phát triển nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu tại ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu việt nam - chi nhánh eximbank hà nội - Pdf 10

Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Phần i: Lời mở đầu
Khuyến khích xuất khẩu là một chủ trơng lớn của Chính phủ bởi vai trò
hết sức quan trọng của nó. Tuy nhiên đến nay hoạt động xuất khẩu của các
doanh nghiệp Việt Nam vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Nổi lên cả là những khó
khăn về vốn, về khả năng cạnh tranh cũng nh thiếu thông tin về thị trờng và
đối tác. Là một ngân hàng xuất nhập khẩu Eximbank Hà Nội luôn sát cánh
với các doanh nghiệp trong lĩnh vực xuất khẩu. Ngân hàng đã có rất nhiều
hình thức tài trợ đối với các doanh nghiệp này. Tuy nhiên đến nay các hình
thức vẫn còn đơn điệu và vẫn cha có nhiều sự hỗ trợ cho doanh nghiệp.
Chính vì vậy đa dạng hoá hình thức tài trợ xuất khẩu, triển khai những dịch
vụ mới, tiện ích cho nhà xuất khẩu là hết sức cần thiết. Một trong những dịch
vụ mới rất có triển vọng với nhiều lợi ích cho cả nhà xuất khẩu, nhà nhập
khẩu cũng nh ngân hàng thơng mại là nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu.
Với chức năng tài chính, chức năng thanh toán và chức năng phòng chống
rủi ro, đây thực sự là một dịch vụ đáp ứng đợc những nhu cầu bức thiết của
nhà xuất khẩu khi tham gia vào thị trờng quốc tế. Với kết cấu ba chơng:
Chơng I: Nghiệp vụ Bao thanh toán xuất khẩu
Chơng II: Khả năng phát triển nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu tại
Eximbank Hà Nội
Chơng III: Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu tại Eximbank
Hà Nội
Hy vọng qua đề tài: Phát triển nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu tại
ngân hàng thơng mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam - chi nhánh
Eximbank Hà Nội, chúng ta sẽ có đợc cái nhìn tổng quát hơn về nghiệp vụ
bao thanh toán, đồng thời có những giải pháp thiết thực, sớm đa nghiệp vụ
này áp dụng tại Việt Nam nói chung cũng nh Eximbank Hà Nội nói riêng.
Phần ii: Nội dung
Chơng I: Nghiệp vụ Bao thanh toán xuất khẩu
1.1. Tín dụng tài trợ xuất khẩu của Ngân hàng thơng mại
1.1.1. Hoạt động xuất khẩu và vai trò của xuất khẩu trong nền kinh tế

công nghệ và kĩ thuật hiện đại. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình
công nghiệp hoá phù hợp với xu hớng phát triển của kinh tế thế giới là một
tất yếu đối với chúng ta.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với quá trình sản
xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Một là xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ
những sản phẩm thừa do sản xuất vợt quá nhu cầu nội địa. Trong điều kiện
nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển nh nớc ta, sản xuất về cơ bản còn
cha đủ tiêu dùng, nếu chỉ chủ động chờ ở sự thừa ra của sản xuất thì xuất
khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trởng chậm chạp. Hai là coi thị trờng và đặc
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
2
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
biệt thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức sản xuất. Quan điểm thứ
hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trờng thế giới để tổ chức sản xuất.
Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản
xuất phát triển. Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở nhiều mặt:
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận
lợi. Khi phát triển ngành dệt xuất khẩu sẽ tạo cơ hội đầy đủ cho việc phát
triển ngành sản xuất những nguyên liệu nh bông hay thuốc nhuộm vải Sự
phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu có thể kéo
theo sự phát triển của các ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục vụ cho nó.
- Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần cho sản
xuất tăng trởng và phát triển ổn định.
-Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
- Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế kĩ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này cho thấy xuất khẩu là phơng tiện
quan trọng tạo ra vốn và kĩ thuật, công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt
Nam, nhằm hiện đại hóa nền kinh tế của đất nớc, tạo ra những năng lực sản
xuất mới.

nhân tố phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu, trao đổi và nhanh chóng
ứng dụng công nghệ mới, thu hút vốn đầu t từ bên ngoài, nâng cao tốc độ
tăng trởng và hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.
Tóm lại đẩy mạnh xuất khẩu là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc để phát triển
kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Có nhiều biện
pháp để khuyến khích và hỗ trợ xuất khẩu. Một trong số đó là hỗ trợ các
doanh nghiệp xuất khẩu thông qua các hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu
của các ngân hàng thơng mại mà chúng ta sẽ tìm hiểu dới đây.
1.1.2. Các hình thức tín dụng tài trợ xuất khẩu của Ngân hàng thơng mại
Xét từ góc độ nghịêp vụ kĩ thuật, tài trợ xuất khẩu của ngân hàng thờng đ-
ợc chia làm hai loại theo tiến trình giao hàng của nhà xuất khẩu là: Tài trợ tr-
ớc khi giao hàng và tài trợ sau khi giao hàng.
Thứ nhất là tài trợ trớc khi giao hàng:
Hình thức tài trợ này có mục đích là tài trợ cho nhu cầu vốn lu động của
nhà xuất khẩu để sản xuất chế biến hàng xuất khẩu hay thu mua hàng xuất
khẩu, thực hiện hợp đồng ngoại thơng. ở hình thức này có các loại hình tài
trợ chính sau:
- Tài trợ cho từng thơng vụ độc lập: Loại tài trợ này dựa trên cơ sở một
đơn đặt hàng, một hợp đồng ngoại thơng hoặc một L/C đã mở. Ngân hàng sẽ
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
4
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
căn cứ vào tính hiệu quả của thơng vụ và nguồn thu hồi nợ vay để ra quyết
định tài trợ. Đây là loại hình tài trợ trớc khi giao hàng chủ yếu, hay áp dụng.
Để đợc tài trợ thì nhà xuất khẩu phải đạt đợc một số điều kiện nhất định nh:
Nhà xuất khẩu cần phải có một đơn đặt hàng, cam kết mua hàng chắc
chắn từ phía nhà nhập khẩu nớc ngoài, trong khi hàng hoá cha đợc thu
mua cũng nh sản xuất, chế biến.
Đối với những khách hàng mới hay những thơng vụ kinh doanh mặt
hàng mới, để đợc ngân hàng tài trợ khách hàng thờng phải xuất trình

những hoạt động xuất khẩu có thị trờng ổn định, thờng xuyên, không mang
tính thời vụ.
Thứ hai là hình thức tài trợ sau khi giao hàng: Hình thức tài trợ này sử
dụng khi nhà xuất khẩu có đủ khả năng tài chính để thực hiện sản xuất, thu
mua trớc khi giao hàng nhng thiếu nguồn bù đắp cho các khoản phải thu,
nhất vì trong thơng mại quốc tế, sau khi giao hàng phải mất một thời gian
nhất định thì việc thanh toán mới đợc diễn ra. Hình thức tài trợ này thờng có
sự tham gia của các công cụ nh bộ chứng từ hàng xuất, hối phiếu đã chấp
nhận còn thời hạn. Hình thức này gồm các loại hình chủ yếu sau:
- Cho vay trong khuôn khổ Th tín dụng: Ngân hàng có thể chiết khấu
hoặc ứng trớc đối với bộ chứng từ hàng xuất. Để đáp ứng nhu cầu vốn, sau
khi giao hàng, nhà xuất khẩu có thể thơng lợng với ngân hàng để thực hiện
chiết khấu hoặc ứng trớc tiền. Để đợc chiết khấu và ứng trớc, bộ chứng từ
phải phù hợp với L/C, hoặc không phù hợp nhng đợc ngân hàng nớc ngoài
chấp nhận thanh toán. Tuỳ vào chất lợng bộ chứng từ, mặt hàng xuất khẩu,
thị trờng, đối tác nhập khẩu, uy tín của ngân hàng mở L/C ngân hàng sẽ
quyết định chiết khấu có truy đòi hay miễn truy đòi. Chiết khấu bộ chứng từ
miễn truy đòi là việc dựa trên cơ sở bộ chứng từ hàng xuất, sau khi trừ chi
phí phát sinh liên quan, ngân hàng sẽ thanh toán số tiền còn lại cho nhà xuất
khẩu, bất kể phía nhà nhập khẩu có thanh toán hay không. Trờng hợp này chỉ
áp dụng với những bộ chứng từ có chất lợng tốt, mức độ rủi ro thấp. Chiết
khấu bộ chứng từ có truy đòi là việc ngân hàng dựa trên bộ chứng từ hàng
xuất, sau khi trừ chi phí liên quan, sẽ thanh toán số tiền còn lại cho nhà xuất
khẩu với điều kiện sẽ truy đòi nhà xuất khẩu nếu ngân hàng không thu đợc
tiền từ ngân hàng mở L/C. Trờng hợp này ít rủi ro hơn đối với ngân hàng th-
ơng mại tham gia chiết khấu.
- Cho vay trong khuôn khổ phơng thức nhờ thu kèm chứng từ. Trong ph-
ơng thức nhờ thu kèm chứng từ, nhà xuất khẩu uỷ thác các chứng từ về hàng
hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ khác cho ngân hàng của mình,
chuyển tới ngân hàng nhà nhập khẩu hoặc tới một ngân hàng giao dịch với

