những thành tựu và hạn chế về văn hoá xã hội ở việt nam từ năm 1986 đến nay - Pdf 25

Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo
Trường ĐHSP.TPHCM
Khoa: Lòch Sử
BÀI TIỂU LUẬN
Môn: Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Đề tài:
Những thành tựu và hạn chế về văn hoá xã
hội ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
GVHD: Nguyễn Cảnh Huệ
SVTH:Tổ 1 lớp Sử 2A
Năm học: 2007- 2008
TP.HCM, ngày 25 tháng 12 năm 2007
2
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Nhóm sinh viên thực hiện
Tổ 1 lớp Sử 2A
1. Hà Xuân Hoàng
2. Điểu Thò Kim Hằng
3. Nguyễn Thò Lê nh
4. Đỗ Văn Chính
5. Phan Nguyễn Phương Châu
6. Huỳnh Thò Kim Dung
7. Vi Thò Bích
8. Lê Thò Hậu
9. Trần Mai Huyền
10. Bùi Thu Hằng
3
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Mục lục
A. Lời mở đầu 5

xã hội chủ nghóa.
Công cuộc đổi mới đã đưa nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ khủng hoảng,
thu hẹp khoảng cách so với các nước khác trên thế giới. Bên cạnh những thành tựu
mà chúng ta đã đạt được thi vẫn còn tồn tại một số hạn chế.
Trong phạm vi của bài viết này nhóm chúng tôi xin đề cập đến những thành
tựu và hạn chế trong lónh vực văn hoá- xã hội của Việt Nam kể từ sau công cuộc đổi
mới đát nước (1986) với mong muốn rằng sau khi nhìn lại một chặng đường mà
Đảng và nhân dân ta đã trải qua, chúng ta sẽ thấy được những thành quả để tự hào
với bạn bè năm châu, đồng thời cũng để khắc phục những hạn chế, thiếu xót từ đó
đúc kết lại những kinh nghiệm cho công cuộc phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội của
đất nước trong tương lai.
5
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
B.
Nội dung
Nội dung
I.
I.
về đời sống vật chất:
về đời sống vật chất:
1. Thành tựu
Từ cuối năm 1988 trở đi, vấn đề lương thực xét cân đối chung trên phạm vi
cả nước đã được giả quyết tốt hơn. Thò trường thực phẩm dồi dào, nhiều món ăn mới
lạ được chế biến, các loại thực phẩm ngon ăn liền được chế biến ngày càng phong
phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của người dân…. Nhu cầu mặc được đáp ứng khá hơn.
Hiện nay có nhiều kiểu dáng, chất liệu đáp ứng được thò hiếu người tiêu dùng. Nhà
ở của bộ phận cư dân ở thành thò và nông thôn được cải thiện. Nhiều ngôi nhà mới
khang trang với nhiều kiểu dáng được xây lên ngày một nhiều. Tiện nghi sinh hoạt
trong nhiều gia đình được sắm sửa ngày càng nhiều. Việc đi lại của nhân dân dễ
dàng hơn. Nhiều tuyến đường được xây dựng, đường liên thôn được mở rộng. Hệ

trường hợp tử vong mỗi ngày trung bình trong cả nước.
Nhiều tuyến đường trong mùa mưa ở các khu vực thường bò ngập lụt, nhất là
vùng ngoại ô thành phố HCM. Hệ thống cảng biển, đường sắt, hàng không còn bất
cập về năng lực vận chuyển, khả năng kho bãi, về thông tin quản lí, phí dòch vụ còn
cao.
Hệ thống thủy lợi chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển nông nghiệp và nông
thôn, các hồ chứa nước ở khu vực miền trung, tây nguyên và miền núi chưa được
đầu tư hoàn chỉnh, chất lượng một số công trình thấp, hiệu quả sử dụng kém. Các
công trình thủy lợi tập trung nhiều cho sản xuất lúa, chưa phục vụ tốt cho phát triẻn
cây công nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Hệ thống thủy lợi ở đồng bằng sông cửu
long đầu tư thiếu đồng bộ, còn nhiều yếu kém, bất cập. Quản lí nguồn nước còn bò
buông lỏng.
Hệ thống điện vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về nguồn điện, lưới điện, chất
lượng, tỉ lệ tổn thất còn cao. Một số công trình điện không hoàn thành đúng kế
hoạch, gây thiếu điện trong thời gian cao điểm và khi có hạn hán nghiêm trọng.
Hạ tầng bưu chính viễn thông thiếu đồng bộ, chất lượng dòch vụ còn thấp; giá
dòch vụ còn cao, hoạt động dòch vụ-viễn thông ở vùng sâu vùng xa chưa đáp ứng
yêu cầu. Kết cấu hạ tầng đô thò phát triển chậm, chất lượng quy hoạch đô thò thấp.
Hệ thống cấp nước kém phát triển. Thiết bò xử lí nước lạc hậu, chất lượng nước kém,
quản lí đô thò kém. Hệ thống phân phối nước và nguồn nước nhiều nơi chưa được
đầu tư đồng bộ. Hệ thống xử lí chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp vừa
thiếu vừa kém chất lượng, chưa ngăn chặn được tình trạng ô nhiễm môi trường ngày
càng trần trọng. Nhiều công trình trường học, cầu cống xây dựng xong vẫn chưa
được đưa vào sử dụng đã xảy ra tình trạng sụp, lún, sập (như vụ sập cầu Cần Thơ
vào ngày 25-9-2007). Nhiều hạn chế trên gây ra những tổn thất và hậu quả nghiêm
trọng về người và của.
II.
II.
về văn hóa tinh
về văn hóa tinh

