LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa
học Nhà giáo nhân dân, PGS, TS Vũ Đức Thu, người thầy đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi, người đã đưa ra những ý tưởng khoa
học và định hướng nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, các
cộng sự trong nhóm làm việc, các đồng nghiệp đã có những chia sẻ, những
thảo luận khoa học và những lời nhận xét bổ ích giúp đỡ tôi.
Đồng thời tôi xin cảm tới Phòng Sau đại học, Thư viện, và hơn nữa
là các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục thể chất trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, những người thân trong gia đình, các bạn học viên lớp Cao học
Giáo dục thể chất K19 đã động viên, đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện
thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, hoàn thành luận văn và
bảo vệ luận văn thạc sĩ.
Hà Nội, tháng 8 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Điểm
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
cm : centimet
dm : Đềximét
GDTC : Giáo dục thể chất
kg : Kilôgam
m : Mét
mm : Milimet
PHVĐ : Phối hợp vận động
RLTT : Rèn luyện thân thể
s : Giây
SV : Sinh viên
TDTM : Thể dục thẩm mỹ
TDTT : Thể dục thể thao
VĐV : Vận động viên
chỉ đạo ngành TDTT nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục
tiêu quan trọng này.
1
Luật thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua tại
kì họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản pháp lí quan trọng đối
với công tác quản lí thể dục, thể thao trong thời kì đổi mới, tạo hành lang
pháp lí cho thể dục, thể thao Việt Nam phát triển đúng định hướng: Vì sức
khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Vấn đề này được Đảng và Nhà nước ta khẳng định ngay từ những năm
đầu đổi mới (1986), đòi hỏi người Việt Nam “Phát triển cao về trí tuệ,
cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần”. Trong giai đoạn này các
cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế
tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản
xuất. Vì vậy trong nghị quyết Trung Ương II khoá VII của Đảng. Nghị
quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo khẳng định: Giáo dục đào tạo cùng với
khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; Là động lực và điều kiện để
thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội; Là chìa khóa để mở cửa tiến vào
tương lai; Là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Là điều kiện để phát huy nguồn
lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững.
Trong hệ thống các nhân tố phát triển giáo dục thì Thể dục thể thao
nói chung và Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học nói riêng là một
mặt giáo dục hết sức quan trọng trong mục tiêu của nền giáo dục nước ta.
Bởi vì sức khỏe là nguồn tài sản vô cùng quý giá của mỗi cơ thể con nguời.
Muốn có sức khoẻ và sống lâu không chỉ dựa trên cơ sở làm trẻ lại một cơ
thể già cỗi và suy nhược mà phải tìm ra biện pháp điều hoà hệ thống các cơ
quan trong cơ thể để tăng cường thể lực ngay từ khi cơ thể còn non trẻ. Sức
khoẻ không chỉ là nguồn hạnh phúc riêng của từng người, nó còn có ý
nghĩa chiến lược của cả một dân tộc.
thể lực tốt để hoàn thiện nội dung học tập. Thêm vào đó các em rất cần thể
lực để có thể thực hiện các nhiệm vụ khác trong cuộc sống. Chính vì lẽ đó
việc nâng cao thể lực cho nữ sinh viên trường đại học Tây Bắc là một vấn
đề hết sức cấp thiết.
