Nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam - Pdf 11

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hoạt động cho vay của Ngân hàng là một trong những hoạt động
chính đem lại phần lớn lợi nhuận cho Ngân hàng. Với cách thức hoạt động “
vay để cho vay ” nên các NHTM phải tìm mọi cách để cho vay với khả năng
tối đa. Tìm kiếm đối tượng để cho vay, vận dụng các loại hình tín dụng,
trong đó có cho vay tiêu dùng để đầu tư vốn có hiệu quả, luôn là mục tiêu
quan trọng của NHTM.
Trong những năm gần đây, CVTD đã đạt được một số kết quả nhất
định. Song CVTD của các NHTM còn bộc lộ nhiều hạn chế. Trước yêu cầu
của nền kinh tế xã hội đòi hỏi ngày càng cao, sự cạnh tranh diễn ra ngày
càng gay gắt giữa các ngân hàng, đặt ra cho các NHTM phải tập trung nâng
cao chất lượng CVTD nhằm tăng lợi nhuận đồng thời đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng và nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
Xuất phát từ thực tế đó, em đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng cho
vay tiêu dùng tại Sở giao dịch I - NHCT Việt Nam ” làm khoá luận tốt
nghiệp với hi vọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CVTD nói riêng
cũng như hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I - NHCT nói chung trong
những năm tới.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề cơ bản về CVTD của NHTM
- Đánh giá thực trạng hoạt động CVTD của Sở giao dịch I - NHCT
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng CVTD tại Sở giao
dịch I - NHCT
1
1
3. Đối tượng nghiên cứu
Khoá luận tập trung nghiên cứu về CVTD và nâng cao chất lượng
CVTD, lấy số liệu thực tế của hoạt động CVTD của Sở giao dịch I - NHCT
từ năm 2005 đến năm 2007, làm cơ sở minh chứng.
4. Phương pháp nghiên cứu

thuận theo những điều kiện nhất định. Cho vay là một dịch vụ chính trong
hệ thống sản phẩm sẵn có mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng, và là
một đòi hỏi của nhu cầu kinh doanh ngân hàng nhằm thu lợi nhuận.
Do đó, phấn đấu thực hiện nhiều khoản vay tốt là mục tiêu khách
quan của yêu cầu mở rộng kinh doanh ngân hàng trong quá trình phát triển.
1.1.2 Các hình thức cho vay của NHTM
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ cơ bản và chủ yếu của các ngân hàng,
đây là nghiệp vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng tài sản có và là nghiệp
3
3
vụ sinh lời chủ yếu của các NHTM. Bao gồm các hình thức cho vay sau :
1.1.2.1 Căn cứ vào mục đích
Theo cách phân loại này, có các hình thức cho vay sau :
• Cho vay bất động sản là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại và dịch vụ.
• Cho vay công nghiệp và thương mại là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung
vốn lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại
và dịch vụ.
• Cho vay nông nghiệp là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như
phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên
liệu...
• Cho vay cá nhân ( cho vay tiêu dùng ) là loại cho vay để đáp ứng các nhu
cầu tiêu dùng như mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn
thực hiện các khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời
sống thông qua phát hành thẻ tín dụng.
1.1.2.2 Căn cứ vào thời hạn cho vay
Dựa vào cách phân loại này, có 3 loại cho vay :
• Cho vay ngắn hạn : loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và

1.1.2.5 Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Theo phương pháp này, có 2 loại :
5
5
• Cho vay trả góp là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc
và lãi theo định kì. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng cho vay bất
dộng sản nhà ở, cho vay tiêu dùng đối với những người kinh doanh nhỏ
(tiểu thương), cho vay trang bị kỹ thuật trong nông nghiệp.
• Cho vay phi trả góp là loại cho vay được thanh toán một lần theo kỳ
hạn đã thoả thuận.
1.1.2.6 Căn cứ vào phương thức cho vay
Gồm có 2 loại:
• Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.

