Thực trạng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ dùng trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam - Pdf 21

Phần mở đầu
Trong điều kiện Việt Nam vừa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,
hội nhập với nền kinh tế thế giới, nhu cầu thanh toán quốc tế giữa các doanh
nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu trong và ngoài nước qua các ngân hàng là rất
lớn. Phương thức thanh toán chủ yếu được các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu chọn lựa là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ.
Nhìn chung, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh
toán an toàn nhất cho cả doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu và cả
ngân hàng. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một trong các phương
thức thanh toán trong hoạt động thanh toán quốc tế, một hoạt động vừa mang lại
thu nhập cho ngân hàng, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cho toàn xã hội. Việc
thực hiện phương thức này trong thực tế như thế nào để mang lại hiệu quả kinh
tế cao cho các bên tham gia là vấn đề mà các nhà quản trị ngân hàng và các
doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu đang còn phải nghiên cứu.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, em chọn đề tài “Thực trạng phương thức
thanh toán tín dụng chứng từ dùng trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng
Ngoại thương Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho mình.
Đề án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế
Chương 2: Thực trạng về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại Ngân
hàng Ngoại thương Việt Nam
Chương 3: Những giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng phương
thức tín dụng chứng từ tại ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ rất phức tạp, bao gồm nhiều quy
trình khác nhau. Do còn giới hạn về kiến thức nên đề tài chưa nghiên cứu sâu
sắc về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và em hy vọng sẽ có cơ hội
nghiên cứu sâu hơn vấn đề này ở những đề tài tiếp theo.
Em xin chân thành cảm ơn thầy!
1
Chương 1: Tổng quan về thanh toán quốc tế
I- Khái quát chung về thanh toán quốc tế

1.1. Điều kiện tiền tệ
Hoạt động ngoại thương liên quan ít nhất đến hai loại đồng tiền khác nhau và
mục tiêu tiền tệ của người xuất khẩu cũng như người nhập khẩu là không giống
nhau. Cho nên, cần thiết phải có những điều kiện tiền tệ thanh toán trong quan
hệ ngoại thương.
Điều kiện tiền tệ là những điều kiện mà hai bên thoả thuận đưa ra, bao gồm
việc chọn lựa đồng tiền tính toán và đồng tiền thanh toán, cũng như các quy định
về cách xử lý như thế nào khi có sự biến động sức mua của các đồng tiền đó.
Đồng tiền tính toán là đồng tiền biểu hiện giá cả và xác định giá trị hợp đồng
mua bán. Nó là đồng tiền của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc của nước
2
thứ ba. Tuy nhiên, hai bên thường thoả thuận dùng đồng tiền có tính tương đối
ổn định nhằm đảm bảo tính vững chắc giá trị hợp đồng.
Đồng tiền thanh toán là đồng tiền dùng để chi trả hợp đồng hay thanh toán nợ
giữa hai bên. Thông thường nước xuất khẩu thích đồng tiền mạnh hay đồng tiền
tự do chuyển đổi, còn nước nhập khẩu lại thích thanh toán bằng đồng tiền mình
đang có sẵn hoặc đồng tiền của chính nước mình để tiết kiệm ngoại tệ và tránh
rủi ro tỷ giá.
1.2. Điều kiện về địa điểm thanh toán
Điều kiện này quy định việc trả tiền được thực hiện ở nước xuất khẩu, nước
nhập khẩu hay một nước thứ ba nào đó do hai bên quyết định.Trong thanh toán
quốc tế, các nước đều muốn lấy nước mình làm địa điểm thanh toán vì những lý
do như: thu tiền nhanh, ngân hàng thu được các lệ phí nghiệp vụ.
1.3. Điều kiện về thời gian thanh toán
Điều kiện thời gian thanh toán trong ngoại thương có thể thoả thuận là một
trong ba điều kiện sau đây: trả trước, trả ngay và trả sau.
- Trả trước: bên nhập khẩu trả tiền một phần hay toàn bộ cho bên xuất khẩu
trước khi giao nhận hàng hoá. Mục đích trả trước là để người nhập khẩu cung
cấp tín dụng thương mại ngắn hạn cho người xuất khẩu hoặc để ràng buộc người
nhập khẩu phải thực hiện hợp đồng.