Nhằm thực hiện tốt chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/3/1994 của ban bí thư
Trung Ương Đảng trong việc định hướng phát triển TDTT trong giai đoạn
mới là: “Phát triển TDTT là một bộ phận không thể thiếu được trong chính
sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta”, chỉ thị số 17-
CT/TW của Ban bí thư Trung Ương Đảng các cấp lãnh đạo trường Đại học
Tây Bắc nói chung và khoa TDTT nói riêng nhận thấy bên cạnh việc thực
hiện chương trình GDTC nội khóa cho sinh viên một cách đầy đủ thì công
tác tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên là một việc vô cùng
cấp bách và cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay việc học tập theo tín
chỉ làm cho chương trình học tập môn GDTC chỉ còn thu gọn trong hai kì
học, điều này có một phần ảnh hưởng tới hiệu quả rèn luyện thể lực của
sinh viên. Thể lực của sinh viên chưa tương ứng với yêu cầu phát triển thể
lực và tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Đặc biệt với đối tượng là nữ sinh của
trường việc tập luyện thể thao ngoại khóa nhằm mục đích rèn luyện sức
khỏe lại càng cần thiết nhưng hoạt động này lại diễn ra rất ít. Qua xem xét
thực tế chúng tôi nhận thấy cần phải có một hình thức tập luyện thể thao
ngoại khóa cho đối tượng là nữ sinh của trường Đại học Tây Bắc nhằm
giúp các em có sự chuẩn bị tốt về thể chất cho tương lai.
Theo chương trình GDTC hiện hành trong các trường Đại học và
Cao đẳng (ban hành theo quyết định số 203/TDTT của Bộ Đại học, Trung
học chuyên nghiệp và Dạy nghề nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày
(23/01/1989) và quy chế GDTC và Y tế trường học (ban hành theo quyết
định số 14/2001/QĐ: Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 05/03/2001) và Luật
Thể Thao (2006) thì GDTC trường học được tiến hành với nhiều phương
tiện phong phú trong đó thể dục thẩm mỹ là một loại hình thể dục vì mục
4
Ứng dụng bài tập và các hình thức tổ chức tập luyện thể dục thẩm mỹ
nhằm nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc.
4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở chương trình giảng dạy giáo dục thể chất hiện hành cho
nữ sinh trường đại học Tây Bắc. Từ đó ứng dụng hệ thống bài tập thể dục
thẩm mỹ vào hoạt động thể thao ngoại khóa cho các em nhằm góp phần
nâng cao thể lực cũng như tạo điều kiện điều chỉnh theo hướng hoàn thiện,
cân đối hình thái cơ thể các em.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu
Thông qua quá trình đọc các tài liệu có liên quan, các tài liệu chuyên
ngành đối với lĩnh vực TDTT và TDTM đề tài tiến hành phân tích, hệ
thống các tài liệu, giáo trình, chương trình, từ đó xây dựng cơ sở lý luận
cho đề tài.
5.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Để hoàn thành việc nghiên cứu, đề tài tiến hành quan sát các vấn đề sau:
- Quan sát thực trạng về việc giảng dạy của giáo viên.
- Quan sát việc học tập của sinh viên.
Thông qua đó nhằm tìm hiểu hiệu quả của việc nâng cao thể lực cho
đối tượng nghiên cứu.
5.3. Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Là phương pháp thu nhận thông tin thông qua hỏi – trả lời giữa người
nghiên cứu vối đối tượng nghiên cứu về vấn đề quan tâm. Đề tài sử dụng
phương pháp phỏng vấn gián tiếp và trực tiếp với đối tượng lựa chọn. Đối
tượng phỏng vấn là các chuyên gia trong lĩnh vực TDTM, các giáo viên
trực tiếp tham gia giảng dạy GDTC tại trường Đại học Tây Bắc, trường
Cao đẳng Sư phạm Sơn La và các sinh viên trong trường nhằm thu thập các
thông tin có liên quan đến đề tài, phát hiện thực trạng và nguyên nhân, từ
6
đó tìm ra các biện pháp nâng cao thể lực cho nữ sinh viên Trường Đại học
+ Loại trung bình: 150 - 160cm
+ Loại cao: trên 160cm
5.4.2. Cân nặng (kg)
Cân nặng cũng là một chỉ tiêu được sử dụng nhiều trong quá trình
kiểm tra cơ bản về hình thái, sinh lí của cơ thể. Cân nặng nói lên mức độ, tỉ
lệ hấp thụ và tiêu hao năng lượng. Cân nặng là một yếu tố góp phần nói lên
trình độ thể lực của người tập.
- Dụng cụ: Cân y học với độ chính xác tới 100g.
- Phương pháp đo: Người được đo ngồi trên ghế đối diện cân, đặt hai
chân lên trên cân và đứng thẳng lên. Người đo đọc số đo trên đồng hồ cố định.
5.4.3. Vòng bụng (cm)
Đo ở vị trí bé nhất của bụng.
5.4.4. Chỉ số Quetelet (kg/dm)
Chỉ số Quetelet không dùng hiệu số cao - nặng, mà dùng thương số
cân nặng (kg)/chiều cao (dm). Đây là tỉ lệ giữa cân nặng và chiều cao của
một người, nói một cách khác, chỉ số cho biết sức nặng của một đơn vị chiều
cao một đêximet (1dm) của một người, chỉ số này có ưu điểm là cho phép ta
so sánh được sức nặng tương đối của mọi người có chiều cao khác nhau.
5.4.5. Chỉ số BMI
Để giữ cho cân nặng tương xứng với chiều cao, tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
đã đưa ra công thức tính chỉ số khối cơ thể (Body mass Index- viết tắt BMI)
Gọi W là cân nặng, tính bằng kilogam (kg)
H là chiều cao, tính bằng mét (m) thì trung bình cân nặng sẽ theo công
thức sau:
2
W
BMI
H
=
ít nhất có khoảng trống 10m để hoãn xung khi về đích. Kết quả được tính
bằng giây và chính xác đến 1/100 (s).
Người thực hiện đứng tại vạch xuất phát với tư thế xuất phát cao,
khi nghe lệnh xuất phát người thực hiện nhanh chóng rời vạch xuất phát,
dùng kĩ thuật chạy cụ li ngắn để chạy nhanh qua vạch đích. Đồng hồ bấm
chạy khi có lệnh xuất phát và bấm dừng khi người chạy chạm mặt phẳng
thẳng góc vạch đích.
5.5.3. Nằm ngửa gập bụng (lần)
9
Dùng để đánh giá sức mạnh cơ bụng. Kết quả được đánh giá bằng số
lần thực hiện trong 30 (s).
Thực hiện test: Người thực hiện ngồi trên sàn phẳng, chân co ở gối
90
o
, bàn chân áp sát mặt sàn, các ngón tay đan chéo vào nhau, lòng bàn tay
áp chặt sau đầu, khuỷu tay chạm gối. Người hỗ trợ giữ 2 bàn chân để người
thực hiện không rời hai bàn chân khỏi sàn. Khi có hiệu lệnh bắt đầu, người
thực hiện ngả người, lưng và bả vai chạm sàn, sau đó nhanh chóng gập
người về tư thế ngồi, hai khuỷu tay chạm đùi.
Kết quả được tính bằng số lần từ khi có hiệu lệnh bắt đầu đến khi kết
thúc 30 (s).
5.5.4. Bật xa tại chỗ (cm)
Dùng để đánh giá sức mạnh bột phát.
Được tiến hành ở hố nhảy xa.
Thực hiên test: Sinh viên đứng trên ván dậm nhảy, mặt hướng vào hố
nhảy, hai bàn chân song song với nhau, trọng tâm dồn đều vào hai chân,
ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn, giơ tay lên cao, hạ thấp trọng tâm, gối
hơi khuỵu, gập chân, người hơi đổ về trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống
và ra sau, dùng hết sức và phối hợp toàn thân, bật nhảy xa ra trước, hai
chân tiếp đất cùng một lúc.
thúc 30 (s).
5.6. Phương pháp toán học thống kê
Đề tài tiến hành sử dụng phương pháp này nhằm xử lí các số liệu thu
thập được trong quá trình nghiên cứu. Trong quá trình xử lí số liệu đề tài
tiến hành sử dụng các chỉ số
x
, ±δ, t với công thức sau:
Số trung bình cộng:
i
x
x (n 30)
n
= ≥
∑
Phương sai:
i
2
(x x)
x (n 30)
n
−
δ = ≥
∑
Độ lệch chuẩn:
2
i
2
x x
(x x)
x (n 30)
học Tây Bắc và Cao đẳng Sư phạm Sơn La cùng các chuyên gia trong lĩnh
vực TDTM.
6.3. Thời gian nghiên cứu
- Giai đoạn 1: Từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 11 năm 2010
Đọc và tham khảo tài liệu, xác định tên đề tài, xây dựng đề cương,
báo cáo đề cương trước hội đồng khoa học.
- Giai đoạn 2: Từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011
Tiếp tục thu thập tài liệu, lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập thể
dục thẩm mỹ vào giảng dạy, lấy số liệu và phân tích số liệu để giải quyết
các nhiệm vụ của đề tài.
- Giai đoạn 3: Từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 11 năm 2011
Hoàn thiện đề tài, báo cáo trước hội đồng khoa học của trường Đại
học Sư phạm Hà Nội.
- Địa điểm nghiên cứu:
Trường Đại học Tây Bắc
Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
12
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể chất và phát triển thể
chất trong các trường Đại học
Ngày nay việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện cả về “ Đức –
Trí – Thể – Mĩ – Lao động” được xem là quốc sách hàng đầu. Trong đó
vấn đề phát triển thể lực cũng là một trong những vấn đề đòi hỏi sự quan
tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta. Các quan điểm của Đảng về phát
triển TDTT là những định hướng cơ bản để xác định vị trí và mối quan hệ
của toàn bộ sự nghiệp TDTT đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã
hội và các mối quan hệ nội tại của TDTT. Vì vậy đó chính là các cơ sở để
lựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quy
hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một thời kỳ tương đối
trong nhà trường các cấp được hiểu là “quá trình sư phạm nhằm giáo dục,
đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả năng
làm việc và kéo dài tuổi thọ của con người”.
Trong đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã mở đầu cho công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước Về TDTT, nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
VI đã đề cập đến các vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng trong các lĩnh
vực: TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao. GDTC trong các trường học
và phát triển lực lượng VĐV trẻ. Nghị quyết cũng ghi rõ: “…Mở rộng và
nâng cao chất lượng, phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa rèn
luyện thân thể thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta, trước
hết là thế hệ trẻ nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học ”.
Trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Nghị quyết TW4 khóa VII năm 1993 đã bàn chuyên đề về Giáo
14
dục - Đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu
chuẩn bị tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa Nghị quyết đã một lần nữa
nhấn mạnh sức khỏe thể chất và tinh thần được coi như vốn quý của con
người và xã hội. Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 về công tác giáo dục
thể chất trong giai đoạn mới đã nêu rõ: “… cải tiến chương trình giảng dạy,
tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các
cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ bắt
buộc ở tất cả các trường học…” chỉ thị này của Ban Bí thư đã yêu cầu Bộ
Giáo dục - Đào tạo phối hợp với ngành TDTT tổng kết đánh giá công tác
GDTC để tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phát
triển thể chất cho học sinh, sinh viên trong các trường học.
Văn kiện đại hội VIII của đảng đã chỉ rõ: “Phát triển phong trào
TDTT sâu rộng trong cả nước, trước hết là trong thanh thiếu niên, tạo
sự chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả của GDTC trong
trường học ”.
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
hợp với nguyên tắc sư phạm.
Hoặc: GDTC là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định
hướng rõ ràng của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung.
Cũng có khi thì: GDTC là dòng kênh để chuyển giao những giá trị văn
hóa thể chất của thế hệ này cho thế hệ khác, đồng thời đó cũng là một trong
những con đường làm tăng thêm giá trị văn hóa thể chất, vì rằng thế hệ trẻ
không tiếp thu một cách đơn giản, thụ động những gì đã có trước đó, mà
khi đã tiếp thu chúng họ sẽ phát triển lên và tiến tới những thành tựu mới.
Hay như về mặt luật pháp thì lại khẳng định GDTC là hiện tượng sư
phạm của TDTT và là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên được
thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ Mầm non đến Đại học.
16
Và: GDTC là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe,
hoàn thiện thể chất, rèn luyện tính tích cực xã hội và nhân cách cho thế hệ
trẻ. GDTC như một phạm trù vĩnh cửu, nó ra đời từ khi xuất hiện loài
người và sẽ tồn tại tiếp tục như một trong những điều kiện cần thiết của nền
sản xuất xã hội.
Tóm lại các mảng phân tích từ các khía cạnh khác nhau trên thì vẫn
đều đi đến một mặt quy ước chung thống nhất trong GDTC đó là:
GDTC là một loại hình giáo dục mà một nội dung chuyên biệt là dạy
học vận động (giáo dưỡng thể chất) và phát triển có chủ định các tố chất
thể lực (giáo dục các tố chất thể lực) của con người.
Giáo dục thể chất đối với học sinh, sinh viên trong các trường Đại
học, Cao đẳng bao giờ cũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà
nước ta. Bộ giáo dục và Đào tạo đã đặt vấn đề giáo dục thể chất là một mặt
không thể thiếu trong chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ
quản lí về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng để phục vụ nhiệm vụ chính
trị, phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nhằm thực hiện mục tiêu nêu
trên Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức triển khai các quy hoạch, kế hoạch
để đảm bảo các trường học có chương trình giảng dạy thống nhất, có đội
quá trình học tập và đạt chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng và
năm học.
+ Giáo dục tinh thần thẩm mỹ cho sinh viên, tạo điều kiện nâng cao
trình độ thể thao cho VĐV và sinh viên.
1.3. Khái quát về các bài tập thể dục thẩm mỹ (TDTM)
1.3.1. Khái niệm TDTM
TDTM là các bài tập thể dục được chọn lọc, sáng tạo và phân định
mức độ tập luyện và thực hiện kết hợp với âm nhạc trong một chế độ nhất
định, nhằm phát triển sức chịu đựng của người tập, ảnh hưởng tích cực đến
18
sự phát triển hình thể tạo vóc dáng hài hòa, cân đối, năng lực vận động, tính
nhịp điệu, óc thẩm mĩ…
TDTM là thể dục làm đẹp, TDTM thông qua hệ thống bài tập được
lựa chọn theo chủ đích giúp cho người tập có thân hình gọn gàng, cân đối
nâng cao thể lực. Tập TDTM làm con người trở nên năng động, sáng tạo,
yêu đời hơn đồng thời là phương pháp giảm cân đối với người béo, săn
chắc với người khỏe mạnh.
1.3.2. Đặc điểm và nguyên tắc biên soạn bài tập TDTM
1.3.2.1. Những đặc điểm của bài tập TDTM
TDTM là hệ thống các bài tập được soạn thảo trên nền âm nhạc có
thiên hướng vũ đạo và hiện đại hóa trong việc thực hiện bài tập. Dạng bài
tập này cần phải được thực hiện bằng phương pháp nguyên vẹn, nghĩa là
khi thực hiện bài tập giữa các động tác phải liên tục không có sự phân
đoạn. Người hướng dẫn trong quá trình giảng dạy cần cố gắng sử dụng ít
nhất lời giải thích để tăng hiệu quả của bài tập.
1.3.2.2. Nguyên tắc biên soạn bài tập TDTM
Khi biên soạn bài tập TDTM cần phải tuân theo các nguyên tắc cơ
bản sau:
- Bài tập phải có nhạc, âm nhạc phải phù hợp với nội dung tập luyện.
- Bài tập phải phù hợp với giới tính, lứa tuổi, ngành nghề.
nên năng động hơn, đồng thời luôn thấy mình trẻ trung và mong muốn
vươn tới cái đẹp cả về diện mạo lẫn tâm hồn. Trong xã hội, người phụ nữ là
một nửa của xã hội, trong mỗi gia đình với chức năng làm mẹ, làm vợ,làm
cô giáo và làm bạn của con cái. Trong xã hội văn minh, người phụ nữ bình
đẳng với nam giới, đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, giải
20