I. Đặt vấn đề
Tập đoàn kinh tế là một mô hình tổ chức đặc biệt đã tồn tại và có vai trò
ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, tập
đoàn kinh tế đã được đề cập đến tại Luật doanh nghiệp 2005, Nghị định
102/NĐ- CP của chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật
doanh nghiệp và Nghị định 101/2009/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2009 của
chính phủ. Tuy nhiên, xung quanh sự tồn tại và phát triển của mô hình này còn
rất nhiều khúc mắc và bất cập. Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin lựa chọn
trình bày vấn đề: “Trình bày hiểu biết của em về mô hình tập đoàn kinh tế
trong pháp luật Việt Nam”.
II. Nội dung
1. Tập đoàn kinh tế.
1.1 Định nghĩa tập đoàn kinh tế
Ở Việt Nam, hiện vẫn chưa có định nghĩa chính xác về tập đoàn kinh tế, mà
thực chất xung quanh vấn đề này còn rất nhiều tranh cãi.
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế được xếp là
một thành phần trong nhóm công ty:
"Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài với
nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trường và các dịch vụ kinh doanh khác.
Thành phần của nhóm công ty gồm có:
• Công ty mẹ, công ty con.
• Tập đoàn kinh tế
• Các hình thức khác."
1
Điều 149 Luật doanh nghiệp lại định nghĩa: “ Tập đoàn kinh tế là nhóm công
ty có quy mô lớn”.
Nghị định 102/NĐ- CP của chính phủ hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều
của Luật doanh nghiệp cũng bổ sung định nghĩa về tập đoàn kinh tế nhưng
cũng không tránh khỏi sự lúng túng theo kiểu nhóm công ty gồm tập đoàn
kinh tế, tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn: “Tập đoàn kinh tế
bao gồm nhóm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập, được
kinh tế mà hầu hết là kể ra đặc điểm cơ bản của nó. Điều này cho thấy, mặc dù
tập đoàn kinh tế đã hình thành và phát triển rất mạnh ở nước ta nhưng các nhà
kinh tế cũng như lập pháp chưa thể nắm bắt được cách thức bao quát và chi
phối thực thế này dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau gây tranh cãi phức tạp.
Tóm lại, có thể chia thành 2 nhóm quan niệm về tập đoàn kinh tế: một
coi tập đoàn kinh tế là vỏ vọc, là hình thức liên kết của các doanh nghiệp độc
lập; hai coi tập đoàn kinh tế là thực thể pháp lí nhưng hiện chưa có cơ chế điều
chỉnh.
Theo em, vai trò quyết định thuộc về pháp luật, pháp luật có rõ
ràng thì mới tạo được cách hiểu thống nhất, vì vậy cần thiết phải nghiên
cứu và đưa ra một khái niệm cụ thể về tập đoàn kinh tế.
1.2 Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
3
Là tổ hợp doanh nghiệp hình thành trên cơ sở liên kết về tài chính, công
nghệ, thị trường, nghiên cứu phát triển…nhằm tăng cường tích tụ, tập trung
vốn và tăng khả năng cạnh tranh, tối đa hóa lợi nhuận.
Bản thân các doanh nghiệp độc lập và có tư cách pháp nhân, không sinh
ra nhau mà liên kết lớn mạnh.
Các tập đoàn đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, phát
triển dần tư đơn ngành sang đa ngành tuy nhiên vãn xác định ngành nghề
kinh doanh trọng điểm.
Tập đoàn vừa có chức năng sản xuất vừa có chức năng tài chính.
Thường đa sở hữu về vốn( ở nước ta chủ yếu sở hữu nhà nước).
Trong tập đoàn có một doanh nghiệp hạt nhân- công ty mẹ- nắm giữ
hoạt động chính, và các doanh nghiệp khác trong tập đoàn ( bao gồm cả
các công ty con). Có thể có yếu tố liên kết vốn như công ty mẹ- con nhưng
không hoàn toàn giống.
1.3 Các hình thức tập đoàn kinh tế
Tập đoàn kinh tế nhà nước: tiền thân là các tổng công ty nhà nước, do
thủ tướng chính phủ quyết định chuyển đổi, quy định hướng dẫn tiêu
tầng. Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị Việt Nam được thành lập trên cơ sở tổ
hợp từ: Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị, Tổng công ty Xây dựng Bạch
Đằng, Tổng công ty Xây dựng Hà Nội, Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây
dựng, Tổng công ty Đầu tư xây dựng cấp thoát nước và Môi trường Việt Nam.
5
Nghị định 101/2009/NĐ- CP Thí điểm thành lập, tổ chức, hoạt động và quản
lý tập đoàn kinh tế nhà nước, trong đó quy định cơ cấu tổ chức của tập đoàn
kinh tế nhà nước bao gồm:
a) Công ty mẹ (gọi tắt là doanh nghiệp cấp I) là doanh nghiệp do Nhà nước
nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc giữ quyền chi phối theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ;
b) Công ty con của doanh nghiệp cấp I (gọi tắt là doanh nghiệp cấp II) là các
doanh nghiệp do doanh nghiệp cấp I giữ quyền chi phối; được tổ chức dưới
hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn một hoặc hai thành
viên trở lên, tổng công ty theo hình thức công ty mẹ - công ty con, công ty liên
doanh (trong trường hợp chưa đăng ký lại theo Luật Doanh nghiệp), công ty
con ở nước ngoài;
c) Công ty con của doanh nghiệp cấp II và các cấp tiếp theo;
d) Các doanh nghiệp liên kết của tập đoàn gồm: doanh nghiệp có vốn góp dưới
mức chi phối của công ty mẹ và của công ty con; doanh nghiệp không có vốn
góp của công ty mẹ và của công ty con, tự nguyện tham gia liên kết dưới hình
thức hợp đồng liên kết hoặc không có hợp đồng liên kết, nhưng có mối quan hệ
gắn bó lâu dài về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường và các dịch vụ kinh
doanh khác với công ty mẹ hoặc doanh nghiệp thành viên trong tập đoàn.
3. Công ty mẹ và các doanh nghiệp thành viên tập đoàn có tư cách pháp nhân;
có vốn và tài sản riêng; có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của
mình theo quy định của pháp luật và theo thoả thuận chung của tập đoàn. Nhà
nước là chủ sở hữu vốn nhà nước trực tiếp đầu tư tại công ty mẹ. Công ty mẹ là
chủ sở hữu vốn nhà nước tại các công ty con, doanh nghiệp liên kết.
6