năm, cuộc vận động xã, phường làm tốt công tác thương binh liệt só đã mang lại
hiệu quả thiết thực và rất thành công( 1996-2006). Tính đến thời điểm này, cả nước
đã có 9.708 xã, phường (tỷ lệ 89.1%) được UBND cấp tỉnh , thành phố công nhận là
tốt công tác thương binh, liệt só, thể hiện ở các mặt sau: các gia đình chính sách đều
đạt mức sống trung bình và khá, có nhà ở ổn đònh, được tặng nhà, sổ tiết kiệm tình
nghóa, con gia đình chính sách được học hành, được hocï nghề, tạo việc làm, các đối
tượng chính sách đều được thăm, khám bệnh và điều trò thường kì… Nhờ có chương
trình tình nghóa này, hơn 90% số gia đình chính sách trong cả nước có cuộc sống ổn
đònh, một số gia đình có mức sống khá và được cải thiện. Một số tỉnh, thành phố đã
đạt 100% số xã, phường được công nhận là Hà Tây, Bình Dương, Hải Phòng, Tiền
Giang, Trà Vinh…
Các chính sách giúp đỡ người khó khăn, các bà mẹ Việt Nam anh hùng cũng
được quan tâm một cách thoả đáng. Về việc phát động toàn dân xây dựng đời sống
văn hoá ở khu dân cư được triển khai rộng rãi đến tận làng xã, thôn xóm. Nhiều
khu phố văn hoá được công nhận, gia đình văn hoá ngày càng nhiều, mọi người dân
hăng hái hưởng ứng tham gia theo chủ trương chung của Đảng và chính sách nhất
quán chung của Nhà nước.
Về các mặt như lễ cưới, lễ tang, lễ hội: khi đất nước bước vào công cuộc đổi
mới, do chuyển sang nền kinh tế thò trường và mở rộng giao lưu quốc tế, bên cạnh
8
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
hình thức truyền thống của nước nhà, nhiều hình thức cuả phương Tây được tiếp thu
và biến cách phù hợp với điều kiện của đất nước ngày càng nhiều. (cưới hỏi được tổ
chức ở nhà hàng ngày càng nhiều, các lễ hội như Hallowen, Lễ giáng sinh được tổ
chức ngày càng sinh động hơn )
Về các lọai hình nghệ thuật văn hóa ngày càng phổ biến ở nhiều nơi, nhiều
đòa phương bao gồm các loại hình sau: hoạt động ca múa nhạc, sân khấu, thơ văn,
mỹ thuật, nhiếp ảnh, khai thác bảo tồn văn hóa cổ truyền, hoạt động lễ hội các trò
chơi dân gian truyền thống và hiện đại. Bên cạnh đó, nhiều loại hình nghệ thuật của
Phương tây cũng được du nhập vào Việt Nam. Làm cho văn hóa Việt Nam thêm

SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
nghệ thuật dân tộc và hiện đại hòa nhòp thúc đẩy nhau phát triển ( tuồng, chèo, ca
trù, cải lương, múa rối nước…) ngày càng được đề cao và quan tâm phát triển.
Nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa: liên hoan, hội diễn, kỉ niệm, hội hè, gặp
mặt, du lòch, thăm viếng… liên tục và rầm rộ mở ra (các lễ tổ chức trao giải thưởng,
tôn vinh nghệ só, các nhà doanh nghiệp trẻ. Ví dụ: giải Trần Hữu Trang, giải bông
lúa vàng, cánh diều vàng, các buổi triển lãm tranh ảnh gây quỹ cho trẻ em nghèo,
người gặp hoàn cảnh khó khăn trong xã hội…). Lễ hội truyền thống được mở rộng
nhanh chóng. Nhiều công trình và vật phẩm văn hóa do dân ở cơ sở tự đóng góp
công sức làm ra cho mình, giảm bớt phần đầu tư của chính quyền đòa phương.
Nhìn lại xuyên suốt chiều dài lòch sử, nếu trước kia, “đề cưong văn hóa”
(1943), với phương trâm “dân tộc- khoa học- đại chúng”, xác hợp với yêu cầu giai
đoạn đất nước luc bấy giờ (chống lại sự thoái mạ dân tộc, phi nhân bản, phi khoa
học, không quan tâm đến nhu cầu văn hóa của quần chúng và giật lùi bước tiến hóa
của lòch sử…). Thì ở giai đoạn lòch sử hôm nay Đảng ta đề cao một nền văn hóa tiên
tiến đậm đà bản sắc dân tộc với mục tiêu chung : “dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ văn minh”. Đó là cơ sở cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ và
các giá trò tinh thần trong thời kì mới.
Khi đất nước bắt đầu thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu và bước vào
hàng ngũ các quốc gia đang phát triển. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa của một quốc giaphấn đấu theo lí tưởng xã hội chủ nghóa đó là một nền văn hóa
tự đổi mới, tự hòan thiện và không ngừng vươn lên, vừa nhòp nhàng với đònh hướng
xã hội chủ nghóa vừa phù hợp với bước đi của thời đại đang tiến vào ngưỡng cửa của
văn minh trí tuệ. Khẳng đònh giá trò văn hóa tinh thần dân tộc là vấn đề vừa lâu dài
vừa mang tính thời sự khi ta đặt nó trong bối cảnh thời đại va đất nước hiện nay. Đó
cũng là những mặt cần quan tâm trước tiên trong việc bảo tồn văn hóa dân tộc trước
xu thế toàn cầu hóa.
Việt nam đã chuẩn bò đối mặt với tòan cầu hóa bằng sự tăng cường nội lực và
có những bước đi thích hợp trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việt nam đã tham gia hiệp hội các nước Đông nam Á ( Asean), tham gia diễn đàn

Phù Ninh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tháng 3 năm 2007, Thiền viện Vạn Hạnh ở Đà
Lạt( Lâm Đồng) đã khánh thành tượng Phật thích Ca được xem là lớn nhất Việt
Nam với chiều cao 24 m, đường kính đài sen rộng 20m, sau 3 năm xây dựng.
Cũng trong 2 năm 2003 và năm
2004, cả nước có 2.821 chức sắc tôn giáo
được phong chức, bổ nhiệm; 889 trường
hợp thuyên chuyển, 9.883 người đang học
ở các trường đào tạo của các tôn giáo và
có 5.417 người tốt nghiệp. Từ năm 2003
đến quý I- 2005 , Nhà xuất bản tôn giáo
đã xuất bản 913 đầu sách, 4.413.000 cuốn
kinh sách, trong đó Phật giáo có 659 đầu
sách với 1.831 ngàn bản; công giáo :165
đầu sách với 1.237 ngàn bản; Phật giáo
Hòa hảo có 25 đầu sách với 333 ngàn bản; Cao Đài: có 5 đầu sách với 18 ngàn bản…
những hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, sống động và phong phú khắp nơi trong cả
nước.
2. Hạn chế:
Bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động văn hoá tinh thần của nước ta cũng
có những mặt hạn chế và tiêu cực
Việc chỉ đạo, quản lí trên một số lónh vực văn hoá, xã hội còn buông lỏng.
Nhiều nơi còn phát sinh lối sống thực dụng, trục lợi, sùng bái nước ngoài, coi thường
11
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
những giá trò đạo lý và giá trò văn hoá của dân tộc, tình nghóa cộng đồng mà biểu
hiện rất rõ trong tiệc cứơi, lễ tang, lễ hội. Nhiều bộ phận quan chức có quyền tổ
chức đám cưới, đám tang linh đình. Nhiều hủ tục đã được phục hồi và hình thành
thêm nhiều hủ tục mới, cái lạ thiếu sự phê phán, chọn lọc. Những hiện tượng đó đã
ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục, ảnh hưởng đến đời sống vật chất và tinh thần
của người dân, là thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc trong xu