1.2. Nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu
1.2.1. Nghiệp vụ bao thanh toán
1.2.1.1.Khái niệm
Có rất nhiều những cách hiểu khác nhau về Bao thanh toán (Factoring).
Theo từ điển kinh tế (Dictionary of Economics Christopher Pass & Bryar
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
7
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Lones) Factoring là một sự dàn xếp tài chính, qua đó một công ty tài chính
chuyên nghiệp mua lại các khoản nợ của một công ty với số tiền ít hơn giá trị
của khoản nợ đó. Lợi nhuận phát sinh từ sự chênh lệch giữa tiền thu đợc của
số nợ đã mua và giá thực tế của món nợ đó. Lợi ích của công ty bán nợ là
nhận đợc tiền ngay thay vì phải chờ đến lúc con nợ trả nợ, hơn nữa lại tránh
đợc những phiền toái và các chi phí trong việc theo đuổi các con nợ chậm
trả.
Còn theo từ điển thuật ngữ ngân hàng Hans Klaus thì Factoring là
một loại hình tài trợ dới dạng tín dụng chuyển nhợng nợ. Một công ty
chuyển toàn bộ hay một phần khoản nợ cho một công ty tài chính chuyên
nghiệp. Công ty này đảm nhận việc thu các khoản nợ và theo dõi các khoản
phải thu để hởng thủ tục phí và có lúc ứng trớc các khoản nợ. Thông thờng
công ty mua nợ phải chịu mọi rủi ro mất khả năng thanh toán của món nợ.
Một khái niệm khác về Bao thanh toán cho rằng: Factoring là việc mua
lại các khoản nợ. Các công ty mua nợ mua các khoản nợ của khách hàng trên
cơ sở không truy đòi và tiến hành một số các dịch vụ khác ngoài việc ứng tr-
ớc các khoản nợ. Công ty mua nợ đánh giá mức tín dụng trong hiện tại và t-
ơng lai của ngời bán và xác lập các hạn mức tín dụng ứng trớc. Các khách
hàng đợc yêu cầu gửi trực tiếp cho công ty mua nợ bản sao hoá đơn. Khoản
ứng trớc thờng từ 80 90% trị giá hoá đơn. Khoản dự trữ 10%-20% đợc
công ty mua nợ giữ lại để phòng ngừa hàng trả lại, hàng giao thiếu, hoặc do
các yêu cầu khác của ngời mua. Thờng thờng vào cuối tháng, công ty mua nợ

hoàn trả nợ vay cho nhà Bao thanh toán nếu không thu đợc tiền bán hàng.
Hợp đồng Bao thanh toán sẽ xác định sau bao nhiêu ngày kể từ ngày đến hạn
thanh toán ngời bán hàng phải hoàn trả số tiền ứng trớc cho tổ chức Bao
thanh toán. Theo đó, chi phí đối với Bao thanh toán tơng đối sẽ thấp hơn chi
phí Bao thanh toán tuyệt đối và có thể chỉ đòi hỏi ít yêu cầu hơn từ từ phía
ngời bán và khách hàng của họ. Đó là bởi vì ngời bán là ngời gánh chịu rủi
ro từ nợ xấu. Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau.
- Hợp đồng Bao thanh toán thực hiện thanh toán trong vòng 3 tháng với
80% giá trị hoá đơn sẽ đợc ứng trớc.
- Ngày 30 4, hoá đơn phát sinh với giá trị $10.000, và tổ chức Bao
thanh toán sẽ ứng trớc nhà xuất khẩu 80% trị giá, tơng đơng $8000.
- Nhà xuất khẩu mong muốn nhà nhập khẩu sẽ thanh toán sau thời hạn 3
tháng bởi vì anh ta phải chịu trách nhiệm về những khoản nợ. Tổ chức bao
thanh toán với t cách là ngời quản lý các khoản nợ, quản lý sổ cái bán hàng
sẽ theo đuổi quá trình thanh toán cho đến ngày đáo hạn thanh toán.
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
9
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
- Vào ngày 31 tháng 7, bất kể nhà xuất khẩu có nhận đợc thanh toán từ
đối tác của họ hay không, thì $8000 phải đợc hoàn trả cho tổ chức Bao thanh
toán, đồng thời nhà xuất khẩu cũng vẫn phải thanh toán phí Bao thanh toán
và lãi suất.
Bao thanh toán tuyệt đối (Bao thanh toán miễn truy đòi non recourse
factoring)
Đối với Bao thanh toán tuyệt đối, tổ chức bao thanh toán sẽ phải gánh
chịu những rủi ro về nợ xấu. Nếu ngời mua không thanh toán, tổ chức bao
thanh toán không có quyền đòi lại tiền từ ngời bán. Do ngời bán đợc bảo
hiểm rủi ro 100%, nên bao thanh toán tuyệt đối có chi phí cao hơn bao thanh
toán tơng đối. Ngời bán sẽ không phải trả lại khoản tiền ứng trớc từ nhà bao
thanh toán nhng phải trả lãi suất cho khoảng thời gian thoả thuận bao thanh

khẩu
1.2.2.1. Vai trò của bao thanh toán xuất khẩu
Đối với rất nhiều công ty, việc bán hàng trên thị trờng quốc tế là một
thách thức lớn. Sự khác biệt về ngôn ngữ, luật pháp, hệ thống tiền tệ và
phong tục tập quán đã tạo ra những rào cản trong thơng mại quốc tế, nơi mà
dới sự hỗ trợ của công nghệ, kĩ thuật cho phép đặt hàng với bạn hàng quốc tế
chỉ trong vài giây. Một trong những vấn đề lớn nhất mà nhà xuất khẩu phải
đối mặt hiện nay là các nhà nhập khẩu quy mô, u thế thờng chỉ chấp nhận
hình thức trả sau và từ chối yêu cầu mở L/C của nhà xuất khẩu. Điều đó có
nghĩa là việc thanh toán sẽ diễn ra sau rất nhiều tuần, thậm chí là nhiều tháng
kể từ khi hàng đợc giao. Không có gì đáng ngạc nhiên khi rất nhiều doanh
nghiệp nhận thấy rằng việc cấp tín dụng cho ngời mua theo cách này có thể
dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng đối với dòng tiền. Thêm vào đó là những
vấn đề có thể phát sinh khi nhà nhập khẩu thanh toán chậm hơn nhiều so với
ngày quy định theo điều khoản đã thoả thuận ban đầu hoặc tồi tệ hơn là
không thanh toán vì những thất bại tài chính của họ. Bao thanh toán xuất
khẩu cung cấp một giải pháp đợc đánh giá là đơn giản cho những nhà xuất
khẩu, đặc biệt với những doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng nh là các doanh
nghiệp chuyên biệt. Với chuyên môn và sự hợp tác của tổ chức Bao thanh
toán tại nớc nhập khẩu, tổ chức Bao thanh toán phục vụ nhà xuất khẩu sẽ
thực hiện thu tiền từ nhà nhập khẩu. Kết quả là, sự khác biệt về văn hoá và
khoảng cách không còn là một vấn đề đối với nhà xuất khẩu. Tổ chức Bao
thanh toán cũng có thể cung cấp cho nhà xuất khẩu sự bảo hiểm rủi ro 100%
khi nhà nhập khẩu mất khả năng thanh toán.
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
11
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Những lợi ích của Bao thanh toán xuất khẩu đã đợc chứng minh và trở
thành một công cụ đợc nhiều doanh nghiệp tham gia thơng mại quốc tế quan
tâm. Ngày nay, nó đợc xem nh sự là lựa chọn hoàn hảo trong tài trợ thơng

Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
12
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
chức năng thanh toán còn có thêm nhiệm vụ và có quyền kiểm tra, giám sát
khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu. Bên cạnh đó, nhà xuất khẩu có thể
tiết kiệm đợc nhân lực lao động cho hoạt động dịch vụ thanh toán.
Thứ hai là chức năng tài chính. Tổ chức bao thanh toán xuất khẩu đảm
nhiệm chức năng tài chính tín dụng cung ứng cho nhà xuất khẩu và cơ sở để
đảm nhiệm việc này là mối quan hệ giao dịch giữa hai tổ chức bao thanh
toán ở nớc xuất khẩu và ở nớc nhập khẩu. Trên thực tế, tổ chức Bao thanh
toán xuất khẩu thực hiện hai nghiệp vụ tái tài chính là nghiệp vụ tài chính
ứng trớc và nghiệp vụ chiết khấu. Bao thanh toán là việc mua bán các khoản
thanh toán, tuy nhiên thoả thuận mua và thanh toán là tại hai thời điểm khác
nhau. Hay nói cách khác đây không phải là nghiệp vụ ca đứt hoặc tiền chao,
cháo múc, mà thực chất đây là việc chuyển giao sở hữu trong lòng tin. Mọi
tất toán nghiệp vụ chỉ đợc thực hiện một khi nhà nhập khẩu thanh toán, hoặc
nhà xuất khẩu phải thoả thuận trớc những điều kiện nghiệp vụ khác của Bao
thanh toán.
Nghiệp vụ ứng trớc tài chính. Cho dù hợp đồng bao thanh toán đợc kí kết
từ trớc, nhng ngày có hiệu lực lại là ngày thanh toán theo định kì thanh toán
của nhà nhập khẩu. Trong thời gian này nhà xuất khẩu cần vốn để tiếp tục
quá trình sản xuất có thể vay tín dụng tổ chức thực hiện Bao thanh toán.
Tổng mức tín dụng này phụ thuộc vào khả năng thanh toán của nhà nhập
khẩu, trung bình từ 70%-90% giá trị của khoản thanh toán. Chúng ta hãy xét
ví dụ sau: Một nhà xuất khẩu kí hợp đồng với nhà nhập khẩu hàng liên tục
trong 5 năm với định kì xuất hàng hàng năm là vào tháng 3 và tháng 9, với
tổng mức là 1,2 triệu USD một năm và định kì thanh toán vào 30-6 và 30-12
hàng năm. Trong trờng hợp anh ta cần vốn từ 1-4 đến 30-6, anh ta có thể vay
tổ chức Bao thanh toán khoản tín dụng này. Khoản này đợc coi là khoản tín
dụng ứng trớc. Tín dụng ứng trớc này đợc thực hiện nh tín dụng luân chuyển

