Lời mở đầu
Giữa các quốc gia luôn có mối quan hệ về kinh tế và phi kinh tế. Biểu hiện
của mối quan hệ kinh tế là giao lưu hàng hoá (thương mại quốc tế), đầu tư. Mối
quan hệ phi kinh tế như viện trợ, giao lưu văn hoá, ngoại giao, chính trị. Chủ thể
tham gia vào các mối quan hệ này chủ yếu là các nhà kinh tế, ngoài ra còn có
chính phủ, cá nhân, tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Các mối quan hệ kinh tế
và phi kinh tế là cơ sở hình thành các dòng tiền chuyển dịch giữa các quốc gia.
Mối quan hệ phi kinh tế chỉ có dòng dịch chuyển một chiều mà không có dòng
dịch chuyển đối ứng. ở bài viết này chỉ xin đề cập đến mối quan hệ thuộc lĩnh
vực kinh tế mà không đề cập đến mối quan hệ phi kinh tế giữa các quốc gia.
Ngân hàng Ngoại thương với lịch sử 60 năm hình thành và phát triển. Là
ngân hàng đi đầu trong công cuộc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà
nước. Với phương châm phát triển “an toàn, hiệu quả, bền vững” và tôn chỉ
“luôn vì sự thành đạt của khách hàng”.
Với thực tế các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay hoạt động kinh doanh theo
kiểu “phi vụ, chộp giựt” rất nhiều; vậy điều gì đảm bảo để các doanh nghiệp nước
ngoài có thể tin tưởng để có thể kinh doanh mua bán với các doanh nghiệp Việt Nam,
đặc biệt là xuất khẩu hàng hoá cho phía đối tác Việt Nam nhận tiền thanh toán sau.
Ngân hàng Ngoại thương đã thực hiện thanh toán cho các đối tác ở nước ngoài như
thế nào và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những điều kiện gì để Ngân hàng
Ngoại thương đứng ra thanh toán hàng nhập khẩu thay cho các doanh nghiệp Việt
Nam; liệu trong nghiệp vụ này Ngân hàng Ngoại thương có gặp nhiều rủi ro.
Thực tế ở Việt Nam đặt ra và qua thời gian tìm hiểu ở Vietcombank với
sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Lữ hướng dẫn, em đã chọn đề tài
“hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại
thương Việt Nam” để tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu.
Đề án gồm ba chương:
1
Chương 1. Tổng quan về thanh toán nhập khẩu của các ngân hàng thương mại
Chương 2. Thực trạng thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại
nhau.
Trong thanh toán nhập khẩu các ngân hàng đóng vai trò là người đứng ra thu
hộ, chi hộ và thu phí của khách hàng nhờ thanh toán. Và ngân hàng thường cung cấp
thêm các dịch vụ đi kèm như phát hành thư tín dụng (L/C); thực hiện bảo lãnh cho
các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu hàng hoá trả tiền sau; cho vay để
thanh toán cho đối tác nước ngoài, cung cấp các dịch vụ tư vấn, làm môi giới,…
1.1.2. Sự cần thiết thanh toán nhập khẩu
Một nước có thể tự sản xuất những hàng hoá cần thiết phục vụ cho đất
nước mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường các nước nhận thấy lợi ích so
sánh về sản xuất hàng hoá của từng nước; có nghĩa là mỗi nước có lợi thế về sản
xuất một số mặt hàng nhất định vì vậy các nước tập trung sản xuất mặt hàng mà
mình có lợi thế. Vì vậy, sẽ phát sinh những mặt hàng mà trong nước không có do
không sản xuất được hoặc sản xuất được trong nước nhưng chi phí cao đòi hỏi
phải nhập khẩu từ nước ngoài. Các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu
hàng hoá và kết thúc bằng việc thanh toán tiền tệ. Do việc vận chuyển nhiều tiền
qua lại giữa các nước có thể gặp nhiều rủi ro; mặt khác xu thế phát triển của các
nước trên thế giới là các tổ chức, cá nhân đều có tài khoản ở ngân hàng. Vì vậy,
để đáp ứng yêu cầu của thực tế và các khách hàng của mình ngân hàng cần có
thêm nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu hơn nữa các ngân hàng lại có đủ khả năng
thực hiện hoạt động thanh toán.
Các tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài do xa cách
về địa lý nên gặp khó khăn khi thanh toán trực tiếp cho nhau. Hơn nữa sự bất
đồng về ngôn ngữ, khác về luật lệ trong thanh toán, chi trả và khác nhau về tiền
tệ. Vì vậy, thanh toán nhập khẩu cần được thực hiện qua hệ thống nhân hàng.
4
Về phía ngân hàng có đủ điều kiện thực hiện hoạt động thanh toán nhập khẩu
cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Ngân hàng có quan hệ trên diện rộng, trong
nền kinh tế thị trường hiện nay không có ngân hàng thương mại nào không có
quan hệ với một ngân hàng ở nước ngoài, ngân hàng có mối quan hệ trên diện
càng rộng thì càng thuận lợi cho thanh toán. Ngân hàng giữ và quản lý tài sản
1.1.3.3. Thời điểm thực hiện thanh toán
Có thể chia thời điểm thực hiện thanh toán làm các nhóm: thời điểm hàng
xuất tập trung ở cảng, hàng được bốc lên tàu, hàng ra khỏi phao số 0, hàng tới cảng.
1.1.3.4. Lựa chọn phương thức thanh toán
Các bên lựa chọn phương thức thanh toán đảm bảo quyền lợi cho các bên
tham gia thanh toán. Tuy nhiên, lựa chọn hình thức thanh toán nào thì cũng sẽ có
một bên có lợi thế hơn và một bên dễ gặp rủi ro hơn. Vì vậy, tuỳ vào từng trường
hợp cụ thể ưu thế trong giao dịch thuộc bên mua hay bên bán mà các bên lựa
chọn phương thức này hay phương thức khác.
1.1.4. Cơ sở pháp lý của thanh toán nhập khẩu
Thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung
và đối với kinh tế đối ngoại nói riêng. Có thể nói nếu không có thanh toán quốc
tế thì thì kinh tế đối ngoại không phát triển hay ít nhất chỉ tiến hành với phạm vi
hẹp và mức độ nhỏ. Tuy nhiên,do các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế thuộc
các quốc gia khác nhau nên có sự kác nhau về luật pháp, văn oá, phong tục,… vì
vậy việc thực hiện thanh toán quốc tế phải theo các quy tắc chung do phòng
thương mại quốc tế ban hành, đồng thời cũng phải chịu sự chi phối của luật pháp
từng nước có chủ thể tham gia.
6
Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam mới được hình thành
năm 1988, khi Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định
53/HĐBT chuyển ngân hàng một cấp sang hai cấp. Sau 16 năm – một khoảng
thời gian không dài – NHTM Việt Nam đã tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ cả
về số lượng, thành phần sở hữu và đặc biệt là chất lượng. Các NHTM, đặc biệt là
NHTM nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều nghiệp vụ ngân hàng quốc tế hiện
đại – trong đó có hoạt động thanh toán nhập khẩu góp phần đưa kim nghạch xuất
nhập khẩu từ 4 tỷ USD năm 1990 lên trên 55 tỷ USD năm 2004. Một thành quả
rất quan trọng là xác lập vị thế và uy tín trên trường quốc tế. So với một số nước
có nền kinh tế chuyển đổi khác, trong hoạt động ngân hàng quốc tế nói chung và
thanh toán nhập khẩu nói riêng, các NHTM Việt Nam có độ tín nhiệm cao, hầu
Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, tại Điều 3 quy định áp dụng điều ước
quốc tế và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng với nước ngoài. Tuy
nhiên, ưu tiên áp dụng luật nước ngoài, thông lệ, tập quán quốc tế khi nó không
trái với pháp luật Việt Nam.
Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt
động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định tại Điều 4: áp
dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong hoạt động thanh toán với nước ngoài.
Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ
về quản lý ngoại hối. Quy định tại Điều 3: áp dụng điều ước quốc tế, tập quán
quốc tế và pháp luật nước ngoài trong hoạt động ngoại hối với nước ngoài.
8
1.2. Các phương thức thanh toán nhập khẩu
1.2.1. Phương thức chuyển tiền
1.2.1.1. Khái niệm
Thanh toán bằng chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó bên nhập
khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho bên
xuất khẩu ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do bên nhập
khẩu yêu cầu.
Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền gồm có các bên tham gia thanh
toán:
Người yêu cầu chuyển tiền: là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực
hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Trong nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu thì
đây là nhà nhập khẩu trong nước.
Người thụ hưởng: là người được nhận số tiền chuyển tới thông qua ngân
hàng, thường là người xuất khẩu hàng hoá ở nước ngoài hoặc một người khác do
người xuất khẩu yêu cầu.
Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền: là ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu ở quốc gia nhập khẩu.
Ngân hàng trả tiền: là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng,
thông thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh của ngân hàng chuyển tiền ở
các chỉ thị trao đổi chuyển tiền đều được chuẩn hoá và bảo mật hoàn toàn.
Với hai hình thức chuyển tiền nêu trên phí dịch vụ chuyển tiền bằng thư
thấp hơn phí dịch vụ chuyển tiền bằng điện nhưng lại không nhanh và an toàn
bằng chuyển tiền bằng điện.
10
1.2.1.3. Quy trỡnh thanh toỏn
1
2 4
3
Chỳ thớch:
1- Ngi xut khu giao hng hoỏ v chuyn b chng t cho ngi nhp
khu.
2- Ngi nhp khu kim tra hng hoỏ - b chng t. Nu phự hp lp th
tc chuyn tin.
3- Ngõn hng nhn chuyn tin lp th tc chuyn tin qua ngõn hng i lý
(hoc chi nhỏnh) nhn tr tin.
4- Ngõn hng tr tin thanh toỏn tin cho ngi th hng.
Trờn õy l quy trỡnh thanh toỏn chuyn tin tr sau nu l thanh toỏn trc
thỡ bc 3 thc hin u tiờn n bc 4 ri mi n bc 1 v bc 2 cui cựng
ngi nhp khu kim tra hng hoỏ v b chng t.
V phớa ngõn hng phc v nh nhp khu khi chuyn tin i ngõn hng s
hch toỏn:
N ti khon tin gi ca khỏch hng
Cú ti khon tin gi ngoi t nc ngoi
11
Ngời yêu cầu chuyển
tiền cho ngòi mua
Ngời thụ hởng
Ngời bán
Ngân hàng nhận
2
3
Chú thích:
1- Người bán hàng hoá và dịch vụ cùng với các chứng từ.
2- Báo nợ trực tiếp.
3- Người mua dùng hình thức chuyển tiền để trả khi đến hạn.
Phương thức thanh toán mở tài khoản thường được áp dụng thanh toán trong
quan hệ bạn hàng tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau với điều kiện của thương vụ như
dùng trong mua bán hàng đổi hàng, thường xuyên, trao làm nhiều lần trong năm;
dùng trong thanh toán tiền gửi hàng bán tại nước ngoài; dùng trong thanh toán
tiền phi mậu dịch như tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng
trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho các khoản vay và đầu tư.
13
Ngêi mua Ngêi b¸n
Ng©n hµng bªn mua Ng©n hµng bªn b¸n
1.2.3. Phương thức nhờ thu
1.2.3.1. Khái niệm
Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất
khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu tiến hàng uỷ
thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở hối phiều hoặc chứng từ do người xuất
khẩu lập.
