MỤC LỤC
MỤC LỤC ...................................................................................................... 1
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................ 1
Chương I:
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .................................................................... 2
1.1. Ngân hàng thương mại ..................................................................... 2
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại ........................................... 2
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại ........................ 3
1.2. Cho vay tiêu dùng tại NHTM .......................................................... 6
1.2.1. Khái niệm và đặc diểm cho vay tiêu dùng(CVTD) ....................... 6
1.2.2. Vai trò của CVTD ........................................................................... 9
1.2.3. Phân loại ........................................................................................ 10
1.2.4. Quy trình cho vay tiêu dùng ......................................................... 12
1.3. Chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại .......... 14
1.3.1. Khái niệm ...................................................................................... 14
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá ..................................................................... 15
1.3.2.1. Chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng ..................... 15
1.3.2.2. Các chỉ tiêu nợ quá hạn. ..................................................... 17
1.3.2.3. Thu nhập từ hoạt động cho vay tiêu dùng. .......................... 18
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng CVTD tại NHTM ........... 18
1.4.1. Nhân tố chủ quan .......................................................................... 19
1.4.2. Nhân tố khách quan ...................................................................... 23
Chương II:
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI
NGÂN HÀNG NGOÀI QUỐC DOANH – CHI NHÁNH THĂNG
LONG ........................................................................................................... 26
1
2.1. Tổng quan về VPBank – chi nhánh Thăng Long .......................... 26
2.1.1. Thông tin chung về VPBank ........................................................ 26
2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển ................................................... 26
LỜI MỞ ĐẦU
Ngân hàng là trung gian tài chính giữ một vai trò quan trọng đối với sự
phát triển của nền kinh tế. Đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên
của tổ chức thương mại quốc tế WTO, nền kinh tế mở cửa hội nhập, các
ngân hàng có điều kiện thuận lợi trong việc huy động nguồn vốn, và sử dụng
hiệu quả các nguồn vốn đó. Được thành lập năm 1993, trải qua hơn 15 năm
tồn tại và phát triển, VPBank đã xây dựng cho mình một vị thế nhất định
trong thị trường tài chính Việt Nam. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cá
nhân, hộ gia đình là đối tượng hướng tới của VPBank. Và thành công của
VPBank chính là phát triển sản phẩm cho vay tiêu dùng. Hoạt động này đã
đem lai nguồn thu nhập cao cho VPBank. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền
kinh tế hiện nay, sự cạnh tranh diễn ra vô cùng gay gắt, ngày càng nhiều tổ
chức tài chính phát triển dich vụ này, vì vậy để có thể cạnh tranh với các tổ
chức tín dụng khác VPBank cần có biện pháp nâng cao chất lượng dịch vụ
cho vay tiêu dùng. Đề tài “Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại
VPBank chi nhánh Thăng Long” được chọn làm đề tài cho khóa luận.
Ngoài lời mở đầu, mục lục, khóa luận gồm ba chương
Chương 1: Tổng quan về chất lượng cho vay tiêu dùng của Ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng về chất lượng cho vay tiêu dùng tại VPBank
Chi nhánh Thăng Long
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại
VPBank Chi nhánh Thăng Long
1
Chương I:
TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY TIÊU
DÙNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Lịch sử ngân hàng thương mại được hình thành cùng với nền sản xuất
dân cư.
Để gia tăng nguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được
nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực
hiện nhiều hình thức huy động vốn khác nhau. Bao gồm: tiền gửi thanh toán,
tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, tiền gửi tiết kiệm
của dân cư, tiền gửi của các ngân hàng khác. Mỗi loại tiền gửi có đặc điểm
khác nhau phù hợp với từng đối tượng khác nhau.Ví dụ như loại tiền gửi
thanh toán, đây là loại tiền mà các cá nhân, doanh nghiệp gửi vào nhằm mục
đích để thanh toán hộ chứ không phải mục đích sinh lời. Lãi suất của khoản
tiền này rất thấp (hoặc bằng không), nhưng nó có tính chất không ổn định vì
khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào. Trong khi đó khoản tiền gửi tiết
kiệm có tính chất ổn định cao hơn, ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn, tùy
theo độ dài của kỳ hạn. Trong các loại tiền gửi, loại tiền gửi có kỳ hạn ngắn
hạn chiếm một tỷ trọng lớn nhất vì nó phù hợp với nhu cầu của các doanh
nghiệp và cá nhân phục vụ cho hoạt động thanh toán là chủ yếu.
