Tình hình mắc bệnh viêm gan vịt do Virus ở một số tỉnh Đồng bằng Bắc bộ, phân lập Virus gây bệnh. Nghiên cứu đặc tính sinh học của chủng Virus nhược độc viêm gan vịt DHEG2000 và quy trình sản xuất Vacxin - Pdf 27

1. mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, chăn nuôi vịt đang dần trở
thành ngành sản xuất hàng hoá, góp phần vào chơng trình xoá đói giảm
nghèo ở một số vùng nông thôn nớc ta. Theo thống kê của Cục khuyến
nông, tổng số vịt trong cả nớc năm 1998 là 37.376.000 con, năm 1999:
39.207.000 con, năm 2000 là 45.896.000 con. Nh vậy, so với năm 1999 thì
số vịt năm 2000 đã tăng 17%. Mục tiêu phấn đấu của ngành chăn nuôi nớc
ta đến năm 2005-2010 phải đạt tỷ trọng 30% GDP nông nghiệp. Riêng đàn
gia cầm phải đạt 297500000 con vào năm 2005 (Lê Hồng Mận, 1999)[17].
Cùng với sự gia tăng số đầu con, các loại vịt giống siêu thịt cũng đợc nhập
về và nhân lên trên diện rộng nh giống CV Super M, giống Szarvas, giống
Cherry Valley (Anh Đào) các giống vịt này có đặc điểm là cho năng xuất
cao nhng sức đề kháng với bệnh lại kém hơn so với các giống vịt thuần
chủng của Việt Nam. Vì vậy, dịch bệnh luôn là mối lo ngại lớn cho ngời
chăn nuôi, việc tăng cờng các biện pháp kỹ thuật thú y, bảo vệ đàn vịt
khoẻ mạnh là một khâu hết sức quan trọng (Lê Minh Chí, 1999)[7][8].
Trong chăn nuôi vịt, bệnh viêm gan vịt là một bệnh truyền nhiễm gây
thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi (Nguyễn Xuân Bình, 2002)[3]. Bệnh xảy
ra ở thể cấp tính với vịt con 1-6 tuần tuổi, lây lan nhanh, tỷ lệ chết rất cao
có khi lên tới 100%.
Bệnh đợc ghi nhận đầu tiên ở Mỹ năm 1945 bởi Levine và Hofstad
[49]. Năm 1949 cũng tại Mỹ, bệnh xảy ra trên đàn vịt Bắc Kinh tại 70 trại
vịt ở đảo Long - New York, tổng số vịt chết lên tới 750000 con. Các năm
tiếp theo bệnh xảy ra ở nhiều nớc: Anh (1954), Canada (1957), Ai Cập
(1958), Theo thông báo gần đây nhất, bệnh có mặt ở khắp nơi trên thế
giới. (OIE, 2000)[55].

- 1 -
Nhằm khống chế bệnh, các nhà khoa học đã nghiên cứu bệnh trên
quy mô rộng: dùng kháng huyết thanh miễn dịch để phòng và chữa bệnh

bệnh là việc làm hết sức cần thiết, do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:
Tình hình mắc bệnh Viêm gan vịt do virus ở một số tỉnh đồng
bằng Bắc bộ, phân lập virus gây bệnh. Nghiên cứu đặc tính sinh học của
chủng virus nhợc độc viêm gan vịt DH - EG - 2000 và quy trình sản
xuất vacxin.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định thực trạng bệnh viêm gan do virus trên đàn vịt nuôi ở các
hộ gia đình một số tỉnh thuộc đồng bằng Bắc bộ.
- Phân lập virus viêm gan vịt.
- Xác định một số đặc tính sinh học của chủng virus vacxin nhợc
độc viêm gan vịt DH - EG - 2000.
- Nghiên cứu quy trình sản xuất vacxin.
- ứng dụng vacxin vào thực tế sản xuất.
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Góp phần đề ra các biện pháp phòng trị bệnh viêm gan vịt do virus
có hiệu quả cao cho ngành chăn nuôi vịt.
- Là cơ sở để sử dụng chủng virus nhợc độc viêm gan vịt DH - EG -
2000 vào sản xuất vacxin phòng bệnh cho đàn vịt nuôi ở Việt Nam. - 3 -
2. Tổng quan tài liệu
2.1. Bệnh viêm gan vịt do virus (Duck Virus Hepatitis - DVH)
Bệnh viêm gan do virus là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra ở
vịt con 1-6 tuần tuổi, mẫn cảm nhất là vịt con dới 3 tuần tuổi. Bệnh lây lan
rất nhanh do 3 typ virus khác nhau gây ra: virus viêm gan vịt Typ I, Typ II

Cho đến nay bệnh viêm gan vịt do virus viêm gan vịt typ II chỉ thấy
xảy ra ở nớc Anh, cha có báo cáo nào về tình hình bệnh xảy ra ở các
nớc khác.
Toth, 1969[64] cho biết ở đảo Long của Mỹ, bệnh viêm gan vịt đã xảy
ra trên đàn vịt con đã đợc dùng vacxin nhợc độc typ I. Bệnh xảy ra nhẹ
hơn so với bệnh viêm gan vịt của virus typ I, tỷ lệ chết của vịt con hiếm khi
vợt quá 30%. Haider và Calnek, 1979[41] đã đặt tên virus này là virus
viêm gan vịt typ III. Cho đến nay virus viêm gan vịt typ III mới chỉ đợc
công bố ở Mỹ.
2.1.2. Truyền nhiễm học
Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên, bệnh viêm gan vịt do virus typ I gây ra chỉ xảy ra ở vịt
con (Nguyễn Xuân Bình, 1995)[2]. ở những đàn vịt bị bệnh, tỷ lệ nhiễm
bệnh 100%, tỷ lệ vịt chết tuỳ theo lứa tuổi: vịt dới 1 tuần tuổi chết 95%, 1
- 3 tuần tuổi chết ít hơn: 50%, 4 - 5 tuần tuổi tỷ lệ chết không đáng kể. Vịt
trởng thành bị nhiễm virus không có triệu chứng lâm sàng, không ảnh
hởng đến sản lợng trứng. Gà, gà tây và các động vật khác không mắc
bệnh. Theo Rahn, 1962[57], gia cầm non một vài ngày hay vài tuần tuổi
vẫn có thể bị nhiễm bệnh, con vật có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích và có
kháng thể trung hoà trong máu. Asplin, 1961[27] cho biết gà con có thể bị
nhiễm bệnh, bệnh thể hiện không điển hình và có thể truyền virus cho con
khác.

- 5 -
Trong phòng thí nghiệm, dùng virus viêm gan vịt typ I gây bệnh cho
vịt con bằng cách cho uống hoặc tiêm phúc mạc, vịt có bệnh tích: gan sng,
xuất huyết lốm đốm trên gan, túi mật sng, lách sng và có thể phân lập
đợc virus từ gan 17 ngày sau khi cho uống.
Các loài vật khác nh thỏ, chuột lang, chuột nhắt trắng, chó đều
không cảm thụ với bệnh.

Đối với bệnh do virus viêm gan vịt typ I gây ra, bệnh xảy ra đột ngột,
thời gian nung bệnh ngắn chỉ trong vòng 24 giờ, bệnh lây lan nhanh, vịt
chết tập trung vào ngày thứ 2, 3, 4 sau khi mắc bệnh, tