Những lớp từ bị hạn chế về mặt sử dụng trong từ điển Việt – Bồ - Nha của Alexandre de Rhodes - Pdf 27

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Những lớp từ bị hạn chế về mặt sử dụng trong từ điển Việt – Bồ - Nha của
Alexandre de Rhodes
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lịch sử vấn đề
Trong quá trình người Châu Âu tiếp xúc với nước ta, các cố đạo đi đầu trong
việc phiên âm tiếng Việt bằng chữ cái Latinh. Khi đã có chữ viết mới họ nghĩ ngay
đến việc biên soạn từ điển để học tiếng Việt. Từ đó những quyển từ điển phiên dịch
ra đời. Đầu tiên là cuốn ANNAM- LUSITAN- LATINH [Dictionarium
Annamticum – Lusitanum – Latinh], thường gọi là Từ điển Việt- Bồ – La (VBL) do
Alexandre de Rhodes (1591- 1660) biên soạn và xuất bản tại Rôma năm 1651. Sau
đó là các cuốn khác, như:
+ Tabert, Dictionaire Annamitico- Latinum, 1838.
+ M. Genibrel, Dictionaire Annamite- Francais, Tân Định, 1898.
+ J. Bonet, Dictionaire Annamite – Francais, Paris, 1899.
Như vậy, tính đến nay, Từ điển VBL đã ra đời được 352 năm. Trải qua bao
thăng trầm, cuốn từ điển này vẫn tồn tại đến ngày nay, vì đây là một công trình
khoa học nghiêm túc được biên soạn theo lối từ điển châu Âu thời kỳ Phục hưng.
Giáo sư Nguyễn Văn Tu đã nhận xét: “Xét về mặt từ điển học thì đây là quyển từ
điển đầu tiên tập hợp được kho tiếng Việt hồi đầu thế kỷ XVII một cách có hệ
thống, sắp xếp theo thứ tự vần A, B, C của bảng chữ cái.”[ ] Từ điển VBL là quyển
từ điển đối dịch đầu tiên lấy từ làm đơn vị cơ bản. Và đến nửa cuối thế kỷ XIX, nó
vẫn là quyển từ điển duy nhất phản ánh một khối lượng lớn sắc thái văn hoá vật
chất và tinh thần của người Việt thông qua việc giải nghĩa các mục từ. Cuốn Từ
điển VBL được cấu tạo không khác gì một cuốn từ điển hiện đại. Ngoài phần đối
dịch từ tiếng Việt sang tiếng Bồ Đào Nha và Latinh còn thêm một phần dùng để
miêu tả cơ cấu ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt đặt ở đầu từ điển dưới nhan đề “Báo
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cáo vắn tắt về tiếng Annam hay Đông Kinh”. Trong từ điển này, các từ khó hiểu đã
được giải thích một cách tỉ mỉ và kèm theo những ví dụ thuyết minh khá phong
phú. Như vậy đối với những người biết cả tiếng Việt , tiếng Bồ đào Nha và tiếng

hiểu trong khoá luận tốt nghiệp này.
Mặc dù đã cố gắng, song do kiến thức của người viết còn hạn chế nên chắc
chắn sẽ có nhiều sai sót. Chúng tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo và góp ý của
quý thầy cô và các bạn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
2. Mục đích nghiên cứu
Thực hiện khoá luận này mục đích của chúng tôi là tìm hiểu kỹ hơn về từ
vựng trong từ điển VBL. Cụ thể là chúng tôi chỉ ra một cách khái quát diện mạo
các thành phần từ vựng trong công trình naỳ. Đồng thời tìm hiểu sự tương đồng và
khác biệt của vốn từ ở thế kỷ XVII và thế kỷ XIX. Từ đó để thấy được sự biến
chuyển và phát triển của từ vựng tiếng Việt trong vòng hơn ba thế kỷ qua.
Cuối cùng, chúng tôi mong được góp một phần nhỏ bé công sức của chúng
tôi vào việc nghiên cứu kỹ lưỡng lịch sử phát triển của tiếng Việt thông qua tư liệu
là từ điển VBL của AdR
3. Phạm vi nghiên cứu
Do khả năng và thời gian không cho phép chúng tôi tìm hiểu mọi thành phần
từ vựng có mặt trong từ điển VBL mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những thành
phần từ vựng đặc biệt, “được đánh dấu” về một phương diện nào đó.. Chẳng hạn,
đặc biệt về nguồn gốc hình thành, về phạm vi sử dụng rộng- hẹp khác nhau (giới
hạn của các phạm vi đó có thể là lãnh thổ, có thể là tầng lớp xã hội người), về tính
chất tích cực hay tiêu cực trong việc đóng vai trò trong đời sông giao tiếp, về phong
cách sử dụng, v.v...
Như vậy, trong khoá luận này chúng tôi chỉ mới khảo sát và miêu tả được
một bộ phận rất nhỏ các mục từ có trong Từ điển VBL. Bộ phận lớn còn lại là lớp
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
từ vựng toàn dân không được khảo cứu trong phạm vi của khoá luận này.
4. Đối tượng nghiên cứu
Như đã nói ở phần trên, trong khoá luận này, chúng tôi chỉ chủ yếu tập trung
nghiên cứu các thành phần từ vựng đặc biệt trong từ điển VBL. Do đó đối tượng
nghiên cứu của chúng tôi không phải tất cả các mục từ được thu thập, đối dịch và

Chương I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1. Lý luận về từ
1.1. Định nghĩa từ
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ được đưa ra rất nhiều.
Các định nghĩa ấy, về mặt này hay mặt khác, đều đúng ,nhưng đều không đủ và
không bao gồm được hết tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay
cả trong từng ngôn ngữ cũng vậy. Tuy nhiên, để có cơ sở tiện lợi cho việc nghiên
cứu, người ta vẫn thường chấp nhận một khái niệm nào đó về từ tuy không có sức
bao quát toàn thể nhưng cũng chỉ để lọt ra ngoài phạm vi của nó một khối lượng
không nhiều các trường hợp ngoại lệ. Trong khoá luận này, chúng tôi sử dụng định
nghĩa sau đây là định nghĩa được nhiều người chấp nhận, làm cơ sở khoa học cho
việc nghiên cứu của mình:
Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái
hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu.
Ví dụ:
Nhà, người, quần áo, sách vở, bút...
Đi, đứng, cười, nói, yêu, ghét...
Đẹp, xấu, duyên, đỏ, vàng, xanh...
Hoa hồng, nhà tầng, bồ hóng, bù nhìn...
1.2. Đặc điểm của từ tiếng Việt
So với từ của các ngôn ngữ Ân- Âu, thì từ của tiếng Việt có những đặc điểm
sau đây:
- Từ của các ngôn ngữ đều được tạo bởi các hình vị. Nói cách khác, từ đựơc
tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp lại với nhau theo nhữmg nguyên tắc
nhất định.
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ví dụ về từ trong tiếng Anh: Housewife, classroom, newspaper, ...
Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/ hoặc có giá trị về mặt ngữ

định về mặt này hay mặt khác. Ví dụ:
Xanh- xanh xanh- xanh rì- xanh lè...
Dài- áo dài- áo rất dài...
Đến đây có thể kết luận rằng tiếng của tiếng Việt không phải là một hình vị
bình thường như hình vị của nhiều ngôn ngữ khác. Tiếng là một loại hình vị đặc
biệt: một hình tiết (Morphemsyllable), tức âm tiết có giá trị hình thái học [1,9].
- Từ của tiếng Việt có thể có biến thể ngữ âm (ví dụ:lời và nhời, trăng và
giăng, nhăn và dăn...) nhưng tuyệt nhiên không có biến thể hình thái học. Dù đứng
trong câu hay đứng lẻ một mình, bao giờ chúng cũng giữ nguyên một hình thức.
Đây làđiều khác hẳn các ngôn ngữ Ân- Âu: ở các ngôn ngữ này, từ có thể tồn tại
dưới nhiều từ hình khác nhau [4].
2. Từ, ngữ trong từ điển VBL
2.1. Những khó khăn khi thống kê từ, ngữ
Từ điển VBL là cuốn từ điển đối chiếu đầu tiên in bằng chữ quốc ngữ và
soạn giả lại là người nước ngoài. Chính vì các lẽ đó nên sự thiếu sót là điều không
thể tránh khỏi. Những khó khăn mà chúng tôi gặp phải khi xử lý tư liệu là:
- Mục từ không rõ ràng, từ để định nghĩa thường lẫn lộn với từ hoặc cụm từ
minh hoạ.Ví dụ:
+ Gọn, một gọn, hai gọn: Mười, hai mươi, dùng để nói về tơ sợi và những
thứ tương tự .
Trong ví dụ này, từ mà AdR giải nghĩa là “gọn”, các ví dụ minh hoạ là “một
gọn”, “hai gọn”. Tuy vậy, soạn giả chỉ giải nghĩa các ví dụ chứ không phải từ cần
giải nghĩa chính thức.
- Mục từ mà AdR đưa vào từ điển có cả đơn vị là từ và các đơn vị không
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phải là từ như yếu tố cấu tạo từ hay cụm từ tự do, cụm từ cố định. Ví dụ:
+ Mục từ là yếu tố cấu tạo từ: Xa, xấu xa (Xấu xa), trong ví dụ này thì Xa là
yếu tố cấu tạo (hình vị) nên từ xấu xa
+ Mục từ là cụm từ tự do: Diếc nhau (vạch những khuyết điểm của nhau