Hoạt động huy động vốn của Ngân hàng còn được thực hiện bằng việc
phát hành các loại giấy tờ có giá, hoặc đi vay các tổ chức tín dụng khác.
b. Hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng thương mại
3
Với nguồn vốn đã huy động được, ngân hàng sẽ sử dụng trong nhiều
hoạt động khác nhau để nhằm mục đích tạo lợi nhuận cho ngân hàng.
Hoạt động ngân quỹ: Là hoạt động đảm bảo khả năng chi trả thanh toán
thường xuyên của ngân hàng.Nguồn đảm bảo cho khả năng này là những tài
sản có tính lỏng cao.
Hoạt động đầu tư: Ngân hàng có thể tham gia vào các hoạt động đầu tư
trên thị trường chứng khoán, góp vốn liên doanh liên kết nhằm sinh lợi và
phân tán rủi ro.
Hoạt động tín dụng: Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở
phần lớn các ngân hàng thương mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân
hàng. Hoạt động tín dụng là hoạt động truyền thống và chủ yếu tạo ra lợi
cho vay vốn còn yêu cầu khách hàng phải có tài sản đảm bảo. Tài sản đảm
bảo có thể là động sản, bất động sản hoặc là giấy tờ có giá khác, nó được coi
như nguồn trả nợ thứ hai của khách hàng đối với ngân hàng. Khi khách hàng
không có khả năng trả nợ cho ngân hàng thì các ngân hàng có thể thu hồi nợ
bằng việc phát mại tài sản đảm bảo đó.
- Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách
hàng một khoản tiền bàng mệnh giá thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu
và hoa hồng phí, đổi lại ngân hàng sẽ được sở hữu một thương phiếu chưa
hết hạn ( hoặc một giấy nợ). khi thương phiếu hết hạn thì ngân hàng sẽ tiến
hành đi thu nợ thương phiếu.
- Cho thuê: Là hoạt động tín dụng trung và dài hạn, theo đó ngân hàng
sẽ bỏ tiền mau tài sản đẻ cho khách hàng thuê theo những thỏa thuận nhất
định. Sau thời giân thuê, khách hàng sẽ phải trả cả gốc và lãi cho ngân hàng,
hợp đồng cho thuê thường yêu cầu khách hàng phải trả tới hơn 2/3 gá trị của
5
tài sản cho thuê. Cuối hợp đồng thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản thuê
nếu muốn.
- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính
hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã
cho khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. Trong thời gian gần đây,
nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng và phát triển mạnh. Ngân hàng
thường bảo lãnh cho khách hàng mua chịu hàng hóa trang thiết bị, phát hành
chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác…
c. Hoạt động dịch vụ khác
Ngoài các hoạt động chủ yếu trên, ngân hàng còn cung cấp một số các
loại hình dịch vụ như Dịch vụ mua bán ngoại tệ, Dịch vụ bảo quản vật có
giá, cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn, cung cấp dịch vụ môi giới và đàu tư
chứng khoán, cung cấp dịch vụ bảo hiểm,cung cấp các dịch vụ đại lý…
Thông qua các dịch vụ này ngân hàng sẽ có một khoản lợi nhuận nhờ việc
thu phí dịch vụ của khách hàng.Ngày nay, bên cạnh các hoạt động truyền
thụ hưởng.
Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
Khác với cho vay kinh doanh, mục đích của cho vay tiêu dùng là xuất
phát từ nhu cầu cá nhân, hộ gia đình, nguồn trả nợ là thu nhập cố định của
họ, độc lập với khoản vay. Vì vậy cần nắm được những đặc điểm đó để có
những biện pháp hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong quá trình cho vay. Đặc
biệt, đối với cán bộ tín dụng cần nắm rõ đặc điểm của cho vay tiêu dùng để
xem xét quyết định một khoản vay.
