Những lớp từ bị hạn chế về mặt sử dụng trong từ điển Việt – Bồ - Nha của
Alexandre de Rhodes
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lịch sử vấn đề
Trong q trình người Châu Âu tiếp xúc với nước ta, các cố đạo đi đầu trong
việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh. Khi đã có chữ viết mới họ nghĩ ngay
đến việc biên soạn từ điển để học tiếng Việt. Từ đó những quyển từ điển phiên dịch
ra đời. Đầu tiên là cuốn ANNAM- LUSITAN- LATINH [Dictionarium
Annamticum – Lusitanum – Latinh], thường gọi là Từ điển Việt- Bồ – La (VBL) do
Alexandre de Rhodes (1591- 1660) biên soạn và xuất bản tại Rơma năm 1651. Sau
đó là các cuốn khác, như:
+ Tabert, Dictionaire Annamitico- Latinum, 1838.
+ M. Genibrel, Dictionaire Annamite- Francais, Tân Định, 1898.
+ J. Bonet, Dictionaire Annamite – Francais, Paris, 1899.
Như vậy, tính đến nay, Từ điển VBL đã ra đời được 352 năm. Trải qua bao
thăng trầm, cuốn từ điển này vẫn tồn tại đến ngày nay, vì đây là một cơng trình
khoa học nghiêm túc được biên soạn theo lối từ điển châu Âu thời kỳ Phục hưng.
Giáo sư Nguyễn Văn Tu đã nhận xét: “Xét về mặt từ điển học thì đây là quyển từ
điển đầu tiên tập hợp được kho tiếng Việt hồi đầu thế kỷ XVII một cách có hệ
thống, sắp xếp theo thứ tự vần A, B, C của bảng chữ cái.”[ ] Từ điển VBL là quyển
từ điển đối dịch đầu tiên lấy từ làm đơn vị cơ bản. Và đến nửa cuối thế kỷ XIX, nó
vẫn là quyển từ điển duy nhất phản ánh một khối lượng lớn sắc thái văn hố vật
chất và tinh thần của người Việt thơng qua việc giải nghĩa các mục từ. Cuốn Từ
điển VBL được cấu tạo khơng khác gì một cuốn từ điển hiện đại. Ngồi phần đối
dịch từ tiếng Việt sang tiếng Bồ Đào Nha và Latinh còn thêm một phần dùng để
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4. K. Grudin, Bước đầu khảo sát sự biến đổi từ vựng- ngữ nghĩa trong Từ
điển VBL của AdR, Luận văn tốt nghiệp, H. 1995.
Ngồi ra còn một số bài viết đăng trên Tạp chí Ngơn ngữ, các báo và tạp chí
khác.
Nhận thấy vấn đề diện mạo các thành phần từ vựng được đưa vào từ điển
VBL còn đang bỏ ngỏ, chưa được nghiên cứu nhiều, chúng tơi mạnh dạn đi sâu tìm
hiểu trong khố luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã cố gắng, song do kiến thức của người viết còn hạn chế nên chắc
chắn sẽ có nhiều sai sót. Chúng tơi rất mong nhận được sự chỉ bảo và góp ý của
q thầy cơ và các bạn. Chúng tơi xin chân thành cảm ơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện khố luận này mục đích của chúng tơi là tìm hiểu kỹ hơn về từ
vựng trong từ điển VBL. Cụ thể là chúng tơi chỉ ra một cách khái qt diện mạo
các thành phần từ vựng trong cơng trình naỳ. Đồng thời tìm hiểu sự tương đồng và
khác biệt của vốn từ ở thế kỷ XVII và thế kỷ XIX. Từ đó để thấy được sự biến
chuyển và phát triển của từ vựng tiếng Việt trong vòng hơn ba thế kỷ qua.
Cuối cùng, chúng tơi mong được góp một phần nhỏ bé cơng sức của chúng
tơi vào việc nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử phát triển của tiếng Việt thơng qua tư liệu
là từ điển VBL của AdR
3. Phạm vi nghiên cứu
Do khả năng và thời gian khơng cho phép chúng tơi tìm hiểu mọi thành phần
từ vựng có mặt trong từ điển VBL mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những thành
phần từ vựng đặc biệt, “được đánh dấu” về một phương diện nào đó.. Chẳng hạn,
đặc biệt về nguồn gốc hình thành, về phạm vi sử dụng rộng- hẹp khác nhau (giới
hạn của các phạm vi đó có thể là lãnh thổ, có thể là tầng lớp xã hội người), về tính
chất tích cực hay tiêu cực trong việc đóng vai trò trong đời sơng giao tiếp, về phong
cách sử dụng, v.v...
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
phng phỏp ó b sung v h tr nhau, kt qu thu c t vic ỏp dng phng
phỏp ny cng l tin thc hin phng phỏp khỏc.
6. B cc ca khúa lun
Ngoi phn m u v kt lun, ni dung ca khúa lun gm hai chng
Chng I: Mt s vn liờn quan n ti
Chng II: Cỏc thnh phn t vng trong T in VBL
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYENChương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Lý luận về từ
1.1. Định nghĩa từ
Cho đến nay, trong ngơn ngữ học, các định nghĩa về từ được đưa ra rất nhiều.
Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác, đều đúng ,nhưng đều khơng đủ và
khơng bao gồm được hết tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngơn ngữ và ngay
cả trong từng ngơn ngữ cũng vậy. Tuy nhiên, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên
cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy khơng có sức
bao qt tồn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngồi phạm vi của nó một khối lượng
khơng nhiều các trường hợp ngoại lệ. Trong khố luận này, chúng tơi sử dụng định
nghĩa sau đây là định nghĩa được nhiều người chấp nhận, làm cơ sở khoa học cho
việc nghiên cứu của mình:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngơn ngữ được vận dụng độc lập, tái
hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.
Ví dụ:
Nhà, người, quần áo, sách vở, bút...
Đi, đứng, cười, nói, u, ghét...
Đẹp, xấu, dun, đỏ, vàng, xanh...
ting Vit, tỡnh hỡnh hon ton ngc li. Gia hỡnh v v õm tit cú mt
mi tng quan rừ rt. Gia õm tit v hỡnh v bao gi cng cú mt s tng ng
mt i mt, s tng ng hon ton. Mừi ting trong ting Vit ng v mt ng
õm chớnh l mt õm tit, m ng v mt ng phỏp chớnh l mt hỡnh v. Cho nờn,
ting Vit, phõn tớch cõu núi ra thnh hỡnhv v phõn tớch cõu núi ra thnh õm tit
bao gi cng a n mt kt qu ging nhau, ú l chia tỏch cõu núi ra thnh tng
ting mt.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYENMt khỏc, xột v ni dung, hỡnh v ting Vit l n v nh nht cú ni dung
c th hin, chớ ớt nú cng cú giỏ tr hỡnh thỏi hc (cu to t). S cú mt hay
khụng ca ting trong mt ng on no ú bao gi cng a n tỏc ng nht
nh v mt ny hay mt khỏc. Vớ d:
Xanh- xanh xanh- xanh rỡ- xanh lố...
Di- ỏo di- ỏo rt di...
n õy cú th kt lun rng ting ca ting Vit khụng phi l mt hỡnh v
bỡnh thng nh hỡnh v ca nhiu ngụn ng khỏc. Ting l mt loi hỡnh v c
bit: mt hỡnh tit (Morphemsyllable), tc õm tit cú giỏ tr hỡnh thỏi hc [1,9].
- T ca ting Vit cú th cú bin th ng õm (vớ d:li v nhi, trng v
ging, nhn v dn...) nhng tuyt nhiờn khụng cú bin th hỡnh thỏi hc. Dự ng
trong cõu hay ng l mt mỡnh, bao gi chỳng cng gi nguyờn mt hỡnh thc.
õy liu khỏc hn cỏc ngụn ng n- u: cỏc ngụn ng ny, t cú th tn ti
di nhiu t hỡnh khỏc nhau [4].