phiếu theo luật định.
1.6. Séc
Theo công ước quốc tế ký về Séc năm 1931: “Séc là tờ lệnh trả tiền vô điều
kiện của chủ tài khoản yêu cầu ngân hàng trích từ tài khoản của mình trả cho
người thụ hưởng (có ghi trên Séc) một số tiền nhất định”.
Séc là mệnh lệnh trả tiền liên quan đến nhiều người nên phải được ghi rõ
ràng, phải bao gồm đầy đủ nội dung sau:
- Tiêu đề.
- Số tiền của tờ séc: phải ghi rõ ràng bằng số và bằng chữ.
- Địa điểm và ngày tháng phát hành séc.
- Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản của người phát hành séc.
- Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản (nếu có) của người thụ hưởng.
- Chữ ký của người ký phát.
1.7. Kỳ phiếu
Kỳ phiếu là một chứng khoán mà người ký phát cam kết trả một số tiền nhất
định vào một thời điểm nhất định cho người thụ hưởng (có ghi trên kỳ phiếu)
hoặc cho một người khác theo lệnh của người thụ hưởng.
Nội dung của kỳ phiếu bao gồm các khoản mục sau:
- Tiêu đề.
- Cam kết trả tiền.
- Số tiền phải trả.
- Thời hạn trả tiền.
- Địa điểm trả tiền.
- Tên, địa chỉ người hưởng lợi.
- Thời gian và địa điểm ký phát.
- Chữ ký của người ký phát.
4. Các phương thức thanh toán quốc tế chủ yếu
Trong ngoại thương, việc thanh toán giữa các nhà xuất khẩu và nhập khẩu
thuộc hai quốc gia khác nhau phải được tiến hành thông qua ngân hàng bằng
những phương thức thanh toán nhất định.

hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng)
cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc trả theo lệnh của
người này hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền
đó, với điều kiện người này thực hiện đầy đủ các yêu cầu của thư tín dụng và
xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong
thư tín dụng.
Nhìn chung, phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là phương thức thanh
toán an toàn nhất cho cả doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu và cả
ngân hàng. Đồng thời, đây cũng là phương thức thanh toán phức tạp nhất, đòi
hỏi các bên tham gia phải am hiểu về thanh toán quốc tế nói chung và về nghiệp
vụ thanh toán tín dụng chứng từ nói riêng. Tuy nhiên, đây cũng không phải là
phương thức thanh toán tuyệt đối an toàn nên các doanh nghiệp kinh doanh xuất
nhập khẩu cũng như ngân hàng cần phải thận trọng.
II- Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
1. Khái niệm
Tín dụng chứng từ là phương thức thanh toán trong đó một ngân hàng (ngân
hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thư tín dụng)
cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người thụ hưởng hoặc trả theo lệnh của
người này hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền
đó, với điều kiện người này thực hiện đầy đủ các yêu cầu của thư tín dụng và
5
xuất trình được bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định nêu ra trong
thư tín dụng.
2. Cơ sở pháp lý
Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ thường căn cứ vào các văn
bản pháp lý để thực hiện cho đúng, đảm bảo hiệu quả và an toàn cho hoạt động
thanh toán quốc tế. Các văn bản pháp lý thường gặp là:
1.1.UCP
Đây là quy tắc thống nhất về tập quán và thực hành tín dụng chứng từ do
Phòng Thương mại quốc tế ban hành lần đầu tiên năm 1933. Để ngày càng phù

- Người xin mở thư tín dụng (L/C): là người nhập khẩu hàng hoá.
- Ngân hàng mở L/C: là ngân hàng phục vụ người nhập khẩu, ngân hàng này
cung cấp tín dụng và đứng ra cam kết trả tiền cho người xuất khẩu.
6
- Người thụ hưởng: là người xuất khẩu hay người nào khác do người xuất
khẩu chỉ định.
- Ngân hàng thông báo L/C: là ngân hàng đại lý cho ngân hàng mở L/C và
phục vụ cho người thụ hưởng.
Ngoài ra, trong vài trường hợp đặc biệt có thể có thêm các bên khác tham gia
như ngân hàng xác nhận và ngân hàng trả tiền.
4. Nội dung
Về mặt thủ tục pháp lý, hiện tại phương thức tín dụng chứng từ được thực
hiện theo “Điều lệ và cách thức thực hành thông nhất về tín dụng chứng từ” do
Văn phòng Thương Mại Quốc Tế phát hành năm 1993, gọi tắt là UCP 500.
Toàn bộ nội dung và quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng
chứng từ được mô tả ở sơ đồ sau:
Quy trình thực hiện phương thức thanh toán tín dụng chứng từ được thực
hiện theo các bước sau:
(1) Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký kết hợp đồng thương mại.
(2) Người nhập khẩu làm thủ tục xin mở L/C yêu cầu ngân hàng mở L/C cho
người xuất khẩu thụ hưởng.
(3) Ngân hàng mở L/C theo yêu cầu của người nhập khẩu và chuyển L/C sang
ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết.
(4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã
được mở.
(5) Dựa vào nội dung của L/C, người xuất khẩu giao hàng cho người nhập
khẩu.
(6) Người nhập khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào
ngân hàng thông báo để được thanh toán.
(7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang ngân hàng mở

toán quốc tế làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của thanh toán quốc tế.
Rủi ro trong thanh toán L/C hàng xuất khẩu: do sự thiếu xót của ngân hàng
trong khâu kiểm tra chứng từ hàng xuất, sự dễ dãi của người xuất khẩu trong
kiểm tra, xem xét, chấp nhận nội dụng L/C đã cho qua các bất lợi như: ngày và
nơi hết hiệu lực L/C tại ngân hàng phát hành. Ngân hàng trong nước chỉ đóng
vai trò ngân hàng xuất trình, người bán không chủ động trong sửa chữa sai sót,
quyền định đoạt chứng từ thuộc về ngân hàng phát hành. Người mua và ngân
hàng mở L/C có thể dựa vào bất hợp lệ của chứng từ để trút bỏ trách nhiệm
thanh toán dẫn đến tranh chấp kéo dài gây thiệt hại cho nhà xuất khẩu, ảnh
hưởng đến chất lượng của hoạt động thanh toán quốc tế.
Rủi ro trong thanh toán hàng nhập khẩu: người bán giao hàng không đúng
hợp đồng, không giao hàng nhưng vẫn lập bộ chứng từ phù hợp với L/C để đòi
tiền người mua đã được ngân hàng cho vay thanh toán L/C hàng nhập nên cũng
bị vạ lây.
6. Thư tín dụng
1.4. Khái niệm
Thư tín dụng (gọi tắt là L/C) là văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng theo
yêu cầu của khách hàng đứng ra cam kết sẽ trả cho người hưởng thụ một số tiền
nhất định nếu người này xuất trình bộ chứng từ phù hợp với những quy định đã
nêu trong văn bản đó.
L/C được tạo lập trên cơ sở hợp đồng thương mại giữa người mua, người bán
và giấy đề nghị mở L/C do người mua lập và nộp vào ngân hàng. Phần lớn các
điều khoản trên L/C xuất phát từ các nội dung cơ bản của hợp đồng ngoại
thương, nhưng khi L/C đã được mở thì nó hoàn toàn độc lập với hợp đồng
thương mại đó.
8
1.5. Phân loại
Trong buôn bán quốc tế có thể áp dụng rất nhiều loại thư tín dụng khác nhau
tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, có một số loại thư tín dụng thường
gặp trong thanh toán quốc tế như:

1.3. Nội dung của L/C
Thư tín dụng được lập trên cơ sở đơn xin mở thư tín dụng, nội dung của L/C
bao gồm các nội dung sau:
- Số hiệu L/C: mỗi L/C đều có số hiệu riêng, dùng để ghi vào các chứng từ
thanh toán và là cơ sở trao đổi thông tin của các đối tượng liên quan.
- Địa điểm mở L/C: là địa điểm mà ngân hàng cam kết trả tiền cho người
xuất khẩu.
- Ngày mở L/C: là ngày ngân hàng chính thức nhận đơn xin mở L/C của
người nhập khẩu, ngày bắt đầu thời hạn hiệu lực của L/C.
9
- Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến tín dụng chứng từ: người xin
mở L/C, người thụ hưởng L/C, ngân hàng mở L/C, ngân hàng thông báo, ngân
hàng xác nhận, ngân hàng thanh toán…
- Loại L/C: có nhiều loại L/C nên cần phải ghi rõ loại L/C nào. Theo UCP
500, nếu không ghi gì thì được coi như là L/C không thể huỷ ngang.
- Số tiền: phải ghi cả số và chữ, đồng thời phải có ghi đơn vị tiền tệ rõ ràng.
Không nên ghi bằng số tuyệt đối.
- Thời gian và nơi hết hiệu lực L/C. Thời hạn hiệu lực của L/C được tính từ
ngày mở L/C cho đến ngày hết hiệu lực thanh toán L/C. Thời hạn hết hiệu lực là
thời hạn sau ngày giao hàng một khoảng nhất định tuỳ theo quy định cụ thể
trong L/C.
- Mô tả hàng hoá, dịch vụ: tên hàng, quy cách, số lượng hoặc trọng lượng
hàng hoá, giá cả hàng hoá.
- Các chứng từ yêu cầu: phải quy định rõ ràng bao gồm những loại chứng từ
nào, số lượng bao nhiêu.
- Thời hạn xuất trình chứng từ: phải nằm trong thời gian hiệu lực của L/C.
- Thời hạn trả tiền: tuỳ theo từng quy định cụ thể, có thể nằm ngoài thời gian
hiệu lực của L/C.
- Thời hạn giao hàng: tuỳ theo phương tiện vận tải mà thời hạn giao hàng là
khác nhau.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status