Cho vay tiêu dùng có một số đặc điểm sau đây:
* Số lượng món vay nhiều nhưng giá trị khoản vay nhỏ
7
Khác với hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh, những hoạt động đó
nhu cầu về vốn của các doanh nghiệp là lớn. Các khoản cho vay tiêu dùng
thường có giá trị nhỏ. Khách hàng khi tìm đến ngân hàng thường có nhu cầu
vốn không lớn. Điều này có thể giải thích là do giá trị của hàng hóa dịch vụ
mà khách hàng có nhu cầu đó là không quá đắt đỏ, hoặc khách hàng vay vốn
đã có sự tích lũy vốn từ trước đối với tài sản có giá trị lớn, họ tìm đến ngân
hàng với mục đích hỗ trợ cho hoạt động tiêu dùng của họ.
Tuy món vay có giá trị nhỏ nhưng số lượng lại nhiều. Đó là do xã hội
phát triển, người tiêu dùng sẽ vay nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu của bản
thân cũng như của gia đình đồng thời đáp ứng các kế hoạch chi tiêu trên cơ
sở kỳ vọng các khoản thu nhập trong tương lai. Vì vậy số lượng khách hàng
đến ngân hàng vay vốn là rất đông, khiến tổng quy mô cho vay là rất lớn.
* CVTD có tính rủi ro hơn so với cho vay sản xuất kinh doanh
Khi cho vay hoạt động sản xuất kinh doanh, NH thẩm định cho vay và
khả năng trả nợ của khách hàng ngân hàng có thể căn cứ vào phương án
kinh doanh, vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh … để quyết định cho vay
hay không, để giảm rủi ro của các khoản vay. Đối với CVTD, thẩm định khả
năng trả nợ của khách hàng ngân hàng chỉ có thể căn cứ vào nguồn thu
nhập trong tương lai của khách hàng. Bất kỳ bất trắc hay sự cố gì xảy ra đối
lời cần thiết để hoạt động của ngân hàng có thể tăng trưởng. Các khoản vay
tiêu dùng rất phát triển với số lượng các món vay lớn, lãi suất cao do đó đem
lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng đồng thời nó cũng phân tán rủi ro
trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Phát triển cho vay tiêu dùng giúp
ngân hàng có thể quảng bá hình ảnh của mình, thông qua khách hàng có thể
giới thiệu được các sản phẩm của mình tới đông đảo quần chúng dân cư, từ
đó nâng cao vị thế của ngân hàng, nâng cao được tính cạnh tranh.
9
* Đối với người tiêu dùng, nhờ có hoạt động CVTD đó mà họ được
hưởng những điều kiện sống tốt hơn, được hưởng cuộc sống tốt hơn nhờ
những tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền mặt và đặc biệt quan trọng hơn nó
rất cần cho những trường hợp khi các cá nhân có chi tiêu có tính đột xuất,
cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế. Chính hoạt động CVTD
đã giúp cho người dân có cuộc sống ấm lo, đầy đủ hơn, nâng cao mức sống
toàn xã hội.
* Đối với nền kinh tế, cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các
chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ trong nước, có tác dụng rất tốt trong việc
kích cầu. Nhờ cho vay tiêu dùng các doanh nghiệp đã đẩy nhanh tốc độ tiêu
thụ hàng hóa, ngân hàng rút ngắn khoảng thời gian lưu thông, tăng khả năng
trữ hàng, đồng thời tạo diều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.2.3. Phân loại
Có rất nhiều các tiêu chí khác nhau để phân loại CVTD thành các hình
thức khác nhau. Mỗi cách phân loại cho ta những cách nhìn khác nhau về
CVTD giúp ta có cái nhìn tổng thể, toàn diện nhất về CVTD. Sau đây là một
số cách phân loại:
* Căn cứ vào loại tài sản được đảm bảo có 3 loại là:
Cho vay tiêu dùng thế chấp lương, thu nhập: là loại cho vay mà đối
tượng khách hàng có việc làm tương đối ổn định ở một mức nào đó phù hợp
với quy định của ngân hàng. Số tiền được vay sẽ quyết định dựa trên nhu
cầu, mức thu nhập thường xuyên của khách hàng và mức cho vay tối đa của
Cho vay trực tiếp: là các khoản cho vay trong đó ngân hàng trực tiếp
tiếp xúc và cho khách hàng vay vốn, đồng thời cũng trực tiếp thu nợ từ
người vay mà không thông qua yếu tố trung gian.