cách khác, tỷ lệ này bao hàm cả lệ phí rủi ro và lãi tín dụng kể từ ngày mua
cho tới ngày định kì thanh toán. Nhng để đợc chiết khấu các khoản thanh
toán, nhà xuất khẩu phải hợp đồng dịch vụ chống rủi ro và nộp lệ phí cho
dịch vụ này. Do đó, nghiệp vụ chiết khấu không u việt nh nghiệp vụ ứng trớc
tài chính và khoong thông dụng trong hoạt động Bao thanh toán. Tuy vậy nó
cũng u thế hơn là dịch vụ chiết khấu của tín dụng chứng từ vì đây là nghiệp
vụ chiết khấu không bảo lu, trong khi chiết khấu hối phiếu trong hoạt động
tín dụng th đợc phép truy hoàn ngời phát hành hối phiếu.
Thứ ba là chức năng chống rủi ro cho nhà xuất khẩu. Với chức năng này,
các tổ chức bao thanh toán đảm nhiệm những rủi ro do khả năng không
thanh toán của nhà nhập khẩu. Những rủi ro này xảy ra một khi nhà nhập
khẩu không có đủ khả năng thanh toán trong một thời hạn quy định và khi đó
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
14
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
nhà bao thanh toán xuất khẩu không có quyền truy hoàn đối với nhà xuất
khẩu. Khác với việc bảo hiểm cho các hàng hoá khác, tổ chức bao thanh toán
phải gánh chịu mọi rủi ro mà không đợc đòi hỏi nhà xuất khẩu phải gánh
chịu một phần. Do đó ta có thể coi đây là sự bảo đảm tuyệt đối. Nhng tổ
chức bao thanh toán xuất khẩu chỉ gánh chịu những rủi ro do nhà nhập khẩu
gây ra. Họ sẽ không phải gánh chịu những rủi ro về chính trị cũng nh những
rủi ro từ chủ quan nhà xuất khẩu, nh vì lý do khống chế ngoại tệ, hoặc chính
sách phong toả kinh tế của chính phủ Vì những lý do này, nhà nhập khẩu
không thể thanh toán đợc hoặc không thể nhập hàng đợc, cũng nh những tr-
ờng hợp từ chối nhập hàng của nhà nhập khẩu khi ngân hàng xuất không
đúng hợp đồng thơng mại. Để khắc phục rủi ro này, tổ chức Bao thanh toán
đòi nhà xuất khẩu phải để lại 10-30% giá trị khoản thanh toán vào tài khoản
khống chế. Đó là cơ sở đảm bảo an toàn cho nghiệp vụ tín dụng này. Lệ phí
chống rủi ro thờng từ 0,3 đến 1% giá trị khoản thanh toán đợc chuyển nhợng.
Tuy nhiên, để đảm bảo an toàn cho khoản thanh toán và trên kết quả thẩm

