ quốc tế và ít mâu thuẫn
song không phải là không có mâu thuẫn. Vì vậy, vấn đề am hiểu pháp luật của mỗi quốc
gia đối tác là rất cần thiết song không dễ dàng và rủi ro pháp lý là không thể tránh khỏi
1.1.4.3. Rủi ro ngoại hối
Tỷ giá hối đoái luôn biến động theo cung cầu của thị trường và tổn thất bởi sự
biến động tỷ giá là khó tránh khỏi đối với các chủ thể trong quá trình thanh toán. Vì thế,
chiến lược cụ thể cho các hoạt động của Ngân hàng, trong đó không thể thiếu chiến lược
cung ứng các dịch vụ thanh toán quốc tế. Việc xây dựng chiến lược phát triển chung cho
hoạt động của Ngân hàng hay xây dựng chiến lược phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
của Ngân hàng cần được tiến hành theo các nội dung sau:
Phân tích môi trường kinh doanh
Môi trường kinh doanh là nơi mà mọi hoạt động của Ngân hàng trong đó có hoạt
động Thanh toán quốc tế tồn tại và phát triển. Sự thay đổi của môi trường kinh doanh có
ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại nói
chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng. Việc xây dựng chiến lược kinh doanh
đòi hỏi phải có sự phân tích, nghiên cứu kỹ môi trường kinh doanh. Môi trường kinh
doanh bao gồm:
Thứ nhất: Môi trường kinh tế
Nghiên cứu môi trường kinh tế cần phân tích rõ thực trạng và triển vọng của môi
trường kinh tế vĩ mô trong nước liên quan đến hoạt động Ngân hàng. Đặc biệt, hoạt
động thanh toán quốc tế không chỉ có các đối tác trong nước mà còn có các đối tác nước
ngoài. Vì thế, cần phải phân tích thực trạng và xu hướng phát triển của kinh tế quốc tế và
khu vực trong tương lai (thường là mười năm trở lên)
Thứ hai: Phân tích môi trường pháp lý
16
Bất cứ một hoạt động kinh tế nào cũng chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật pháp.
Bất cứ sự thay đổi nào của chính sách và pháp luật đều liên quan đến hoạt động của
ngân hàng. Để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ hệ
thống pháp luật của nhà nước nói chung và hệ thống pháp luật liên quan trực tiếp đến
hoạt động ngân hàng.
Ngoài ra, hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng còn liên quan đến hệ thống
pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia đối tác. Vì vậy cần nghiên cứu kỹ các
văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng thương
mại.
Thứ ba: Phân tích môi trường công nghệ
Môi trường công nghệ là toàn bộ các yếu tố liên quan đến quá trình trang bị,
thị trường. Muốn làm tốt điều này ngân hàng phải có thông tin chính xác về chúng thông
qua các hình thức:
- Thông qua sự cung cấp của khách hàng
- Thông qua việc thu thập và xử lý thông tin có được từ các nguồn: sách báo, tài
liệu, thực tế kinh doanh của ngân hàng …
- Thông qua việc tiến hành tổ chức điều tra mẫu từ thị trường.
Xác định sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế
Từ các bước phân tích ở trên, Ngân hàng hoàn toàn có thể đưa ra ý tưởng về sản
phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế mà ngân hàng hướng đến phục vụ. Tuy nhiên, việc
xác định thị phần của hoạt động thanh toán quốc tế phải đảm bảo sự cân đối với các hoạt
động khác của ngân hàng và nằm trong chiến lược phát triển chung của toàn ngân hàng.
Việc xác định sản phẩm và dịch vụ thanh toán quốc tế của ngân hàng phải thông
qua việc nghiên cứu thị trường. Các tín hiệu thị trường là cơ sở quan trọng nhất để ngân
18
hàng quyết định sản phẩm và dịch vụ cung cấp phù hợp. Tuy nhiên việc cung cấp sản
phẩm và dịch vụ cũng cần dựa trên khả năng hiện có của đơn vị. Nhưng không được coi
đây là hoạt động thụ động mà cần tìm ra các giải pháp thích hợp để thực hiện định
hướng mà ngân hàng đã nhận thấy từ tín hiệu thị trường.
Quyết định chiến lược phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế
Thông qua các phân tích ở trên, có thể cho phép các nhà lãnh đạo ngân hàng đưa
ra chiến lược phát triển cho dịch vụ thanh toán quốc tế của mình. Trong chiến lược này,
cần chỉ ra được: Thị trường chủ yếu, các sản phẩm và dịch vụ chủ yếu, cách thức chính
để thực hiện chiến lược phát triển đã đề ra.
Trong quá trình quyết định chiến lược phát triển cho dịch vụ thanh toán quốc tế
cần lưu ý:
- Chiến lược phát triển dịch vụ thanh toán quốc tế phải phù hợp với chiến lược
hoạt động của Ngân hàng
- Chiến lược phát triển dịch thanh toán quốc tế nói riêng và các chiến lược kinh
doanh khác nói chung đều phải có hệ thống bảo mật. Có nội dung cần công khai, có nội
dung cần được bảo mật với các mức độ khác nhau. Vấn đề này cần được hoạch định rõ
20
Toàn ngân hàng cùng hướng về lợi nhuận
Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại cho rằng: Toàn ngân hàng cùng hướng về
lợi nhuận. Điều này được thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Toàn ngân hàng phải nhận thức được vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát
triển của ngân hàng là do khách hàng
- Ngân hàng là một thể thống nhất, không có bất cứ sự lệch pha nào bất cứ hoạt
động nào của ngân hàng. Tất cả cùng hướng tới thị trường, phục vụ khách hàng, tăng lợi
nhuận cho ngân hàng và tăng thu nhập cho chính người lao động
- Công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại đòi hỏi sự sáng tạo trong hoạt động. Do
vậy, các bộ phận, cá nhân cần được quan tâm khen thưởng xứng đáng, kịp thời để
khuyến khích họ làm tốt hơn, sáng tạo hơn trong công việc của mình.