nhau như mục từ sau đây:
+ Xác, làm xang xác: Làm việc rất cẩn thận.
+ Xang, làm xang xác: Làm rối loạn trí hiểu
2.3. Cách xử lý
Đối với khó khăn trong việc tác giả đưa cả cụm từ (tự do và cố định), chúng
tôi thống nhất gọi chung là mục từ . Như vậy, mục từ bao gồm từ và ngữ. Với cách
xử lý vậy thì việc soạn giả đưa cả cụm từ minh hoạ làm lẫn lộn với từ được giải
nghĩa, chúng tôi dều giải quyết dễ dàng. Chẳng hạn, ở trường hợp Gọn, một gọn,
hai gọn, chúng tôi tính là ba mục từ, gồm: gọn, một gọn, hai gọn.
Đối với những trường hợp soạn giả đưa cùng lúc nhiều mục từ mà chỉ có một
lời giải thích thì chungs tôi xem đó là các mục từ dồng nghĩa. Chẳng hạn, ở trường
hợp Ma quỷ, ma cỏ, chúng tôi tính là hai mục từ và chúng đồng nghĩa với nhau.
Đối với trường hợp mục từ có nhiều hình thức phát âm và ghi chính tả,ví dụ:
- Mục từ có nhiều hình thức phát âm khác nhau:
+ Gệch: xiên, chéo, giệch
+ Gệic: X, gệch
- Mục từ có nhiều cách ghi chính tả:
+ Ko: x.co
+ Kơ: x. cơ
+ Ku: x. cu
+ Kư: x. cư
(x. viết tắt của Xem)
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thì chúng tôi xử lý như sau: bước đầu là tìm mục từ chính và mục từ biến
thể. Mục từ chính là mục từ được giải nghĩa đầy đủ, còn mục từ không được giải
nghĩa mà chỉ có lời chỉ dẫn tra cứu tại đâu, chúng tôi xem là biến thể của mục từ
chính, tức là mục từ phụ. Khi thống kê, chỉ các mục từ chính là được tính.
Chúng tôi cũng chỉ tính là một mục từ đối với trường hợp mục từ được giải
nghĩa nhiều lần.

hệ thống phân biệt nhau bởi những đặc trưng, thuộc tính của chúng. Chẳng hạn, hệ
thống từ Hán Việt phân biệt với hệ thống từ thuần Việt bởi đặc trưng nguồn gốc. Từ
thuần Việt có nguồn gốc bản ngữ, còn từ Hán Việt lại có nguồn gốc ngoại lai (vay
mượn tiếng Hán). Hoặc từ nghề nghiệp phân biệt với từ vựng chung (từ toàn dân)
bởi đặc trưng phạm vi sử dụng.
Hệ thống từ vựng nếu nhìn bằng con mắt thuần ngữ pháp học, người ta có
thể phân chia nó thành lớp hạng khác nhau một cách tương đối chặt chẽ và mạch
lạc. Ngựơc lại, nếu nhìn bằng con mắt từ vựng học thì việc phân chia các lớp
dường như không được phân minh, rạch ròi bằng. Tuỳ thuộc vào tiêu chí mà người
ta có nhiều cách phân chia vốn từ tiếng Việt ra thành nhiều tiểu hệ thống, tức các
thành phần từ vựng khác nhau. Có thể khái quát bức tranh phân loại bằng bảng
dưới đây:
Tiêu chí Thành phần từ vựng
Nguồn gốc Lớp từ bản ngữ (thuần)
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lớp từ ngoại lai
Các từ ngữ gốc Hán
Các từ ngữ gốc Ân- Âu
Vai trò trong đời
sống giao tiếp
Lớp từ tích cực
Lớp từ tiêu cực Từ cổ
Từ cũ
Từ lịch sử
Từ mới
Phạm vi sử dụng Phạm vi rộng: Từ vựng chung
Phạm vi hẹp
Thuật ngữ
Từ địa phương

thái tiếng Việt hiện tại .Theo cách phân lớp tiếng Việt theo tiêu chí tiêu cực và tích
cực, thành phần này thuộc lớp từ vựng tiêu cực (hiểu tích cực và tiêu cực ở đây là
những từ ngữ có đóng vai trò tích cực trong đời sống giao tiếp hay không) và người
ta đã thống nhất gọi là thành phần từ vựng này là từ cổ.
Từ cổ là những từ bị đẩy ra ngoài hệ thống từ vựng hiện đại, bởi trong quá
trình phát triển, biến đổi đã xảy ra những xung đột về đồng nghĩa hoặc đồng âm và
bị từ khác thay thế. Chính vì thế từ cổ đều có từ tương ứng, đồng nghĩa với chúng
trong trạng thái từ vựng hiện tại .
Ở đây, chúng tôi xin được lưu ý thuật ngữ từ cổ mà chúng tôi dùng bao gồm
cả một bộ phận từ ngữ mà người ta vẫn gọi là từ cũ. Đó là những từ ngữ chỉ mới
thay thế cách đây không lâu, hoặc đang trên đường bị thay thế hẳn. Thực tế là
chúng cũng bị từ khác tay thế nhưng người đương thời vẫn hiểu chúng khá rõ, thậm
chí đôi khi rất rõ và vẫn dùng. Như vậy, nếu so về tính chất và mức độ cổ thì các từ
cũ không thể bằng các từ cổ thật sự. Các từ cũ trong từ điển VBL là: tràng an, kinh
đô, ác quạ, cái ác, cai… Trong khoá luận này, chúng tôi không tách riêng chúng
thành một loại từ với với tư cách là một thành phần từ vựng có trong Từ điển VBL
mà nhất loạt gọi chúng là mục từ cổ vì chúng tôi lấy tiêu chí bị từ đồng nghĩa trong
từ vựng hiện đại thay thế .
Có thể chia các từ ngữ cổ trong từ điển VBL thành hai loại sau:
1.1.1. Loại 1: những mục từ cổ đã bị mất hẳn, không có trong vốn từ vựng
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
hiện đại
Đây là những mục từ đã bị thay thế, nhường vị trí của mình cho các từ ngữ
đồng nghĩa tương ứng .Sự xung đột về đồng nghĩa đã làm cho các mục từ cổ này
“một đi không trở lại”. Hiện nay, chúng ta chỉ gặp các mục từ cổ này trong các tác
phẩm văn học cổ mà thôi. Ví dụ:
Mục từ cổ
Nghĩa trong Từ
điển VBL

Làm người mựa cậy khi quyền
thế (Quốc âm thi tập)
ẩn cả lọ chi thành thị nữa
(Quốc âm thi tập)
Nhắc nhở phô bày đạo cái con
(Quốc âm thi tập)
Thuyền muộn còn chèo chẳng
khứng (Thiên nam ngữ lục)
Sớm ngày min đi chợ trưa
(Thiên nam ngữ lục)
Bạn tác rẻ roi đà phải chịu
(Quốc âm thi tập)
Lệ khi hoa chẳng chiều ong
(Phan Trần)
Vội han di trú nơi nao
(Truyện Kiều)
Hoa cỏ đưa tăng tới cửa chiền
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Âu
Chác, mua chác
Nghỉ
Tlàm (chằm)
Hẩm
thần
Xem ra
Mua bán
Người ấy, kiểu nói
rất lịch sự
Hoa tai, bông tai

áp đởm
Bấy, của tốt bấy
Tép tỏi, nhánh
gừng
Đem lại gần
Của đẹp dường
nào
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bao nả
Blếu
Cái
Chiêu
Chư
Dạ
Dỏ, nhà dỏ
Cơn du nào
Cãng về
Còm
Cốn, buậc làm
cốn
Cước
Dou dài
Deách
Người di mạnh
Deồ
Anh khoẻ không
Mụn nhọt
Mụn nhọt
Bên trái

Dả con mắt
Dạng đàm lên
Dầu lòng
Dản
Diển mũ
Nói dêy duớng
Đại
Cắm, đóng đanh,
đâm
Chịu ơn
Ngựa chạy mau
lẹ
Dưới quyền cai
trị
Cách nhẹ nhàng
Khinh
Cái thúng, cái
giành có quai
Đĩa Tàu miệng bị
mẻ
Nói diễu cợt
Bệnh rỉ nước mắt
Khạc đờm từ đáy
ngực
Theo ý anh
Đưa một vật gì
bằng cả hai tay
Mũ xếp che trán
Pha trộn câu
chuyện

Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nói chung về y phuc cả, giữa hai cách nói khác nhau đó không có một sự thay đổi ý
nghĩa cơ bản như khi đổi từ quần dài sang quần đùi...
Mặc dù yếu tố thứ hai không nêu lên cái nét khu biệt ,nhưng sự có mặt của
yếu tố thứ hai này không phải vô dụng. So sánh giữa từ ghép láy nghĩa có một yếu
tố là mục từ cổ với một từ đơn là từ tương ứng và thay thế từ cổ đó trong trạng thái
từ vựng hiện tại ta sẽ thấy sự có mặt của từ cổ trong từ ghép láy nghĩa sẽ làm cho ý
nghĩa của nó có tính chất khái quát, tổng hợp.Ví dụ: so sánh xe với xe cộ, chợ với
chợ búa, tre với tre pheo , non với non nớt,... Như vậy, nếu gặp một đơn vị song tiết
đẳng lập có một trong hai thành tố “mất nghĩa “ thì có thể hiểu bằng công thức :
AB = A(hoặc B) nói chung (hoặc nói khái quát).
Trong đó,A là thành tố rõ nghĩa, B là thành tố mất nghĩa (hoặc ngược lại).
Các mục từ cổ trở thành từ tố
Từ cổ
Nghĩa trong
TĐ VBL
Từ ghép láy nghĩa
Blọt (trọt)
Nhợi
Pheo
Khem
Xống
Tác
Nề
Lách
Nớt
Ọp

Trồng cây, gieo hạt

Dấu
Đuổi ra khỏi nhà
Buồn nôn
Người trang trọng nghỉ
Khen
Đền thờ các tượng thần
Khinh
Yêu
Mơn trớn, âu yếm
Ruồng rẫy
Gớm ghiếc
Nghỉ ngơi
Khen ngợi
Chùa chiền
Khinh dễ
Tơ vương
Yêu dấu
1.1.2.2. Những mục từ tồn tại trong một số lối nói hạn chế
Cũng giống với các mục từ trở tthành từ tố, bộ phận mục từ này cũng không
còn khả năng sử dụng độc lập mà chỉ tồn tại trong một số lối nói hạn chế và không
phải ai cũng biết được ý nghĩa của các mục từ ấy. Trong Từ điển VBL có một số
mục từ sau thuộc loại này:
Mục từ
Nghĩa trong
TĐ VBL
Lối nói hạn chế
Kiêu
Dái
Cả
Chầy

trong vốn từ vựng hiện tại là biến thể ngữ âm của từ cổ này ), nghỉ (bàn đến từ nghỉ
trong truyện Kiều:
Có nhà viên ngoại họ Vương
Gia tư nghỉ cùng thường thường bậc trung
(Câu 12- 13)
Vài tuần chưa cạn chén khuyên
Mái ngoài, nghỉ đã dục liền ruổi xe
(Câu 893- 894)
Phụ tình , án đã rõ ràng
Dở tuồng, nghỉ mới kiếm đường tháo lui
(Câu 1187- 1188)
Giáo sư Đinh gia Khánh có nêu một cơ sở khá quan trọng là “Các bản quốc
ngữ của Trương vĩnh Ký Đe-mi-sen, Nooc-đơ-man, Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi
Kỷ...đều phiên âm là nghỉ và “chua” là tiếng cổ, thổ âm Nghệ Tĩnh, nghĩa là hắn,
nó, y, va ...”[7])
1.2. Từ lịch sử
Trong từ điển VBL có một loạt từ ngữ chỉ chuyên dùng trong thời kỳ ấy, hiện
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nay không thấy sử dụng đến. Chúng là các mục từ lịch sử. Các mục từ này luôn
phản ánh một giai đoạn lịch sử nhất định đặc thù cho xã hội giai đoạn đó. Khi giai
đoạn lịch sử đó qua đi thì những từ ngữ này lập tức không còn được sử dụng nữa vì
không phù hợp. Nói cách khác từ lịch sử là những từ bị đẩy ra ngoài phạm vi từ
vựng chung, tích cực bởi các nguyên nhân lịch sử và xã hội. Khi đối tượng mà từ
biểu thị, gọi tên bị gạt ra ngoài đời sống xã hội thì tên gọi của nó cũng mất dần vị
trí vốn có của nó trước đây. Khác với từ cổ, từ lịch sử không có từ ngữ đồng nghĩa
trong từ vựng tiếng Việt hiện đại. Bình thường chúng ít khi được sử dụng nhưng
khi cần diễn đạt những khái niệm có tính chất lịch sử, người ta phải dùng đến
chúng. Các tác phẩm văn học sử, sử học viết về thời kỳ cận đại, từ ngữ lịch sử
chiếm tỷ lệ rất cao.

+ Cha mạc: Chánh quyền hương thôn
+ Cai lệnh:
+ Lệnh sử:Viên kí lục phục vụ những quan án cao cấp trong tư thất
+ Cai bếch ( cai vếch ): Người làm đầu một hiệu cờ , ông cai đội
+ Tứ uệ ( tứ vệ ): Lính của vị co tước hiệu là vua trống không , và được gọi
là bua , tức là vua , nhưng chẳng có quyền cai trị vương quốc .
+ Thinh đô vương : Tên riêng của chúa già xứ đông kinh .
Ngoài ra còn có: đi khấm vua hành khiếm, thông sự, tôi tá, quan triều, cũ
triều, quan vũ, xã nhên, tài phú, nội thần, quan đại thần, vua, chúa ...
1.2.2. Tên gọi những sự vật dùng trong học hành, những hiện tượng thi cử
thời xưa
Ở thế kỷ thứ XVII và các thế lỷ trước đó, để chọn ra những người làm
quan và thơ lại , nhà nước phong kiến tổ chức các kỳ thi nhằm tuyển dụng những
hiền tài cho đất nươc . Năm 1648 , chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũng đã định phép
thi và nội dung thi cử. Có hai kì thi chính: Chính độ để chọn người làm quan, hoa
Tài liệu được tải từ website
Website: Email : Tel : 0918.775.368
văn đẻ chọn người làm thơ lại. Thi trong ba ngày và tất cả đều thi viết. Các kỳ thi tổ
chức theo kỳ hạn là chín năm một lần. Tình hình này được phản ánh rõ ràng trong
từ điển VBL .AdR đã thu thập 11 mục từ tên gọi là các hiện tượng, sự vật dùng
trong học hành, thi cử lúc bấy giờ để đối dịch và giải nghĩa. Các mục từ đó là:
+ Tấn sĩ: Lên đến cấp ba trong hàng văn nhân. Người tới cấp bậc này được
miễn mọi thứ thuế và việc nặng công cộng cho chính mình cũng như con cái của
họ
+ Sinh đò (sinh đồ): Bậc thấp nhất trong hàng văn nhân
+ Đỗ trạng nguyên: Đạt tới bậc cao nhất trong làng văn học, như tiến sĩ
+ Tứ thư: Tên các sách của Khổng Tử
+ Cảo : Viết bằng chữ lớn như thói quen trong thi cử.
+ Cóu , õu cóu , huâng cõu :( Ông cống , hương cống ) Bậc thứ hai trong kì
thi văn, ai được bậc đó thì được miễn thuế.

+ Cuõn phục thành: Quân lính bao vây thành luỹ.
+ Coẽn rểu rểu: quân lính đứng theo hàng.
+ Ăn lộc: Bổng lộc hàng năm do nhà vua hay vi thủ lĩnh nào đó ban cho.
+ Sấp ấn: Phong ấn, treo ấn, khi các quan xử án nghi lễ, tức là ba ngày trước
năm mới cho tới ngày thứ mười một tháng thứ nhất .
+ Khai ấn: Mở ấn, tức là hết những ngày nghỉ lễ
1.2.4. Các từ là tên gọi các đồ vật chỉ có trong thời kỳ lịch sử
Trong Từ điển VBL có 7 mục từ thuộc loại này, đó là:
+ ấn: ấn, dấu, mộc
+ Mục bài: Chiếu chỉ của nhà vua viết trên bảng gỗ dựng đứng
+ Mũ đầu cân: Mũ lông có tai mà các Tiến sỹ dùng
+ Thao: Dây lụa các nhà quyền quý và văn nhân dùng để thắt lưng
+ áo mã giáp: áo giáp cặp đôi khâu nhiều lỗ sặc sỡ dành cho lính và ca sỹ
Tài liệu được tải từ website


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status