Sơ đồ 1.1. Mô hình cho vay trực tiếp
(1)
Cấp vốn
(2)

Thanh toán nợ
• Cho vay gián tiếp : là khoản cho vay được thực hiện thông qua
việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời
hạn thanh toán.
6
Khách hàngNgân hàng
6
Sơ đồ 1.2. Mô hình cho vay gián tiếp
(1) Cấp tín dụng
(2) Thanh toán nợ

việc của khách hàng.
Thứ tư, quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng các khoản vay lại lớn.
Thông thường không có một ngân hàng nào cho vay tiêu dùng với 100%
nhu cầu vốn, khách hàng phải tích luỹ một tỷ lệ nhất định so với tổng nhu
cầu vốn cần đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng. Mặt khác các sản phẩm mà
khách hàng có nhu cầu tiêu dùng thường có giá trị không lớn. Nhu cầu vốn
CVTD nhỏ hơn rất nhiều so với các món vay kinh doanh phổ biến, thường
xuyên đối với mọi tầng lớp dân cư.
Thứ năm, các khoản CVTD có rủi ro cao vì tình hình tài chính của
các cá nhân và hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng
công việc hay sức khoẻ của họ. Việc thẩm định và quyết định cho vay đối
với các khoản vay tiêu dùng thường gặp khó khăn do vấn đề thông tin
không đầy đủ.
Thứ sáu, chi phí quản lí khoản vay tiêu dùng lớn do các ngân hàng
thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông
tin về người vay tiền trước khi đưa ra các quyết định phê duyệt khoản vay,
thêm vào đó việc quản lý các khoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số
lượng lớn cũng không phải là vấn đề đơn giản đối với các NHTM nên chi
phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so với loại hình cho vay
khác.
8
8
Thứ bảy, CVTD là một trong những khoản mục mang lại lợi nhuận
cao cho ngân hàng. Các khoản CVTD có chi phí và rủi ro cao nên các khoản
vay này thường có lãi suất cao, nó bù đắp cho các khoản vay trên và mang
lại lợi nhuận cho ngân hàng. Lãi suất CVTD luôn là một trong những lãi
suất hấp dẫn nhất trên thị trường tài chính. Do số lượng món vay điều nên
lợi nhuận ngân hàng thu được từ hoạt động này là rất đáng kể so với tổng lợi
nhuận của ngân hàng.
1.2.2 Các hình thức CVTD

kết sẽ thanh toán cho ngân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn
người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng.
- Tài trợ truy đòi hạn chế : theo phương thức này trách nhiệm của
CTBL đối với khoản nợ người tiêu dùng mua chịu không thanh toán chỉ giới
hạn trong một chừng mừng nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã thoả
thuận giữa ngân hàng và CTBL.
- Tài trợ miễn truy đòi : theo phương thức này, sau khi bán các khoản
nợ cho ngân hàng, CTBL không còn chịu trách nhiệm cho việc các khoản
nợ có được hoàn trả hay không. Phương thức này chứa đựng rủi ro cao nên
chi phí tài trợ thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức
nói trên và các khoản nợ được mua cũng được lựa chọn rất kỹ. Ngoài ra, chỉ
có những CTBL có uy tín mới được áp dụng phương thức này.
- Tài trợ có mua lại : khi thực hiện CVTD gián tiếp theo phương thức
miễn truy đòi hoặc truy đòi một phần, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng
10
10
không trả nợ thì NHTM phải thanh lý tài sản để thu hồi nợ. Trong trường
hợp này, nếu có thoả thuận trước thì ngân hàng có thể bán lại cho CTBL
phần nợ của mình chưa được thanh toán, kèm với tài sản đã được sử dụng
trong một thời hạn nhất định.
* Ưu , nhược điểm của CVTD gián tiếp :
+ Ưu điểm
- Cho phép ngân hàng dễ dàng tăng doanh số CVTD
- Cho phép ngân hàng tiết kiệm, giảm được chi phí trong cho vay.
- Là nguồn gốc của việc mở rộng quan hệ với khách hàng, tạo điều
kiện cho việc bán chéo sản phẩm ở quá trình tiếp theo.
+ Nhược điểm
- Ngân hàng không tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng đã được các
CTBL bán chịu.
- Thiếu sự kiểm soát của Ngân hàng khi Công ty bán lẻ thực hiện việc

Người tiêu dùng
12
nợ tối đa bằng với hạn mức tín dụng đã cam kết.
- Thẻ tín dụng : là hình thức cấp tín dụng trong đó ngân hàng phát
hành thẻ tín dụng cho những người có tài khoản ở ngân hàng đủ điều kiện
cấp thẻ và ấn định mức giới hạn tín dụng tối đa mà người có thẻ được phép
sử dụng.
* CVTD trực tiếp có ưu điểm hơn CVTD gián tiếp :
Sử dụng phương thức này, ngân hàng có thể tận dụng các sở trường
của nhân viên tín dụng - những người được đào tạo chuyên môn và có nhiều
kinh nghiệm trong lĩnh vực tín dụng. Do đó, các quyết định tín dụng trực
tiếp của ngân hàng thường có chất lượng cao hơn so với trường hợp chúng
được quyết định bởi những CTBL. Hình thức này cũng linh hoạt hơn và cho
phép ngân hàng thắt chặt mối quan hệ tín dụng với các khách hàng có quan
hệ trực tiếp với ngân hàng. Thông qua CVTD trực tiếp, ngân hàng có thể
bán các sản phẩm khác, tăng cường quảng bá hình ảnh của ngân hàng.
1.2.2.2 Căn cứ vào loại tài sản
Theo cách phân loại này, CVTD được phân chia thành :
• Cho vay bất động sản : là các khoản cho vay nhằm mục đích mua
mới hoặc sửa chữa, xây dựng nhà ở, căn hộ và trong một số trường hợp bao
gồm cả đất đai. Cho vay tài trợ đối với bất động sản khác với phần lớn các
hình thức cho vay trên một sô đặc điểm sau:
- Quy mô của một món vay tài trợ đối với bắt động sản thường lớn
hơn nhiều so với quy mô trung bình của các món vay tiêu dùng thông
thường.
- Các khoản cho vay tài trợ đối với bất động sản thường có kỳ hạn dài
nhất trong danh mục cho vay của ngân hàng từ 15 đến 25 hoặc 30 năm. Đây
13
13
là loại cho vay thường chứa đựng những nguy cơ rủi ro cao do những thay

thời gian tương đối ngắn. Phần lớn các khoản vay loại này được dùng để chi
trả cho những chuyến đi nghỉ, tiền viện phí, mua các dụng cụ gia đình, sửa
chữa ô tô và nhà ở...
1.2.3 Vai trò của CVTD
Hiện nay, CVTD đang trở thành xu thế phát triển tất yếu của các
NHTM, có thể nói CVTD đóng góp vai trò quan trọng không chỉ đối với
bản thân ngân hàng, mà còn góp phần nâng cao đời sống cho người dân, mở
rộng sản xuất cũng như thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế . Đối với từng
đối tượng, CVTD có những vai trò khác nhau. Cụ thể là:
* Đối với ngân hàng
CVTD là loại hình tín dụng mang lại nguồn lợi nhuận đáng kể cho
ngân hàng bởi các món vay tiêu dùng thường được định giá cao hơn so với
các món vay kinh doanh. Đây cũng là một cách để ngân hàng đa dạng hoá
đầu tư, nhờ đó phân tán được rủi ro. Cung ứng dịch vụ này cũng giúp ngân
hàng mở rộng, thắt chặt mối quan hệ với khách hàng, khai thác tiềm năng
cũng như lòng trung thành từ khách hàng, từ đó có thể thu hút được nguồn
vốn từ các khách hàng đi vay này khi họ có tiền nhàn rỗi. CVTD cũng góp
phần làm phong phú thêm danh mục dịch vụ của ngân hàng, tăng khả năng
cạnh tranh, quảng bá hình ảnh, nâng cao uy tín của ngân hàng trên thị
trường.
* Đối với khách hàng
15
15
CVTD có ý nghĩa rất lớn đối với các khách hàng. Nhu cầu tiêu dùng
của các cá nhân và hộ gia đình là rất lớn và thường xuyên nhưng không phải
lúc nào họ cũng có đủ nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu đó. Nhờ
CVTD, họ được hưởng các tiện ích, được sử dụng các hàng hoá và dịch vụ
mình mong muốn trước khi tích luỹ đủ tiền. Khi đáp ứng đủ các điều kiện
để được cấp tín dụng tiêu dùng, người đi vay có thể mua sắm các hàng hoá,
nhất là các bất động sản ngay ở thời điểm hiện tại khi giá cả của chúng đang