Các bên tham gia trong thanh toán nhờ thu gồm:
- Người bán (người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ): là người có yêu
cầu uỷ nhiệm thu.
- Ngân hàng nhận uỷ thác thu: là ngân hàng phục vụ bên bán.
- Ngân hàng xuất trình: là ngân hàng thu hộ, thường là ngân hàng đại lý
hoặc chi nhánh của ngân hàng uỷ nhiệm thu (ở nước người mua).
- Người trả tiền: người nhập khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng.
1.2.3.2. Phân loại
Nhờ thu có hai loại nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ.
v mỡnh thu h tin t ngi mua.
15
Ngời bánNgời mua
Ngân hàng xuất trình
Ngân hàng thu hộ
Ngân hàng nhận uỷ
thác thu
3- Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng phục vụ bên
mua nhờ thu tiền từ người mua.
4- Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu lý chấp
nhận hối phiếu.
5- Bên mua thanh toán tiền.
6- Chuyển tiền trả qua ngân hàng phục vụ bên bán.
7- Thanh toán tiền cho bên bán.
Về phía ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu sau khi trao chứng từ cho nhà
nhập khẩu, hạch toán:
Nợ tài khoản tiền gửi khách hàng hoặc tài khoản thích hợp
Có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài
Có tài khoản thu dịch vụ thanh toán
Có tài khoản thuế GTGT phải nộp
Đồng thời ghi nhận ngoại bảng
Xuất tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ nước ngaòi gửi đến đợi thanh toán
Báo nợ cho khách hàng là nhà nhập khẩu.
Về phía ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu sau khi nhận được thông báo trả
tiền, hạch toán:
Nợ tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài
Có tài khoản tiền gửi của khách hàng
Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán
Có tài khoản thuế GTGT phải nộp
Đồng thời ghi nhận ngoại bảng
Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong
L/C nếu: chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các
chứng từ mâu thuẫn nhau.
Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không qua 7 ngày
làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác minh chứng từ
phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàng phát hàng không có
quyền thông báo sai sót.
Ngân hàng không có trách nhiệm kiểm tra những chứng từ không quy định
trong L/C.
Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ phải thông báo bằng phương
tiện truyền thông trước luc đóng cửa của ngày làm việc thứ 7 và phải đưa ra lý
do từ chối.
Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi
chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin.
Thực chất của phương thức thanh toán L/C là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu
cho ngân hàng của nhà nhập khẩu vay để ngay lập tức thanh toán cho nhà xuất
khẩu.
Đối với nhà nhập khẩu để mở được L/C nhà nhập khẩu phải kí quỹ – lấy
một phần tiền gửi chuyên sang tài khoản ký quỹ mở L/C. Mức kí quỹ có thể từ
0% - 100% giá trị thanh toán của thư tín dụng. Những khoản hàng nhập ngân
hàng chấp nhận cho vay thì sẽ không phải kí quỹ. Những khoản hàng nhập ngân
hàng không chấp nhận cho vay và L/C la loại thanh toán ngay thì phải kí quỹ
100%. Thông thường mức kí quỹ là 25% cao hoặc thấp hơn là tuỳ vào từng
trường hợp và tuỳ vào mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng, đây còn là
công cụ cạnh tranh của các ngân hàng. Có kí qũy vì thời gian từ lúc nhận hàng
đến lúc thanh toán dài. Nhà xuất khẩu chỉ nhận được tiền khi chứng minh được
hàng hoá đã xuất phù hợp với những yêu cầu được thể hiện trong L/C. Ngân
18
hàng phục vụ nhà nhập khẩu phải có đủ uy tín đối với nhà xuất khẩu mới được
nhà xuất khẩu chấp nhận là ngân hàng mở L/C. Trong trường hợp ngân hàng
L/C có thể huỷ ngang là L/C đã mở nhưng nhà nhập khẩu có quyền huỷ trước
khi thanh toán mà không cần sự chấp thuận của nhà xuất khẩu. Sử dụng L/C huỷ
ngang nhà xuất khẩu dễ gặp phải những rủi ro do việc đã giao hàng nhưng nhà nhập
khẩu có thể chỉnh sửa các điều khoản hoặc huỷ bỏ L/C. Vì vậy, L/C có thể huỷ ngang
chỉ được sử dụng trong những trường hợp người mua và người bán có quan hệ tốt với
nhau hoặc việc giao nhận hàng giữa công ty mẹ và công ty con.