Ngoài ra, sự cạnh tranh trong kinh tế đã nảy sinh những tiêu cực trong đời
sống văn hoá tinh thần của toàn xã hội làm ảnh hưởng đến sự phát triển của văn
hóa. Sự phân hoá giàu nghèo trong mọi giai tầng xã hội và trong bản thân quần
12
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
chúng tới việc hình thành những lối sống không lành mạnh (hưởng thụ, vương giả,
xa hoa, ích kỉ, vụ lợi, bon chen, lừa đảo…). Cũng như làm sống lại những hủ tục, tư
tưởng cục bộ, đòa phương, công thần, trọng phú, khinh bần, phú quý sinh lễ nghóa và
nhiều hành vi phạm pháp (móc nối tham nhũng, hối lộ, lợi dụng chức quyền )
Về tôn giáo còn có nhiều phần tử, chức sắc lợi dụng niềm tin tôn giáo của
nhân dân nhằm bôi xấu Đảng, gây mất đoàn kết trong nhân dân, niềm tin của Đảng
đối với nhân dân bò lệch lạc, những phần tử phản cách mạng luôn dựa vào tôn giáo
nhằm công kích Đảng ta , phá rối nhà nước XHCH, đòi thành lập nàh nước riêng
Như vậy cùng với những thành tựu về văn hoá tinh thần, Việt Nam ta đang
đứng trước những thách thức, lớp trẻ rất ưa chuộng phong cách Phương Tây và thờ ơ
với những loại hình văn hoá truyền thống của dân tộc. Ngày ngày trên các phương
tiện truyền thông luôn luôn truyền tải các tin tức , hình ảnh, ấn phẩm không phù hợp
với tryuền thống văn hoá dân tộc, lối sống thực dụng, tư tưởng tiêu xài, sự hưởng thụ
tình dục theo kiểu Phương Tây tạo ra nhiều cái phản văn hoá trên hệ thống giá trò
của chúng ta. Tuy nhiên không phải trong quá khứ đều trở thành truyền thống. Bản
sắc dân tộc trong đó có văn hoá tinh thần lá cái chắt lọc từ tinh hoa truyền thống và
nó cũng vận đông như bất kì một hiện tượng văn hoá nào. Văn hoá tinh thần là cái
cô động nhất, tinh tuý nhất trong mọi cái tinh tuý nhất của dân tộc, lá cái không thể
lẫn lộn được với cái khác trong toàn bộ giá trò văn hoá.
3. Thành tựu về hoạt động thể dục thể thao:
việc chuẩn bò và tổ chức thành công Đại hội thể thao Đông Nam lần thứ
22( SEA Games 22) và Đại hội thể thao người khuyết tật Đông Nam Á (Sea games
Pasa Games 22), lần đầu tiên được tổ chức ở nước ta là một thành tựu có ý nghóa
nhiều mặt. Đây là một chương trình hoạt động lớn, không những là nổ lực của ngành
thể dục, thể thao mà còn thu hút các ngành các đòa phương tham gia. Chương trình

1. Số dân và sự gia tăng dân số
Nếu xét về diện tích nước ta đúng thứ 58 trên thế giới nhưng về dân số nước
ta lại đứng thứ 14. theo tổng điều tra số dân và nhà ở năm1999 dân số nước ta đã
lên đến 76,3 triệu người, theo tình hình diễn biến như hiện nay thì một số chuyên
gia đã dự báo rằng đến năm 2010 dân số nước ta sẽ là 86,3 triệu người, và dến năm
2020 sẽ tăng lên đến 95,8 triệu người.
Cũng như một số nước trên thế giới,
hiện tượng bùng nổ dân số ở nước ta diễn ra từ
những năm 50 của thế kỷ XX. Từ năm 1990
đến nay tỷ lệ gia tăng dân số có giảm đi và
dần di vào thế ổn đònh, tỉ lệ sinh tương đối
thấp và đang giảm chậm. Tỉ lệ sinh cũng ổn
đònh ở mức tuong đối thấp. Hiện nay sự gia
tăng dân số ở nước ta đã thấp hơn hơn mức
trung bình của thế giới, khẳng đònh được
những thành tựu lớn lao của công tác dân số kế hoạch hoá gia đình.
Chính sách dân số kế hoạch hoá gia đình được thực hiện ở nước ta từ năm
1961 được chia ra làm bốn giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1: từ 1961 kết quả của chương trình này dường như không để lại
dấu ấn gì đáng kể.
Giai đoạn 2: từ năm 1971 với các giải pháp cơ bản là cung cấp các dòch vụ kế
hoạch hoá gia đình, tuyên truyền vận động và có chế độ khuyến khích phụ nữ đặt
vòng.
Giai đoạn 3: từ năm 1984 với quyết đònh thành lập uỷ ban quốc gia dân số và
sinh đẻ có kế hoạch.
14
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Giai đoạn 4: bắt đầu từ năm 1989 khi uỷ ban dân số kế hoạch hoá gia đình
tách khỏi cơ quan bộ y tế và hoạt động như một cơ quan ngang bộ thẩm quyền, độc
lập trong việc xây dựng những chính sách.