Xây dựng và hoàn thiện thể chế cho hoạt động thanh toán quốc tế
Sự thoả mãn đối với
khách hàng
Công nghệ
quản lý NH
hiện đại
Sự thoả mãn đối với
cán bộ ngân hàng
Sự thoả mãn đối với
ngân hàng
(Động lực thúc đẩy)
(Sự trung thành)
(Khả năng sinh lời)
21
Nội dung trên đã cho ta những nét định tính trong công tác quản trị, điều hành các
dịch vụ thanh toán quốc tế theo công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại. Tuy nhiên, để
công tác điều hành có hiệu quả cao, cần phải xây dựng một thể chế, quy trình cụ thể cho
hoạt động thanh toán quốc tế sao cho bất cứ một dụng nào của hoạt động thanh toán
kỹ năng và bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản
phẩm.
Như vậy công nghệ không phải chỉ là máy móc thiết bị, cũng không chỉ là hệ
thống máy tính hay hệ thống thanh toán của ngân hàng, dù đó có thể là một phần lớn
trong công nghệ thực hiện dịch vụ của ngân hàng. Công nghệ ngoài phần kỹ thuật còn
bao gồm: phần con người (thể hiện ở kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ); phần tổ
chức (sự kết hợp bố trí các thiết bị, kết hợp các cá nhân trong sử dụng công nghệ để đạt
được hiệu quả cao nhất).
Để trang bị khoa học công nghệ ngân hàng một cách có hiệu quả phải xuất phát
từ đòi hỏi của thị trường và khả năng nội tại của ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu
của thị trường. Đây là một điểm khác biệt so với quan niệm trước đây.
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của khoa học kỹ thuật hiện đại trong
hoạt động của ngân hàng nói chung và dịch vụ thanh toán quốc tế nói riêng. Song vấn đề
trang bị khoa học và công nghệ phải xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Thị trường là
tấm gương cho ngân hàng soi rọi hoạt động của mình vào đó, nó cũng là định hướng cho
ngân hàng trang bị công nghệ thích ứng. Từ yêu cầu của thị trường ở hiện tại và trong
tương lai, nắm bắt các xu hướng phát triển của khoa học công nghệ kết hợp với khả năng
tài chính có ưu tiên của ngân hàng để lựa chọn trang bị công nghệ cho hoạt động kinh
doanh của ngân hàng.
1.2.4. Yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực
23
Con người luôn là nhân tố quyết định cho mọi hoạt động nói chung và hoạt động
Ngân hàng nói riêng. Vấn đề đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động tất yếu của các
ngân hàng thương mại để nâng cao sức cạnh tranh của mình. Nhưng đào tạo nguồn nhân
lực như thế nào cho có hiệu quả?
Yêu cầu cơ bản và quan trọng là phải hiện đại hoá con người thông qua nhiều
hình thức khác nhau. Trong đó, việc đào tạo đội ngũ cán bộ vẫn là con đường chủ yếu để
nâng cao trình độ cán bộ ngân hàng. Để làm tốt điều này ngân hàng cần phải tiến hành
nhanh chóng phân loại đội ngũ cán bộ của toàn ngân hàng theo các tiêu thức khác nhau
Phân loại theo trình đội bằng cấp: Tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân….
hàng và từ đó quyết định các sản phẩm kinh doanh phù hợp với thị trường.
Giao tiếp, khuyếch trương, quảng cáo tạo điều kiện thực hiện thực hiện dịch vụ
tốt hơn. Làm cho việc đưa dịch vụ vào kênh phân phối hợp lý hơn, giảm bớt các chi phí
không cần thiết trong quá trình thực hiện dịch vụ. Đây không chỉ là các biện pháp hỗ trợ
chính sách dịch vụ, giá cả và phân phối mà nó còn tăng cường hiệu quả của các chính
sách đó.
Thứ hai: Marketing là nghệ thuật giao tiếp và tranh thủ khách hàng
Mối quan hệ giữa khách hàng và ngân hàng trong thực hiện sản phẩm thực chất là
mối quan hệ giữa con người với con người nên nó mang đầy đủ các yếu tố xã hội gắn
kết với tâm sinh lý cụ thể. Trong quan hệ này có những quy luật riêng có mà sự nắm bắt
và sử dụng nó chính là nghệ thuật giao tiếp. Đây là yếu tố quan trọng để ngân hàng có
thể tranh thủ khách hàng. Làm sao để khách hàng đến với ngân hàng thực hiện giao dịch
mà không phải đến với ngân hàng khác. Việc giao tiếp giữa cán bộ ngân hàng và khách
hàng phải được xem như một chính sách bắt buộc trong chính sách xúc tiến và khuyếch
trương của ngân hàng. Việc kết hợp hài hoà giữa các công cụ khác và sử dụng tốt lợi thế
25