Chất lượng CVTD được hiểu là vốn vay ngân hàng đáp ứng kịp thời,
đầy đủ nhu cầu của khách hàng trang trải đủ chi phí, hoàn trả đầy đủ và
đúng hạn cho ngân hàng cả gốc lẫn lãi và có lợi nhuận phù hợp với sự phát
triển kinh tế, xã hội . Chất lượng CVTD được thể hiện :
- Đối với NHTM : Chất lượng cho vay được thể hiện ở hiệu quả của việc cho
vay phù hợp với năng lực của ngân hàng và đảm bảo tính cạnh tranh, ở việc
khả năng thu hồi gốc và lãi cho vay đầy đủ và đúng hạn. Hiệu quả và khả
năng thu nợ càng cao thì chất lượng cho vay càng cao và ngược lại.
- Đối với khách hàng : Chất lượng cho vay là thể hiện các khoản vay được
đáp ứng kịp thời, đầy đủ với lãi suất hợp lý và có sức cạnh tranh. Các khoản
vay vốn từ NHTM giúp cho khách hàng có đủ tiền để thoả mãn nhu cầu về
tiêu dùng, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Đối với nền kinh tế : chất lượng CVTD là một khái niệm vừa cụ thể ( thể
hiện qua các chỉ tiêu có thể tính toán được như : kết quả kinh doanh, vong
quay vốn tín dụng, nợ quá hạn, giải quyết nhu cầu tiêu dùng...), vừa trừu
tượng ( thể hiện qua khả năng thu hút khách hàng, tác động đến nền kinh
tế...). Chất lượng cho vay vừa chịu ảnh hưởng bởi nhân tố chủ quan ( khả
17
17
năng quản lý, trình độ và đạo đức cán bộ ngân hàng và khách hàng...), vừa
khách quan ( sự thay đổi môi trường bên ngoài : sự ổn định chính trị xã hội,
môi trường pháp ly, tốc độ tăng trưởng kinh tế )
Chất lượng cho vay là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, nó phản ánh mức
độ thích nghi của NHTM với sự thay đổi bên ngoài, nó thể hiện sức mạnh
của một ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Hoạt
động cho vay tôt phải dựa trên nguyên tắc thoả mãn nhu cầu vay vốn của
khách hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do đó các ngân hàng cần
xác định được khách hàng mục tiêu, hiểu rõ hơn nhu cầu khách hàng để có
chính sách phục vụ tốt hơn.
1.3.2 Mối quan hệ giữa chất lượng CVTD và mở rộng CVTD

nhu cầu khách hàng để có chính sách phục vụ tốt hơn.
1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường chất lượng CVTD
Để đánh giá chất lượng CVTD, chúng ta cần dựa vào một số chỉ
tiêu cụ thể sau:
1.3.3.1 Doanh số và dư nợ cho vay tiêu dùng
* Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của Ngân
hàng đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác, tuyệt đối về
hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng tín dụng qua
các năm. Do đó, nếu kết hợp được doanh số cho vay của nhiều thời kỳ thì ta
cũng sẽ thấy được phần nào về xu hướng hoạt động tín dụng
* Dư nợ cho vay là chỉ tiêu được các ngân hàng tính vào cuối mỗi quý
hay mỗi năm bằng công thức dư nợ cho vay cuối kỳ = dư nợ cho vay đầu kỳ
+ doanh số cho vay trong kỳ - doanh số thu nợ cuối kỳ. Chỉ tiêu này phản
19
19
ánh quy mô của mở rộng CVTD và là cơ sở để xác định thu nhập của ngân
hàng từ hoạt động này.
1.3.3.2 Thu lãi từ hoạt động CVTD
Tỷ trọng thu lãi từ CVTD tăng và giảm qua các năm phản ánh được
qui mô và xu hướng mở rộng CVTD của NHTM là có hiệu quả và lá tín
hiệu tốt để tiếp tục mở rộng CVTD
Chỉ tiêu này được xác định :

Thul ãi t ừ CVTD
Tổng t hul ãi cho vay
× 100%
Thu lãi từ hoạt động cho vay là nguồn thu chủ yếu trong tổng thu
nhập của Ngân hàng, vì vậy muốn tăng thu nhập thì điều dầu tiên mà các
NHTM phải quan tâm là làm thế nào để nâng cao chất lượng cho vay .
Muốn vậy , các NHTM phải đưa ra các biện pháp thích hợp để giảm thiểu

Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay của Ngân
hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu
thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín
dụng nhanh nên Ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các khách
hàng, mặt khác Ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác.
Như vậy, hệ số này càng cao phản ánh tình hình tổ chức quản lý vốn tín
dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc nâng cao chất lượng CVTD
1.3.4.1 Các nhân tố chủ quan
21
21
* Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là một hệ thống các biện pháp nhằm khuyếch
trương hay hạn chế tín dụng, để đảm bảo mục tiêu kinh doanh của mỗi Ngân
hàng. Chính sách tín dụng là “kim chỉ nam” đảm bảo cho hoạt động tín
dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp, đường lối chính sách
của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội. điều đó cũng có nghĩa là chất
lượng tín dụng tuỳ thuộc vào việc xây dựng chính sách tín dụng của Ngân
hàng có đúng đắn hay không. Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượng tín
dụng tốt đều phải có chính sách tín dụng khoa học phù hợp với thực tế của
Ngân hàng cũng như của thị trường.
* Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tổng hợp các nguyên tắc, các quy định trong
việc cấp tín dụng trong đó xây dựng các bước đi cụ thể theo một trình tự
nhất định kể từ khi chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi chấm
dứt quan hệ tín dụng. Đây là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động
nâng cao chất lượng CVTD, nếu ngân hàng có một qui trình tín dụng chặt
chẽ, hiệu quả sẽ giúp cho ngân hàng vừa dễ dàng thu hút khách hàng, vừa
giảm được tỉ lệ nợ xấu, cũng như đánh giá được khả năng trả nợ của khách
hàng.

thiết yếu đến các nhu cầu cao cấp. Đời sống con người ngày càng được nâng
cao thì các nhu cầu về hàng hoá cao cấp càng lớn. Tuy nhiên, tuỳ từng giai
đoạn phát triển sẽ xuất hiện những nhu cầu nổi bật cần được tài trợ. Vấn đề
là phải phát hiện được những nhu cầu nhanh nhất để đáp ứng kịp thời. Sản
23
23
phẩm CVTD của NHTM là sản phẩm mang tính dịch vụ nên nhu cầu khách
hàng là yếu tố quyết định các hình thức CVTD của ngân hàng.
- Thu nhập của người đi vay : Mức thu nhập của người tiêu dùng có vị
trí rất quan trọng đối với nhu cầu vay tiêu dùng của họ. Người ta chỉ có nhu
cầu vay tiền ngân hàng để phục vụ cho chi tiêu khi mà thu nhập dự kiến
trong tương lai của họ có khả năng thanh toán khoản nợ đó. Nói cách khác,
triển vọng về thu nhập sẽ là một trong những cơ sở phát sinh nhu cầu vay
tiêu dùng.
- Trình độ văn hoá : Bên cạnh yếu tố thu nhập thì trình độ văn hoá
cũng có những ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động CVTD . Nó ảnh hưởng
tới đặc điểm, đạo đức của người vay, đây là yếu tố quyết định đến hành vi
trả nợ. Vì ngay cả khách hàng chứng minh được tính khả thi của nguồn trả
nợ nhưng đạo đức của khách hàng lại không tốt thì khi thu hồi nợ là cả vấn
đề đối với ngân hàng.
* Môi trường pháp lý
Mọi thành phần hoạt động trong nền kinh tế đều chịu sự chi phối của
pháp luật. Lĩnh vực cho vay tiêu dùng của ngân hàng chịu sự điều chỉnh
chặt chẽ bởi các quy định của nhà nước, luật các tổ chức tín dụng, luật dân
sự và các quy định khác. Môi trường pháp lý sẽ đem đến cho ngân hàng một
loạt cơ hội mới và không ít thách thức mới, như việc dỡ bỏ các hạn chế về
hoạt động tín dụng sẽ cho phép các ngân hàng nước ngoài có thể tung sản
phẩm dịch vụ bằng nội tệ với chi phí rẻ hơn rất nhiều.
* Môi trường kinh tế, chính trị , xã hội
Môi trường kinh tế thể hiện thông qua những biến số kinh tế như thu

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status