L/C không thể huỷ ngang là L/C đã mở hoặc không được điều chỉnh hoặc
không được huỷ bỏ nếu không được sự chấp nhận của nhà xuất khẩu. L/C không
thể huỷ ngang đảm bảo quyền lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu, thể hiện
tính ưu việt của phương thức L/C vì vậy nó được áp dụng rất rộng rãi.
Ngoài ra, còn có L/C có điều khoản đỏ, L/C tuần hoàn, L/C chuyển nhượng, L/C
giáp lưng, L/C dự phòng, L/C xác nhận, L/C trả chậm.
L/C có huỷ ngang hay không được quy định rõ trong L/C khi mở. Bộ
chứng từ L/C chuyển sang bên ngân hàng của nhà xuất khẩu phải đóng dấu huỷ
ngang. Nếu trong hợp đồng thoả thuận là huỷ ngang nhưng quên đóng dấu sẽ
được coi là không huỷ ngang.
L/C trả chậm là L/C mà nhà nhập khẩu được quyền nhận hàng, bán hàng
đi sau đó mới thanh toán tiền cho ngà xuất khẩu. Khi bộ chứng từ chuyển đến
đòi tiền bên nhập khẩu chỉ cần kí nhận chấp nhận trả tiền để nhận hàng sau đó
mới phải trả tiền sau.
1.2.4.4. Quy trình thanh toán
20
Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C
Sau khi ký hợp đồng thương mại về mua bán hàng hoá, nhà nhập khẩu
đề nghị ngân hàng phục vụ mình phát hành L/C. Ngân hàng phục vụ nhà nhập
khẩu sẽ căn cứ yêu cầu của khách hàng và hợp đồng thương mại để mở một L/C
và gửi tới ngân hàng thông báo L/C. tại ngân hàng thông báo sẽ hạch toán:
Nợ tài khoản tiền gửi của khách hàng nhập khẩu
Có tài khoản ký quỹ thanh toán L/C.
Ngân hàng thông báo kiểm tra tính hợp lệ của L/C và thông báo cho nhà
Thanh toán quốc tế là một hoạt động của ngân hàng nên nó tất yếu bị ảnh
hưởng bởi các yếu tố thuộc bản thân ngân hàng. Đặc biệt trong thanh toán nhập
khẩu thì vai trò của ngân hàng là không thể thiếu vì rất hiếm khi các bên tự thanh
22
toán tiền với nhau. Các ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán đứng ra đòi
tiền nhà nhập khẩu để thanh toán cho nhà xuất khẩu. Do đí muốn việc thanh toán
được thực hiện tốt, nhanh chóng, an toán, chính xác, kịp thời các ngân hàng cần:
Vốn: trước hết để thực hiện tốt hoạt động thanh toán nhập khẩu ngân hàng
cần có nguồn ngoại tệ đủ để có thể đáp ứng nhu cầu về thanh toán cho khách
hàng. Hơn nữa so với các hình thức thanh toán khác thì thanh toán nhập khẩu
đòi hỏi một chi phí đầu tư cao cho việc mua sắm trang thiết bị và công nghệ hiện
đại vì thế vốn là điều kiện đầu tiên và vô cùng quan trọng để bắt kịp với những
tiến bộ về công nghệ thanh toán trên thế giới.