nhà nhập khẩu.
Không có gì quá phức tạp về nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu. Nó đơn
giản là một dịch vụ để giảm bớt những vấn đề truyền thống của việc bán
hàng theo phơng thức mở tài khoản. Quá trình thực hiện nghiệp vụ này gồm
điều tra khả năng tín dụng của nhà nhập khẩu, xác định mức độ rủi ro tín
dụng và đa ra sự bảo hiểm 100% cho nhà xuất khẩu, thu nợ và quản lý các
khoản phải thu đồng thời tài trợ cho nhà xuất khẩu với việc ứng trớc tiền cho
những khoản phải thu. Chúng ta có thể khái quát quy trình thực hiện nghiệp
vụ bao thanh toán xuất khẩu qua các bớc nh sau:
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
16
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
(1) Thoả thuận thơng mại giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu.
(2) Nhà xuất khẩu kí kết hợp đồng bao thanh toán giao toàn bộ các khoản
phải thu đã thoả thuận cho tổ chức bao thanh toán xuất khẩu. Tổ chức bao
thanh toán sau đó phải có trách nhiệm đối vối các khoản phải thu.
(3) Tổ chức bao thanh toán xuất khẩu chọn một đại lý để hỗ trợ nh là tổ
chức bao thanh toán nhập khẩu trên quốc gia mà hàng đợc giao đến. Những
khoản phải thu sau đó sẽ đợc giao cho nhà bao thanh toán nhập khẩu.
(4) Tổ chức bao thanh toán nhập khẩu kiểm tra gián tiếp tình trạng tín
dụng và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu.
(5) Tổ chức bao thanh toán nhập khẩu thông báo kết quả kiểm tra cho tổ
chức bao thanh toán xuất khẩu.
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
Nhà xuất khẩu Nhà nhập khẩu
Tổ chức bao thanh
toán xuất khẩu
Tổ chức bao thanh
toán nhập khẩu
1

Nếu sau thời gian quy định ( có thể là 90 ngày) kể từ ngày đáo hạn mà
hoá đơn vẫn cha đợc thanh toán, tổ chức bao thanh toán nhập khẩu sẽ trả
100% giá trị hoá đơn dựa trên sự bảo lãnh đối với nhà nhập khẩu. Mỗi giao
dịch đợc thiết kế không chỉ đảm bảo không có rủi ro trong việc bán hàng của
nhà xuất khẩu mà còn cho phép nhà xuất khẩu đa ra những điều khoản hấp
dẫn hơn cho khách hàng ở nớc ngoài. Cả bên nhập khẩu và xuất khẩu đều đ-
ợc lợi, tốn ít thời gian và chi phí hơn khi thực hiện giao dịch. Trong một số
trờng hợp không cần có sự tham gia của tổ chức bao thanh toán nhập khẩu,
tổ chức bao thanh toán xuất khẩu có thể tự giải quyết đợc mọi vấn đề. Điều
này đã trở nên rất phổ biến đối với các nớc trong khối Liên minh Châu âu,
nơi mà biên giới giữa các quốc gia hầu nh không còn nữa.
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
18
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Qua phân tích trên ta thấy với chức năng và vai trò của mình, bao thanh
toán xuất khẩu đợc coi là một hình thức tài trợ xuất khẩu rất hiệu quả. Cụ thể
những lợi ích của bao thanh toán xuất khẩu đối với nhà xuất khẩu, nhà nhập
khẩu và ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này chúng ta sẽ tìm hiểu trong phần
tiếp theo.
1.2.3. Những lợi ích của Bao thanh toán xuất khẩu
Lợi ích đối với nhà xuất khẩu: Một thực tế hiển nhiên là cuộc cạnh tranh
trên thị trờng xuất khẩu đang ngày càng trở nên khắc nghiệt và các doanh
nghiệp xuất khẩu luôn phải tìm cách để nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình. Một trong những yếu tố để cạnh tranh giữa các nhà xuất khẩu là điều
kiện thanh toán. Nếu một doanh nghiệp có khả năng xuất khẩu với phơng
thức ghi sổ thì chắc chắn doanh nghiệp đó sẽ kí thêm đợc nhiều hợp đồng.
Song nếu sử dụng hình thức này trong thanh toán thì rủi ro rõ ràng đã tăng
lên. Vì vậy các doanh nghiệp chỉ chấp nhận hình thức này với các khác hàng
thật lâu năm và uy tín. Thậm chí ngay cả khi đợc đảm bảo khả năng thanh
toán từ nhà nhập khẩu thì doanh nghiệp vẫn bị khách hàng chiếm dụng vốn