11
Cho vay gián tiếp: là loại cho vay trong đó ngân hàng thực hiện việc
cấp vốn cho khách hàng thông qua trung gian là các hãng bán lẻ. Trong
trường hợp này, khách hàng cũng không trực tiếp trả nợ cho ngân hàng.
* Căn cứ vào mục đích khoản vay
Theo tiêu trí này ta có thể chia cho vay tiêu dùng thành 2 loại bao gồm
cho vay tiêu dùng cư trú và cho vay tiêu dùng phi cư trú.
Cho vay tiêu dùng cư trú: là các khoản cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu
mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà ở của khách hàng là cá nhân hoặc hộ
gia đình.
Cho vay tiêu dùng phi cư trú: là các khoản cho vay với mục đích trang
trải cho các khoản mua sắm các phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình, chi
phí học hành giải trí, du lịch …
1.2.4. Quy trình cho vay tiêu dùng
Bước 1: Tiếp xúc khách hàng
Đây là bước đầu tiên của quy tình tín dụng, ấn tượng đầu tiên của
khách hàng với ngân hàng là một điều rất quan trọng nó góp phần tạo ra uy
tín của ngân hàng trong tâm trí khách hàng. Trong quá trình tiếp xúc nhân
viên ngân hàng phải tiến hành giới thiệu các dịch vụ của ngân hàng và tìm
hiểu nhu cầu của khách hàng: khách hàng đến vay vốn để làm gì? Thời hạn
vay? Năng lực pháp lý cũng như năng lực tài chính của khách hàng. Sau đó
đối chiếu với các quy định hiện hành của ngân hàng xem có phù hợp không?
Nếu phù hợp thì nhân viên phải giới thiệu cho khách hàng những thủ tục cần
thiết để vay vốn. Đồng thời, tiến hành tiếp nhận hồ sơ khách hàng gồm: bản
sao chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu, phương án tài trợ…
Bước2: Tiến hành thẩm định hồ sơ khách hàng
Đây là bước quan trọng thứ hai trong quy trình cho vay, tuy nhiên, nó
hợp lệ sẽ tiến hành giải ngân.
Bước 6: Kiểm tra và xử lý nợ vay
Để đảm bảo an toàn cho khoản vay, nhân viên tín dụng phải chủ động
kiểm tra mục đích sử dụng vốn vay định kỳ, tình trạng tài sản đảm bảo,
thông báo và đôn đốc khách hàng trả lãi và gốc khi đến hạn. Nếu khi đến
hạn, khách hàng có lý do chính đáng chưa trả được gốc hoặc lãi thì nhân
viên tín dụng đề xuất gia hạn nợ gốc hoặc lãi. Nếu không có đơn gia hạn thì
nhân viên tín dụng thực hiện việc chuyển nợ quá hạn, đồng thời tăng cường
đôn đốc khách hàng trả nợ. Khi đã gia hạn cho khách hàng nhưng vẫn không
có khả năng trả nợ, đã chuyển nợ quá hạn thì tối đa sau 1 tháng sẽ chuyển hồ
sơ cho phòng thu hồi nợ.
Bước 7: Tất toán hợp đồng tín dụng và lưu trữ hồ sơ
Khi khách hàng trả hết nợ gốc, lãi vay và các chi phí liên quan thì tiến
hành thanh lý hợp đồng: xuất kho hồ sơ tài sản thế chấp, thông báo giải chấp
gửi đến các cơ quan có thẩm quyền… Sau khi hoàn tất thủ tục, hồ sơ tín
dụng được đóng thành tập riêng để lưu trữ theo qui định của NHNN.