Nhân lực: là một phương tiện thanh toán hiện đại, thanh toán nhập khẩu
mang tính tiêu chuẩn hoá cao, có quy trình thanh toán thống nhất. Vì vậy, đòi hỏi
cán bộ ngân hàng phải có một trình độ phù hợp với yêu cầu của thanh toán nhập
khẩu như trình độ về chuyên môn thanh toán, về ngoại ngữ, về luật pháp,… Hơn
nữa, trình độ của nhân viên cũng là một trong các yếu tố quan trọng để thu hút
khách hàng. Với nhân viên có trình độ cao sẽ thoả mãn nhu cầu khi khách hàng
tìm đến vì vậy khách hàng sẽ có xu thế tiếp tục đến với ngân hàng và giới thiệu
với những người quen về dịch vụ thanh toán nhập khẩu ở ngân hàng. Hoặc
ngược lại khi khách hàng không được hài lòng.
Vị thế và quan hệ của ngân hàng ở trong nước và trên thị trường thế giới:
vị thế của ngân hàng ở trong nước sẽ quyết định số lượng khách hàng đến với
ngân hàng. Thanh toán nhập khẩu rất quan trọng đối với một doanh nghiệp do số
tài sản lớn của doanh nghiệp nằm ở lô hàng đó; do vây quyết định của doanh
nghiệp khi lựa chọn ngân hàng phục vụ mình là dựa vào lý trí mà không vì tình
cảm. Vì vậy, vị thế của ngân hàng rất quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân
hàng của nhà nhập khẩu. Hơn nữa, nếu ngân hàng không có vị thế trên trường
quốc tế thì không đủ tin cậy cho nhà xuất khẩu vì vậy nhà xuất khẩu có thế
số thanh toán nhập khẩu lớn hơn so với doanh số thanh toán xuất khẩu.
Ngoài ra, vị trí địa lý của một quốc gia thuận lợi sẽ tiết kiệm được thời
gian và chi phí, hạn chế rủi ro vận chuyển trong hoạt động ngoại thương.
Tỉ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương và ảnh
hưởng đến thanh toán nhập khẩu. Tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ thay
đổi sẽ làm thay đổi hoạt động ngoại thương. Khi tỷ giá giảm làm giảm giá trị của
đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ khi đó chi phí để mua cùng một loại hàng hoá ở
trong nước sẽ rẻ tương đối hơn so với mua ở nước ngoài vì vậy sẽ có xu hướng
thúc đẩy nhập khẩu của một nước. Ngược lại khi tỷ giá tăng làm tăng giá đồng
ngoại tệ so với đồng nội tệ sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu.
Tình hình chính trị xã hội của một quốc gia cũng ảnh hưởng tới thanh
toán nhập khẩu. Chính trị ổn định hay không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển
kinh tế của một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà
đầu tư vì chính trị bất ổn gắn với rủi ro cao trong vân chuyển, giao nhận hàng
hoá, thanh toán… nên tất yếu sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cũng như
quyết định xuất nhập khẩu của đơn vị. Khi nền kinh tế có tình hình chính trị xã
hội ổn định thì hoạt động kinh tế sẽ có một nền tảng vững chắc để phát triển. Sự
bất ổn định của chính trị xã hội sẽ làm trì trệ và tàn phá nền kinh tế. Trong mua
bán ngoại thương thì rủi ro do chính trị xã hội bất ổn định là những rủi ro bất khả
kháng vì thông thường không có bảo hiểm cho những rủi ro thuộc loại này. Do
vậy, trong bất kỳ trường hợp nào thì các nhà kinh doanh đều tránh giao dịch với
các tổ chức kinh tế tại các quốc gia có tình hình kinh tế xã hội không ổn định.
Chủ trương chính sách ngoại thương của nhà nước có tác dụng khuyến
khích hay hạn chế hoạt động nhập khẩu và nó có tác động trực tiếp hay gián tiếp
25