2. T, ng trong t in VBL
2.1. Nhng khú khn khi thng kờ t, ng
T in VBL l cun t in i chiu u tiờn in bng ch quc ng v
son gi li l ngi nc ngoi. Chớnh vỡ cỏc l ú nờn s thiu sút l iu khụng
th trỏnh khi. Nhng khú khn m chỳng tụi gp phi khi x lý t liu l:
- Mc t khụng rừ rng, t nh ngha thng ln ln vi t hoc cm t
bo).
- T in VBL ly t lm n v c bn cho nờn khi gii ngha mt t thỡ
khụng th dựng c lp m phi ly mt t ghộp lm dn chng, ng thi phi lp
li my ln t ú. iu ny gõy rt nhiu khú khn cho chỳng tụi khi thng kờ mc
t cú trong t in ny. Chng nh khi gii ngha t ng, AdR ó ly t ph ng
gii ngha. Ph ng li c gii thớch thờm mt ln na trong phn gii ngha
t ph.
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYEN- Một nguyên nhân khách quan nữa là nhiều từ trong từ điển VBL có hình
thức ngữ âm khac hẳn ngày nay. Điều này cũng gây không ít khó khăn trong việc
xác định và thống kê mục từ của chúng tôi. Ví dụ: an uỷ (an ủi), phũ ba (phong ba),
buần (buồn), bua (vua), đệ nhít, thứ nhít (đệ nhất, thư nhất)...
- Cùng là một mục từ nhưng có nhiều nghĩa khác nhau, thậm chí mâu thuẫn
nhau như mục từ sau đây:
+ Xác, làm xang xác: Làm việc rất cẩn thận.
+ Xang, làm xang xác: Làm rối loạn trí hiểu
2.3. Cách xử lý
Đối với khó khăn trong việc tác giả đưa cả cụm từ (tự do và cố định), chúng
tôi thống nhất gọi chung là mục từ . Như vậy, mục từ bao gồm từ và ngữ. Với cách
xử lý vậy thì việc soạn giả đưa cả cụm từ minh hoạ làm lẫn lộn với từ được giải
nghĩa, chúng tôi dều giải quyết dễ dàng. Chẳng hạn, ở trường hợp Gọn, một gọn,
hai gọn, chúng tôi tính là ba mục từ, gồm: gọn, một gọn, hai gọn.
Đối với những trường hợp soạn giả đưa cùng lúc nhiều mục từ mà chỉ có một
lời giải thích thì chungs tôi xem đó là các mục từ dồng nghĩa. Chẳng hạn, ở trường
hợp Ma quỷ, ma cỏ, chúng tôi tính là hai mục từ và chúng đồng nghĩa với nhau.
Đối với trường hợp mục từ có nhiều hình thức phát âm và ghi chính tả,ví dụ:
- Mục từ có nhiều hình thức phát âm khác nhau:
+ Gệch: xiên, chéo, giệch
trong phn li gii thớch thỡ s lng phi tng lờn rt nhiu [Cú th tham kho kt
qu thng kờ ca Vin Khoa hc Xó hi hn mt vn t ng Vit khỏc c dn ra
trong cỏc mc t vỡ cú liờn quan n ngha cỏc mc t (trớch Li núi u ca T
in VBL)]
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYENChng II:
CC THNH PHN T VNG TRONG T IN VIT- B- LA
1. Gii thiu
Vn t ca mt ngụn ng gm hng chc vn n v. ó cú nhng ý kin
cho rng nú chng cú mt trt t no c. Vỡ vy, khú cú th núi n tớnh h thng
ca t vng. Tuy nhiờn, sau rt nhiu n lc nghiờn cu ngi ta thy rng t vng
núi chung, t vng ting Vit núi riờng, khụng phi l mt tp hp hn lon cỏc t
ng. Tuy s lng rt ln nhng chỳng lm thnh mt chnh th gm nhng h
thng nh cú liờn quan n nhau, gn bú vi nhau cht ch. Cỏc tiu h thng ny
n lt nú li cú th phõn chia thnh cỏc tiu h thng nh hn na. Nhng tiu
h thng phõn bit nhau bi nhng c trng, thuc tớnh ca chỳng. Chng hn, h
thng t Hỏn Vit phõn bit vi h thng t thun Vit bi c trng ngun gc. T
thun Vit cú ngun gc bn ng, cũn t Hỏn Vit li cú ngun gc ngoi lai (vay
mn ting Hỏn). Hoc t ngh nghip phõn bit vi t vng chung (t ton dõn)
bi c trng phm vi s dng.