có những lợi ích không nhỏ đối với nhà nhập khẩu.
Lợi ích đối với nhà nhập khẩu
Tổ chức bao thanh toán cấp hạn mức tín dụng cho ngời mua hàng trên cơ
sở thẩm định xếp hạng tín dụng của họ. Với việc cấp hạn mức này, đơn vị
bao thanh toán vừa làm chức năng là đơn vị chấp thuận tín dụng vừa là đơn
vị bảo lãnh thanh toán. Đối với phơng thức này, nhà xuất khẩu nhận đợc
những lợi ích sau:
- Nhà nhập khẩu sẽ đợc mua hàng với những điều khoản thanh toán mở
tài khoản rất thuận tiện, không cần phải mở th tín dụng (L/C). Cho đến nay,
L/C vẫn là phơng thức thanh toán đợc chấp nhận rỗng rãi nhất trong thơng
mại quốc tế, với sự đảm bảo rằng nhà xuất khẩu sẽ giao hàng phù hợp với
hợp đồng mua bán và nhà nhập khẩu sẽ trả tiền với những trách nhiệm tài
chính bắt buộc của anh ta. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là không có
hạn chế trong phơng thức này khi cả nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu đều
phải chịu những áp lực về tài chính. Nhà nhập khẩu phải kí quỹ một số tiền
không nhỏ để mở L/C. Ngoài ra còn một số các loại phí khác nh phí mở L/C,
phí đàm phán, thơng lợng
- Sức mua của nhà nhập khẩu tăng mà không cần sử dụng hạn mức tín
dụng sẵn có.
Lợi ích đối với tổ chức thực hiện bao thanh toán (ngân hàng thơng
mại):
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
20
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu, bên cạnh việc đa dạng hoá
các hình thức tài trợ xuất khẩu, các ngân hàng thơng mại còn thu đựơc một
khoản phí không nhỏ, giúp tăng doanh thu cho ngân hàng. Khoản thu từ hoạt
động này xuất phát từ hai nguồn: lãi và phí dịch vụ. Lãi suất trong nghiệp vụ
này cao hơn lãi suất thông thờng từ 1,5% đến 3%. Các khoản phí mà ngân
hàng thu đợc từ nghiệp vụ này bao gồm: phí dịch vụ trả cho việc thu nợ từ

Một là, rủi ro do chính nhà xuất khẩu cố tình gây ra. Hiện tợng này xảy ra
đợc cũng có nhiều cách và nhiều nguyên nhân của nó. Có thể nhà xuất khẩu
vì một mục tiêu nào đó không trung thực trong hoạt động, vì lợi ích của mình
họ đã móc nối với một số đối tợng khác để gây rủi ro cho ngân hàng ( tổ
chức bao thanh toán). Do họ là ngời sử dụng hoá đơn, chứng từ mua bán, họ
có thể hợp lý hoá chứng từ, tạo ra hợp đồng ma hoặc đội giá hợp đồng Nh
vậy khoản mà ngân hàng ứng trớc hay chiết khấu cho họ sẽ nhiều hơn mức
thực tế hoặc thậm chí là ứng trớc cho một hoá đơn ma. Để thực hiện ý đồ
trên, đòi hỏi phải có một hệ thống mắt xích cấu kết mới có thể tạo ra đợc.
Ngời xuất khẩu và ngời nhập khẩu có thể thông đồng với nhau, tạo ra các
chứng từ hợp lý, hợp lệ, tạo khống các khoản phải thu trên giấy tờ mà kì thực
là không có.
Hai là rủi ro xảy ra do năng lực yếu kém của nhà xuất khẩu. Nếu chỉ đơn
thuần xét năng lực của ngời xuất khẩu nh năng lực quản lý, năng lực điều
hành, tạo lợi nhuận, chiến lợc phát triển Vì một lý do nào đó, sản phẩm của
bên bán không đủ hoặc không đáp ứng đợc chất lợng đề ra nh trong hợp
đồng và nh vậy khi sản phẩm đợc bán ra không đạt yêu cầu làm cho giá trị
các khoản phải thu theo hợp đồng mua bán đã kí lại nhỏ hơn giá trị ứng trớc
của đơn vị bao thanh toán. Đây cũng là mấu chốt căn bản ảnh hởng đến lợi
ích của tổ chức bao thanh toán. Nh vậy các khoản phải thu mà tổ chức bao
thanh toán đã mua lại là một khoản nợ khó đòi.
Thứ hai là những rủi ro từ nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu ở đây là khách
hàng của bên xuất khẩu, nghiệp vụ thu nợ lúc này đợc chuyển từ ngời xuất
khẩu sang cho tổ chức thực hiện bao thanh toán. Có nghĩa là sau khi các bên
kí kết xong hợp đồng bao thanh toán và nhận các hồ sơ cần thiết ( bao gồm
các chứng từ mua bán, các hợp đồng mua bán và các hoá đơn), đơn vị bao
thanh toán sẽ nhận chuyển giao trách nhiệm thu nợ và chịu rủi ro thay cho
nhà xuất khẩu. Từ đây mọi phát sinh đợc giao dịch chủ yếu giữa hai bên là tổ
chức bao thanh toán và nhà nhập khẩu. Cũng từ đây, việc có thu đợc nợ hay
không, nguy cơ rủi ro đến đâu, đến mức nào sẽ đợc biểu hiện ở các khía cạnh

chức tín dụng mới có thể thực hiện tốt vai trò bao thanh toán của mình đối
với bên nhập khẩu và bên xuất khẩu. Tuy vậy, việc xem xét đánh giá khách
hàng nhập khẩu cũng là cả một quá trình. Nếu thẩm định không tốt thì rủi ro
xảy đến là điều tất yếu. Chất lợng thẩm định không tốt có thể do trình độ của
cán bộ thẩm định kém, có thể do khách hàng cung cấp những thông tin sai
lệch và cũng có thể do ý thức, trách nhiệm của ngời thẩm định.
Thứ t là một số rủi ro khác nh thiên tai, hoả hoạn, rủi ro về chính sách tỷ
giá, rủi ro về chính trị, rủi ro về kinh tế vĩ mô tại nớc nhập khẩu khiến nhà
nhập khẩu không thể nhập hàng
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
23
Chuyên đề thực tập Khoa Ngân hàng - Tài chính
Bao thanh toán xuất khẩu có nhiều lợi ích thiết thực, song nó cũng tiềm
ẩn nhiều rủi ro. Tuy nhiên thực hiện bao thanh toán xuất khẩu là cần thiết.
Để thực hiện có hiệu quả cao mà vẫn đạt đợc mục tiêu an toàn đòi hỏi phải
có những điều kiện nhất định từ phía ngân hàng thơng mại cũng nh những
yếu tố bên ngoài khác.
1.2.5. Điều kiện để ngân hàng thơng mại thực hiện Bao thanh toán xuất
khẩu
Trong hoạt động ngoại thơng có những đặc thù nhất định nh:
- Thông thờng hàng hoá phải di chuyển qua biên giới quốc gia.
- áp dụng các phơng thức thanh toán quốc tế nh : chuyển tiền, ghi sổ,
nhờ thu, tín dụng chứng từ
- Liên quan đến các đồng tiền khác nhau, dẫn đến việc mua bán, chuyển
đổi tiền tệ.
- Quy tắc giao dịch tuân thủ luật lệ và thông lệ quốc tế, tuy nhiên không
loại trừ những luật lệ riêng mang tính quốc gia, đòi hỏi nhà kinh
doanh phải am tờng.
- Thủ tục mua bán mang tính quốc tế là chủ yếu
Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên cùng với những rủi ro trong hoạt

nghiệp vụ mua bán ngoại tệ Chúng ta cần lu ý rằng: sẽ không hiệu quả nếu
các công đoạn của một thơng vụ lại đợc tách riêng ra để các ngân hàng khác
nhau xử lý. Điều này khó chấp nhận xét từ góc độ ngân hàng và các khách
hàng. Ví dụ: khi nhà xuất khẩu thu về bằng ngoại tệ, nhng vì không kinh
doanh ngoại hối, buộc nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ tại một ngân hàng
khác, làm cho ngân hàng tài trợ thơng vụ này bị rủi ro ở đây có một số vấn
đề cần chú ý: Một là, Những khách hàng đứng đắn luôn mong đợi từ ngân
hàng một dịch vụ hoàn hảo và hiệu quả. Hai là, chỉ khi ngân hàng cung cấp
dịch vụ hoàn hảo thì ngân hàng mới nâng cao đợc khả năng phòng chống rủi
ro và thu hút đợc nhiều khách hàng truyền thống. Ba là, hoạt động dịch vụ
ngân hàng khép kín sẽ tăng đợc phí dịch vụ và hoa hồng cho ngân hàng. Đây
đang là xu hớng hoạt động tích cực của các ngân hàng hiện đại.
Thứ ba, ngân hàng thực hiện bao thanh toán xuất khẩu phải có hệ thống
các ngân hàng đại lý rộng khắp, quan hệ chặt chẽ và không ngừng đợc củng
cố. Trong nghiệp vụ bao thanh toán xuất khẩu, đối tợng bên thứ ba ngoài nhà
xuất khẩu đợc ngân hàng hết sức quan tâm. Nhng các đối tợng nhập khẩu
này lại ở những quốc gia khác nhau, và thật khó để một ngân hàng có thể
thẩm định, theo dõi đợc tình hình của những nhà nhập khẩu này. Do đó sự hỗ
trợ của các ngân hàng đại lý với t cách là tổ chức bao thanh toán tại nớc nhập
Phạm Thị Hồng Hạnh Ngân hàng 44C
25

Trích đoạn Các hình thức tín dụng xuất khẩu tại Eximbank Hà Nội Đánh giá các điều kiện thực hiện nghiệp vụ Bao thanh toán xuất khẩu tạ Điều kiện hạn chế Định hớng tài trợ xuất khẩu của Eximbank Hà Nội giai đoạn Xu hớng phát triển Bao thanh toán xuất khẩu trên thế giới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status