khác nhau luôn có sự chênh lệch nhất đinh. Chúng ta sẽ thấy rõ điều nay qua bảng
thống kê sau:
15
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
Tỷ suất
sinh thô
0
/
00
Tổng tỷ
suất
sinh
Tỷ suất
chết sơ
sinh
0
/
00
Tỷ suất
chết thô
0
/
00
Gia tăng
tự nhiên
%
Cả nước 19,9 2,3 36,7 5,6 1,43
Thành thò 15,9 1,7 18,3 4,2 1,12
Nông thôn 21,2 2,6 41,0 6,0
ĐB Sông Hồng 16,2 2,0 26,5 5,1 1,11

môn kỹ thuật ở thành thò là 31,68% gấp tới 4 lần so với nông thôn; trình độ lao động
đại học cao đẳng và trên đại học là 8,32% gấp 9,2 lần so với nông thôn.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và kó thuật, đời sống của
người dân từng bước được nâng cao.
Thu nhập bình quân đầu người từ 5,7 triệu đồng (năm 2000) lên 10 triệu
đồng (2007), tăng 12,1% năm và chỉ số phát triển con người được nâng lên. Thu
nhập bình quan đầu người của nước ta là 562 USD/người/năm.
Trong những năm từ 2001- 2005 đã tạo được việc làm cho 7,5 triệu lao động,
các thành phần kinh tế ngoài nhà nước thu hút gần 90% lực lượng lao động và tạo
được 90%việc làm mới. Xuất lao động và chuyên gia bằng 2,3 lần so với năm
trước. Năm 2005, thất nghiệp ở thành thò giảm xuống còn 5,3% và ở nông thôn thời
gian sử dụng lao động đạt 80,65%.
Ngoài ra khi đất nước có sự ổn đònh về chính trò, đặc biệt là từ giai đoạn 1995
đến nay, thanh niên Việt Nam tham gia xuất khẩu lao động ngày càng nhiều, điều
đó góp phần làm tăng thu nhập cho người dân.
Trong bài viết “kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”
của Nguyễn Quốc Phẩm.
Đã hơn 20 năm, Việt Nam tiến hành đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng,
nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn được đúc kết, đánh giá thành tựu, đúc kết kinh
nghiệm nhằm tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi mới.
Một trong những vấn đề có ý nghóa quan trọng là kết hợp tăng trưởng kinh tế
với tiến bộ và công bằng xã hội trong quá trình phát triển kinh tế theo đònh hướng
xã hội chủ nghóa ở nước ta.
Tại đại hội Đảng lần thứ XI lần đầu tiên Đảng đưa ra thuật ngữ “chính sách
xã hội”, đặt đúng vai trò của chính sách xã hội, “chính sách xã hội” bao gồm mọi
mặt của đời sống con người, điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục, văn hoá, các
quan hệ gia đình, giai cấp, dân tộc…
Hiểu theo nghóa rộng, quan niệm về chính sách xã hội của Đảng ta là một hệ
thống chính sách tác động đến con người, “nhằm phát huy sức mạnh của nhân tố
con người và vì con người”. Cũng từ đấy chính sách xã hội được xác đònh trên nhiều

XX đã tăng lên 400 USD (năm 2000) tăng 1,8 lần, 483 USD/người/năm (2003) và
đã lên đến 580 USD/người/năm (2004), năm 2007 thu nhập bình quân đầu người đã
lên đến 10 triệu đồng/người/năm.
Theo đánh giá của WB Thì tỉ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam giữa những năm
80 là 51% giảm xuống 3,7% cuối những năm 90 của thế kỷ XX, được xếp vào một
trong những nước có tỉ lệ hộ đói nghèo giảm mạnh. Còn theo chuẩn cua Việt Nam
thì tỉ lệ hộ đói nghèo của nước ta từ 30,1% năm 1992 xuống 11% năm 2000 và theo
tiêu chuẩn mới thì năm 2002 còn 17,2% đến năm 2004 giảm xuống còn 8,3%.
Về phía tổng ngân sách nhà nước, việc chi tiêu cho ngân sách quốc gia liên
quan đến mục tiêu xoá đói giảm nghèo đã lên đến 21 tỷ đồng. Nguồn quỹ tín dụng
giúp cho người hộ nghèo vay vốn lãi suất thấp được mở rộng. Ngân hàng phục vụ
người nghèo đến cuối năm 1999 đã huy động được 4.078 tỷ đồng, tổng dư nợ đạt
8.503 tỷ đồng, đã cho 2.170.000 hộ vay vốn, bình quân mỗi hộ vay 1,56 triệu đồng.
Có hàng trăm chương trình dự án hơn 40 tỷ đồng giúp các hộ nghèo, xã nghèo,
huyện nghèo… Các chính sách trên đã giúp cho đời sống nhân dân và đồng bào vùng
sâu, vùng xa được cải thiện rất nhiều.
Theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc thì Việt Nam đã giảm được ½ tỉ lệ đói
nghèo trong thập niên vừa qua. Nước ta đã xậy dựng được quỹ trợ cấp thường xuyên
và trở cấp đột xuất hàng năm có từ 1- 1,5 triệu người (gồm người già neo đơn, trẻ
mồ côi, người tàn tật, trẻ lang thang hoặc các gia đình bò thiên tai…) được cứu tế;
18
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
riêng năm 1999 và năm 2000 nhờ ngân quỹ cứu trợ đột xuất, hàng triệu hộ được cứu
trợ ở các tỉnh miền Trung và Nam Bộ.
Mức tiêu dùng bình quân tăng từ 2,6 triệu đồng/người/năm (1995) lên 4,3
triệu đồng/người/năm (2001). Việt Nam được coi là nước đạt chuẩn xoá mù chữ.
Đầu tư cho giáo dục trong tổng đầu tư ngân sách năm 2000 là 15% và năm
2003 là 16%. Tính đến hết năm 2003, có tới 19 tỉnh thành phố đạt tiêu chuẩn phổ
cập trung học cơ sở. Về y tế có tới 97,5% số xã có trạm y tế, trên 40% số trạm y tế
có bác só, có 80% số thôn bản có nhân viên y tế cộng đồng, có 95% số trẻ em dưới 5

của cả nước là 7,4%, và có sự chênh lệch giữa các vùng. Tỷ lệ thiếu việc làm (hoạt
19
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
động kinh tế không thường xuyên) ở nông thôn là 46,4%, còn ở thành thò là
6,7%.Vấn đề nổi cộm lên là việc sử dụng lao động nữ và lao động không có chuyên
môn kó thuật
Như vậy ta thấy rằng bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong lónh vực
dân số và việc làm vẫn tồn tại những khó khăn và thách thức rất lớn trong đó nổi
cộm lên là vấn đề phân bố lại dân cư và lao động giữa các vùng để sử dụng hợp lí
hơn nguồn lực phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, cũng như từng đòa phương
trong cả nước
Trước tình hình đó nhà nước ta một mặt có chính sách đầu tư để tạo thêm
việc làm, mặt khác khuyến khích nhân dân tự tạo thêm việc làm. Nhà nước có
‘chương trình xúc tiến việc làm quốc gia” cho các đòa phương các tổ chức quần
chúng vay vốn để mở các dự án nhỏ đồng thời có các hình thức đào tạo nghề cho
người lao động.
thành thò việc mở rộng nghành nghề với các thành phần kinh tế khác nhau,
đang mở ra phương hướng tạo thêm việc làm cho người lao động. Nhờ có được sự
thu hút của các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có thêm những khả năng tạo việc làm ở
các thành phố và những việc làm có thu nhập cao và ổn đònh.
3. Hạn chế:
Mặc dù mức phát triển dân số 15 năm trở lại đây đã giảm đi đáng kể nhưng
mỗi năm dân số vẫn tăng lên khoảng 1,2 triệu người. kết quả đạt được vẫn thấp hơn
so với yêu cầu. Năm 1996 dân số nước ta là 76,2 triệu người, nếu cứ theo tốc độ gia
tăng như hiện nay là 25%/năm và bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 3,7
con thì khoảng 35 năm nữa dân số sẽ tăng lên gấp đôi.
Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh còn là nhân tố quan trọng cản trở tốc độ
phát triển kinh tế xã hội, gây khó khăn cho việc cải thiện đời sống, hạn chế cho việc
phát triển về các mặt trí tuệ, văn hoá và thể lực của giống nòi.
Việc giảm tỷ suất sinh ở nông thôn cũng chưa vững chắc. nông thôn vẫn

chính vì thế mà sự đầu tư cho giáo dục thời kì này bò hạn chế, hệ thống nhà trường
được xây dựng trước đó giờ đây đã xuống cấp. Bên cạnh đó kỉ cương nề nếp trong
trường học không được củng cố, chất lượng giáo dục vì thế cũng không đạt kết quả
như mong muốn.
Đại hội VI của ĐCSVN tháng 12 -1986 đã mở dầu cho công cuộc đổi
mới ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới toàn diên đất nước cũng đã mở ra cho ngành
giáo duc Việt Nam một giai đoạn phát triển mới hứa hẹn những thay đổi, tạo nên
một bước tiến dài với những thành tựu lớn của ngành.
1. Giai Đoạn 1986-1995
a. Những Thành Tựu Đã Đạt Được:
♦ Về ngành học:
Giáo dục mầm non:
Mẫu giáo và nhà trẻ đã trở thành một khối thống nhất, có tác dụng hỗ trợ
nhau về mặt chăm sóc, nuôi dạy trẻ. Chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ có những
chuyển biến tích cực nhất là về nội dung và phương pháp.
Về công tác nuôi dưỡng: tính từ 1993-1994 công tác phòng chống suy dinh
dưỡng đã được chỉ đạo thực hiện có hiệu quả. Các đòa phương đã có nhiều biện pháp
tích cực nhằm nâng cao chất lượng bữa ăn. Bên cạnh đó thực hiện công tác vận
động phụ huynh tăng mức dóng góp, triển khai rộng rãi hệ thống VAC trong nhà
trẻ, mẫu giáo. Có chế độ chăm sóc riêng cho trẻ suy dinh duõng. Tại các trường
điểm, các nhà trẻ tham gia chương trình lồng ghép có tiến hành kiểm tra sức khỏe
21
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
đònh kì, theo dõi cân đo, ghi biểu đồ phát triển, phân loại sức khỏe trẻ em,theo dõi
và xử lí kòp thời những cháu bò suy dinh dưỡng nặng.
Tính đến năm học 1990-1991, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở những nơi đã làm
tốt chương trình chỉ còn 15-20%
Về công tác giáo dục: hầu hết giáo viên ở bậc mầm non đều nắm bắt
dược nôi dung chương trình và phương pháp giáo dục, cách tổ chức hoạt động
phương pháp giảng dạy đã khắc phục được tình trạng máy móc,chất lượng một số

Giai đoạn này hệ thống các trường dạy nghề nhất là dạy nghề ngắn hạn phát
triển mạnh, do nhu cầu học nghề của học sinh tăng lên. Các hìmh thức giáo dục bổ
22
SVTH: Tổ 1 lớp Sử 2A 07- 08 Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học
túc và tại chức đã được đa dạng bằng các hình thức giáo dục thường xuyên. Ngoài ra
các trường dân tộc nội trú được củng cố và phát triển nhanh.
Số lượng giáo viên học sinh tăng nhanh: 1994-1995 có 20122 trường,467453
giáo viên, 14203154 học sinh.
Quy mô giáo dục phát triển: hiện số học sinh THCS bỏ học giảm từ 16,1%
(1991-1992) xuống còn 2,52% (1993-1994). bậc THPT tỉ lệ này cũng đã giảm từ
14,4% xuống còn 4,41% .đó là kết quả đáng tự hào của toàn ngành giáo dục nói
chung và giáo dục phổ thông nói riêng.
Sự nghiệp giáo dục ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số có sự cố gắng vươn lên
và dạt những thành tựu to lớn góp phần đào tạo một đội ngũ đông đảo cán bộ người
dân tộc phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của đất nước cũng như trong các vùng dân
tộc. Tuy nhiên thực trạng giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số nhìn chung còn nhiều bất
cập.
Giáo dục chuyên nghiệp
Giáo dục trung học chuyên nghiệp:
Đã dào tạo củng cố một đội ngũ đông đảo cán bộ kinh tế- văn hoá- xã hội
hoạt động ở mọi lónh vực trên mọi miền đất nước. Họ đã đóng góp xứng đáng vào sự
nghiệp bảo vệ tổ quốc và phát triển kinh tế xã hội.
Đào tạo nghề
Trong giai đoạn này đào tạo nghề đã tiến một bước quan trọng:một mặt cùng
với trung học chuyên nghiệp tạo thành hệ thống giáo dục chuyên nghiệp, mặt khác
đã cùng với trung học chuyên ban, trung học cơ sở, trung học chuyên ngành tạo
thành bậc trung học mới. Ngoài ra ở một số đòa phương đã hình thành các trung tâm
dạy nghề được coi như là loại hình đào tạo nghề ngắn hạn trong bộ phận giáo dục
thường xuyên.
Nhằm xây dựng bậc trung học mới, đào tạo nghề đã và đang tổ chức biên