H thng t vng nu nhỡn bng con mt thun ng phỏp hc, ngi ta cú
th phõn chia nú thnh lp hng khỏc nhau mt cỏch tng i cht ch v mch
lc. Ngc li, nu nhỡn bng con mt t vng hc thỡ vic phõn chia cỏc lp
dng nh khụng c phõn minh, rch rũi bng. Tu thuc vo tiờu chớ m ngi
ta cú nhiu cỏch phõn chia vn t ting Vit ra thnh nhiu tiu h thng, tc cỏc
thnh phn t vng khỏc nhau. Cú th khỏi quỏt bc tranh phõn loi bng bng
di õy:
Lớp từ thuộc phong cách viết
Lớp từ trung hồ về mặt phong cách
Trong chương này, chúng tơi tập trung nghiên cứu những bộ phận từ ngữ có
những nét đặc biệt “được đánh dấu” về một phương diện nào đó như phạm vi sử
dụng, vai trò trong đời sống giao tiếp, phong cách sử dụng, nguồn gốc... Như vậy,
có nghĩa là bộ phận từ ngữ cơ bản, bộ phận từ vựng tồn dân của Từ điển VBL sẽ
chưa được chú ý phân tích, vì thời gian và khn khổ của khố luận khơng cho
phép.
Dưới đây là những phân tích và miêu tả cụ thể:
1.1. Từ cổ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾNTừ điển VBL được biên soạn từ đầu thập kỷ năm mươi của thế kỷ XVII. Như
vậy, cuốn từ điển này đã ra đời cách đây hơn ba trăm năm mươi năm. Trong khoảng
thời gian ấy, tiếng Việt đã có nhiều thay đổi. Sự thay đổi diễn ra ở cả ba bình diện:
ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp với những mức độ khác nhau. Từ điển VBL là một
chứng tính quan trọng ghi lại sự biến đổi cùa tiếng Việt
Ở bình diện từ vựng, điều dễ nhận thấy là là vốn từ ở thời điểm AdR biên
soạn cuốn từ điển này đến nay đã có nhiều thay đổi. Thay đổi rõ nhất là có 517
mục từ ở thế kỷ XVII được dùng một cách rộng rãi, tồn dân thì đến nay khơng còn
được sử dụng nữa hoặc được sử dụng một cách hạn chế. Đó là những mục từ biểu
thị những sự vật, hiện tượng, thuộc tính mà trong tiếng Việt hiện nay đã có các từ
ngữ đồng nghĩa tương ứng. Chính sự xuất hiện các từ ngữ đồng nghĩa tương ứng ở
giai đoạn hiện nay đã làm cho bộ phận tiếng Việt này trở lên lỗi thời, xa lạ với trạng
thái tiếng Việt hiện tại .Theo cách phân lớp tiếng Việt theo tiêu chí tiêu cực và tích
cực, thành phần này thuộc lớp từ vựng tiêu cực (hiểu tích cực và tiêu cực ở đây là
những từ ngữ có đóng vai trò tích cực trong đời sống giao tiếp hay khơng) và người
Dái
Mựa (nói dối)
Lọ, chẳng lọ là
Phô
Khúng (khứng)
Min
Tác, bạn tác
Tàn úa
Sợ, kính nể
Chớ (nói dối)
Chẳng những là
Phụ từ số nhiều
chỉ danh giá
Muốn
Tôi, người trên nói
với người dưới
Sự bình đẳng giữa
Cỏ áy hoa nhàu phận hẩm hiu
Tlm (chm) Hm bng hu
Lo s
Hi
n th cỏc tng
thn
Xem ra
Mua bỏn
Ngi y, kiu núi
rt lch s
Hoa tai, bụng tai Mc
(Quc õm thi tp)
L khi hoa chng chiu ong
(Phan Trn)
Vi han di trỳ ni nao
áng, ánh ná
Ao
áp nhảm
Bao nả
Blếu
Cái
Chiêu
Chư
Dạ Dỏ, nhà dỏ
Cơn du nào
Cãng về
Còm
Cốn, buậc làm
cốn
Cước
Cha và mẹ
Đo lại
Người đui một
mắt
Chưng thì quan
Chum chúp
Dể
Cang la
Cởn cờ
Cợt cảo
Dả con mắt
Dạng đàm lên
Dầu lòng
Tép tỏi, nhánh
gừng
Đem lại gần
Của đẹp dường
nào
Cắm, đóng đanh,
đâm
Chịu ơn
Ngựa chạy mau
lẹ
Dưới quyền cai
trị
Cách nhẹ nhàng
Khinh
Dản
Diển mũ
Nói dêy duớng
Đại
v.v...