1.3. Chất lượng cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại
1.3.1. Khái niệm
Trong sản xuất kinh doanh, yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hiệu
quả của quá trình sản xuất kinh doanh đó chính là chất lượng của sản phẩm,
hàng hóa sản xuất ra được. Sản phẩm đó có chất lượng khi nó được đem ra
thị trường thì được nhiều người tiếp nhận, chất lượng sản phẩm, giá cả phù
hợp sẽ làm cho quá trình tiêu thụ hàng hóa một cách nhanh chóng. Chất
lượng là cái vô hình, nó được đánh giá trên nhiều tiêu trí khác nhau. Mỗi
tiêu trí cho ta cái nhìn khác nhau về sản phẩm đó giúp ta đánh giá được tốt
nhất sản phẩm mình đang sử dụng nó như thế nào? Hoạt động CVTD cũng
14
không nằm ngoài quy luật đó. Đây là hoạt động chứa nhiều rủi ro, nhưng sẽ
mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng phải có cái nhìn
tổng quát nhất về chất lượng cho vay nói chung và chất lượng cho vay tiêu
Và ngược lại, khi nó giảm chứng tỏ ngân hàng cho khách hàng vay ít đi.
- Doanh số thu nợ: phản ánh số vốn của khách hàng hoàn trả ngân hàng
trong từng thời kỳ nhất định. Doanh số thu nợ phản ánh :khả năng trả nợ
đúng hạn của khách hàng, phản ánh ngân hàng tăng thu nợ quá hạn, thu hồi
sớm do có dấu hiệu không lành mạnh trong tình hình tài chính của khách
hàng.
- Dư nợ CVTD: là tổng dư nợ của ngân hàng tại một thời điểm nhất
định
Dư nợ CVTD kỳ này
Tốc độ tăng tăng dư nợ CVTD= (-------------------------------- - 1)*100
Dư nợ CVTD kỳ trước
- Chỉ tiêu quay vòng vốn cho vay tiêu dùng
Doanh số CVTD
Vòng quay của vốn CVTD = -----------------------
Dư nợ CVTD
Doanh số CVTD mà lớn chứng tỏ quy mô cho vay là rộng và nó sẽ ảnh
hưởng tới chất lượng cho vay. Chỉ tiêu vòng quay vốn CVTD được sử dụng
nhằm để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng nhằm mục đích
16
CVTD. Nó chỉ ra một đồng vốn mà ngân hàng bỏ ra cho vay có thể thu về
bao nhiêu. Chỉ số này càng cao chứng tỏ ngân hàng có vòng quay vốn
nhanh, không bị ứ đọng vốn. Điều đó một mặt tạo điều kiện cho khách hàng
có thể tiếp xúc với vốn ngân hàng một cách nhanh chóng hơn, mặt khác làm
tăng hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng giúp tạo thêm nhiều lợi nhuận.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu nợ quá hạn.
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không hoàn trả được cho ngân
hàng khi đã đến hạn thỏa thuận đã ghi trên hợp đồng tín dụng. Các chỉ tiêu
nợ quá hạn phản ánh mức độ an toàn của hoạt động tín dụng
Nợ quá hạn CVTD
Tỷ lệ nợ quá hạn = --------------------------- * 100
Tổng thu nhập từ hoạt động CV của NH
Ngoài ra ta còn có thể sử dụng các chỉ tiêu khác để đánh giá chất lượng
CVTD của một ngân hàng như: chỉ tiêu cơ cấu tín dụng, chỉ tiêu về tỷ an
toàn vốn tối thiểu…, các chỉ tiêu định tính như: công tác thẩm định cho vay,
quy chế cho vay, thời gian cho vay… Vì vậy khi xem xét, đánh giá chất
lượng CVTD không chỉ nên xem xét một chỉ tiêu nào cả mà phải đánh giá
một cách tổng quát nhất.
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng CVTD tại NHTM
Chất lượng của các khoản CVTD chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố
bao gồm nhân tố quan và nhân tố khách quan. Để có thể nâng cao được chất
lượng CVTD ngân hàng phải xem xét tác động của các nhân tố đến hoạt
động cho vay của ngân hàng như thế nào, chỉ ra được những mặt tích cực và
những hạn chế còn tồn tại. Từ đó, phát huy một cách hiệu quả những mặt
tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực.
18
1.4.1. Nhân tố chủ quan
Thứ nhất, chiến lược kinh doanh của ngân hàng.
Chiến lược kinh doanh là nhân tố đầu tiên ảnh hưởng tới chất lượng
CVTD. Chiến lược được hiểu là tầm nhìn của doanh nghiệp trong dài hạn về
phương hướng, về quy mô phát triển, về thị trường, lợi thế, nguồn lực, môi
trường ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh, giá trị kỳ vọng mà những người
trong và ngoài doanh nghiệp cần.
Chiến lược kinh doanh liên quan đến khả năng cạnh tranh thành công
trên một thị trường cụ thể. Chiến lược kinh doanh nó quyết định việc lựa
chọn sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, giành lợi thế cạnh tranh so với
các đối thủ khác, khai thác và tạo ra các cơ hội mới…Cũng giống như các
doanh nghiệp, các NHTM nếu không có chiến lược kinh doanh cụ thể sẽ rơi
vào tình trạng bị động, sẽ bị bỏ lại phía sau trong cuộc chạy đua giữa các
ngân hàng. Các ngân hàng dựa trên cơ sở một chiến lược kinh doanh được
xác lập, ngân hàng sẽ chuyển nó thành hành động, lập ra những kế hoạch bộ
(phân tích tín dụng), quyết định tín dụng, giải ngân, thu hồi nợ và thanh lý
tín dụng. Các giai đoạn có mối liên hệ mật thiết với nhau, kết quả của giai
đoạn trước là cơ sở cho giai đoạn sau thực hiện và nó tác động đến chất
lượng của công việc của giai đoạn sau. Trong quy trình CVTD của ngân
hàng, thẩm định là khâu quan trọng nhất, nó quyết định chất lượng của món
vay. Thẩm định có thể hiểu là việc xem xét tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến tính khả thi của phương án để ra quyết đinh cho vay. Bao gồm
các bước: thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định cho vay. Mục
đích của khâu thẩm định là giúp cho các cán bộ tín dụng xem xét hiệu quả
kinh tế của phương án kinh doanh, khả năng trả nợ, rủi ro có thể xảy ra. Từ
đó cán bộ tín dụng quyết định xem có cho vay hay không? Đồng thời, nếu
20
cho vay được xác định luôn số tiền khách hàng được vay, thời hạn vay bao
lâu, mức lãi suất bao nhiêu và phương thức trả nợ như thế nào? Quy trình
CVTD không hợp lý, không khoa học là một trong những nguyên nhân dẫn
đến việc ra quyết định sai lầm như: cho vay với khách hàng không đủ điều
kiện vay, định kỳ kỳ hạn trả nợ không chính xác khiến khách hàng khó khăn
trong quá trình trả nợ…Tất cả đẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Vì vậy, cần xây
dựng một quy trình tín dụng chặt chẽ hợp lý, một mặt giảm thời gian thẩm
định giúp khách hàng nhanh chóng tiếp cận được với nguồn vốn, mặt khác
góp phần giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng giúp nâng cao chất lượng CVTD.
Công việc kiểm soát sau khi cho vay cũng là hoạt động không kém phần
quan trọng của ngân hàng. Việc kiểm soát tốt giúp cho ngân hàng thấy được
khoản vốn cho vay của mình có được sử dụng đúng mục đích không, tài sản
đảm bảo có biến động gì không. Trong quá trình kiểm soát, có xẩy ra những
biểu hiện bất thường, ngân hàng có những biện pháp kịp thời để hạn chế
thấp nhất rủi ro có thể xảy ra gây mất vốn cho ngân hàng.
Thứ tư, chất lượng cán bộ tín dụng trong ngân hàng.
Con người là yếu tố quan trong hàng đầu, quyết định sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp không thể tồn tại và phát triển tốt
hàng cần có những thông tin chính xác về khách hàng đó. Ngân hàng nắm rõ
về thu nhập cả khách hàng, mục đích cho vay của khách hàng, tài sản đảm
bảo, nguồn trả nợ ngân hàng ... Trên cơ sở thông tin đó, ngân hàng tiến hành
phân tích tín dụng để ngân hàng đánh giá khách hàng, và quyết định cho vay
hay không. Thông tin được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau như: từ hồ
sơ đề nghị cấp vốn của khách hàng, từ hồ sơ tại các ngân hàng hoặc các tổ
chức tín dụng khác, từ các cơ quan có liên quan …Thông tin đúng đắn kịp
thời sẽ là cơ sở cho vay đúng đắn hợp lý. Thông tin sai lệch, không đầy đủ
làm cho cán bộ quyết định sai dẫn đến ngân hàng có khả năng mất vốn. Vì
22