Hệ tại
chức
Hệ
khác
1975-1976 59 9642 92097 78637 3493 9967
1979-1980 79 16386 152327 124971 5831 51525
1984-1985 93 18717 124120 88921 7940 27259
1989-1990 102 20890 138566 93248 2479 38842 3997
1990-1991 105 20871 121570 94447 2945 14942 9236
1991-1992 105 20637 160196 95989 15800 12803
1992-1993 105 20456 204638 108323
1993-1994 104 20648 225274 118589 7320 68235 31120
1994-1995 96 21484 356316 136940 5940 96285 117145
Mạng lùi các trường cao đẳng, đại học rộng lớn
Hệ thống giáo duc, giai đoạn này bao gôm các trường đại học đa ngành, đa
lónh vực, đại học đa ngành và đại học chuyên ngành. Chính phủ quy đònh cụ thể cho
việc thành lập các trường dân lập
Giáo dục thường xuyên
Bổ túc văn hóa:
Chúng ta đã xây dựng đïc 172 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp huyện,
xã và 48 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh, thành phố. Các trung tâm này
hoạt động hiệu quả và đóng góp tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực cho
đất nước
Công tác đào tạo và bồi dưỡng tại chức
Số lượng sinh viên tại chức tăng lên nhanh chóng
Trong giai đoạn 1985-1990 hàng năm có khoảng 30.000 sinh viên tại chức.
Tiếp đến 1990-1991 số tại chức khoảng 33.000 sinh viên. Đến năm 1993-1994 số
sinh viên tại chức tăng gần gấp 3 lần với tổng số sinh viên trên toàn quốc là 89.000.
Đại học mở và giáo dục từ xa có khoảng 55.000 người. Đào tạo tại chức có khoảng
50.000 người theo học. Ngoài ra các trung tâm ngoại ngữ, tin học ứng dụng hàng

nghề. Đồng thời bộ còn phát động nhiều phong trào tự làm đồ dùng dạy học ở từng
miền và trên toàn quốc, đã thu hút hàng loạt giáo viên và học sinh tham gia. Chính
nhờ những cuộc thi này, hàng nghìn mẫu thiết bò dạy học và phục vụ công tác giảng
dạy ở các trường từ mẫu giáo đến PTTH đã được sử dụng.
Giai đoạn này đã có hơn 100 trường đại học và cao đẳng được xây dựng kiên
cố. Hơn 300 trường TH chuyên nghiệp, dạy nghề và trung tâm giáo dục kỉ thuật
tổng hợp có cơ ngơi khang trang. Tuy so với tiêu chuẩn quy đònh trong nước còn
chưa cao và thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, nhưng so với các giai
đoạn trước thì có thể nói tằng chưa bao giờ hệ thống các trường đại học cao đẳng lại
có được hệ thống trường sở khang trang như giai đoạn này. Đó chính là kết quả của
sự cố gắng lớn của nhà nước và nhân dân, của toàn ngành giáo dục trong nhiều
năm.
Năm 1993, bộ giáo dục đào tạo đã dành 10 tỉ đồng để đưa tin học vào giảng
dạy ở nhà trường phổ thông, bước đầu trang bò 1000 máy vi tính cho 200 trường
PTTH (chiếm gần 20% số trường PTTH). Các phương tiện nghe nhìn cũng được
25

Trích đoạn Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật trường học. Công tác giáo dục phòng chống các tệ nạn xã Công tác giáo dục phòng chống các tệ nạn xã về công tác phong, chống tham nhũng, quan về công tác phong, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status