Đưa một vật gì
bằng cả hai tay
Mũ xếp che trán
Pha trộn câu
chuyện
Bước chạy của
lồi vật
1.1.2. Loại 2: những mục từ chưa hồn tồn mất hẳn
Khác với những mục từ loại 1 là những mục từ đã mất hẳn ,khơng có trong
vốn từ hiện tại, những mục từ loại 2 vẫn còn để lại dấu vết của mình tức là chúng
vẫn tồn tại trong trạng thái từ vựng hiện nay. Tuy nhiên chúng khơng còn giữ được
vị trí sử dụng độc lập của mình mà trở thành từ tố hay trong một số lối nói hạn chế
hoặc chỉ được sử dụng ở các địa phương.
1.1.2.1. Những từ trở thành từ tố
Đây là những từ bị từ khác thay thế, bị đẩy khỏi vị trí vốn có của nó là sử
dụng độc lập, chỉ còn để lại dấu vết của mình là trở thành thành tố cấu tạo từ (từ tố)
trong một số từ ghép đẳng lập hiện nay. .Do ý nghĩa của chúng bị lu mờ, bị hao
mòn ngữ nghĩa (desmantic) đến mức tối đa nên hiện nay chúng ta gọi chúng là các
thành tố khơng rõ nghĩa. Các từ ghép đẳng lập này được cấu tạo theo ngun tắc:
T c
Ngha trong
T VBL
T ghộp lỏy ngha
Blt (trt)
Nhi
Trng cõy, gieo ht
Chi
Trng trt
Chi nhi
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYENPheo
Khem
Xống
Tác
Nề
Lách
Nớt
Ọp
Dò
Duông đi
Ghiếc
Ngơi
Ngượi
Chiền
Dể
Tơ
Khen ngợi
Chùa chiền
Khinh dễ
Tơ vương
Yêu dấu
1.1.2.2. Những mục từ tồn tại trong một số lối nói hạn chế
Cũng giống với các mục từ trở tthành từ tố, bộ phận mục từ này cũng không
còn khả năng sử dụng độc lập mà chỉ tồn tại trong một số lối nói hạn chế và không
phải ai cũng biết được ý nghĩa của các mục từ ấy. Trong Từ điển VBL có một số
mục từ sau thuộc loại này:
Mục từ
Nghĩa trong
TĐ VBL
Lối nói hạn chế
Kiêu
Dái
Cao
Sợ, kính nể
Cổ kiêu ba ngấn
Khôn cho người ta dái, dại cho
THÖ VIEÄN ÑIEÄN TÖÛ TRÖÏC TUYEÁN
Cả
Chầy
Đợ con
Chiêu
Đăm
Mái ngồi, nghỉ đã dục liền ruổi xe
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN (Cõu 893- 894)
Ph tỡnh , ỏn ó rừ rng
D tung, ngh mi kim ng thỏo lui
(Cõu 1187- 1188)
Giỏo s inh gia Khỏnh cú nờu mt c s khỏ quan trng l Cỏc bn quc
ng ca Trng vnh Ký e-mi-sen, Nooc--man, Nguyn Vn Vnh, Bựi
K...u phiờn õm l ngh v chua l ting c, th õm Ngh Tnh, ngha l hn,
nú, y, va ...[7])
1.2. T lch s
Trong t in VBL cú mt lot t ng ch chuyờn dựng trong thi k y, hin
nay khụng thy s dng n. Chỳng l cỏc mc t lch s. Cỏc mc t ny luụn
phn ỏnh mt giai on lch s nht nh c thự cho xó hi giai on ú. Khi giai
on lch s ú qua i thỡ nhng t ng ny lp tc khụng cũn c s dng na vỡ
khụng phự hp. Núi cỏch khỏc t lch s l nhng t b y ra ngoi phm vi t
vng chung, tớch cc bi cỏc nguyờn nhõn lch s v xó hi. Khi i tng m t
biu th, gi tờn b gt ra ngoi i sng xó hi thỡ tờn gi ca nú cng mt dn v
trớ vn cú ca nú trc õy. Khỏc vi t c, t lch s khụng cú t ng ng ngha
trong t vng ting Vit hin i. Bỡnh thng chỳng ớt khi c s dng nhng
khi cn din t nhng khỏi nim cú tớnh cht lch s, ngi ta phi dựng n
chỳng. Cỏc tỏc phm vn hc s, s hc vit v thi k cn i, t ng lch s
chim t l rt cao.
Trong t in VBL, chỳng tụi ó thng kờ cú tt c 132 t lch s ó c
AdR i dch v gii ngha. Thnh phn t vng ny cú th phõn loi gm cỏc b
phn sau :
1.2.1. Tờn gi cỏc chc tc, phm hm thi xa
Nh chỳng ta ó bit, b mỏy quan li triu ỡnh phong kin Vit Nam th
+ T u ( t v ): Lớnh ca v co tc hiu l vua trng khụng , v c gi
THệ VIEN ẹIEN Tệ TRệẽC TUYENl bua , tc l vua , nhng chng cú quyn cai tr vng quc .
+ Thinh ụ vng : Tờn riờng ca chỳa gi x ụng kinh .
Ngoi ra cũn cú: i khm vua hnh khim, thụng s, tụi tỏ, quan triu, c
triu, quan v, xó nhờn, ti phỳ, ni thn, quan i thn, vua, chỳa ...
1.2.2. Tờn gi nhng s vt dựng trong hc hnh, nhng hin tng thi c
thi xa
th k th XVII v cỏc th l trc ú, chn ra nhng ngi lm
quan v th li , nh nc phong kin t chc cỏc k thi nhm tuyn dng nhng
hin ti cho t nc . Nm 1648 , chỳa Nguyn ng Trong cng ó nh phộp
thi v ni dung thi c. Cú hai kỡ thi chớnh: Chớnh chn ngi lm quan, hoa
vn chn ngi lm th li. Thi trong ba ngy v tt c u thi vit. Cỏc k thi t
chc theo k hn l chớn nm mt ln. Tỡnh hỡnh ny c phn ỏnh rừ rng trong
t in VBL .AdR ó thu thp 11 mc t tờn gi l cỏc hin tng, s vt dựng
trong hc hnh, thi c lỳc by gi i dch v gii ngha. Cỏc mc t ú l:
+ Tn s: Lờn n cp ba trong hng vn nhõn. Ngi ti cp bc ny c
min mi th thu v vic nng cụng cng cho chớnh mỡnh cng nh con cỏi ca
h
+ Sinh ũ (sinh ): Bc thp nht trong hng vn nhõn
+ trng nguyờn: t ti bc cao nht trong lng vn hc, nh tin s
+ T th: Tờn cỏc sỏch ca Khng T
+ Co : Vit bng ch ln nh thúi quen trong thi c.
+ Cúu , ừu cúu , huõng cừu :( ễng cng , hng cng ) Bc th hai trong kỡ
thi vn, ai c bc ú thỡ c min thu.
+ Blam mc : Chm mc bng bỳt lụng hay bỳt v.
+ Ch r : Ch d c.
+ Chua con : Ch nh hn nhng l tiu chỳ gii ngha vn bn
+ Ăn lộc: Bổng lộc hàng năm do nhà vua hay vi thủ lĩnh nào đó ban cho.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN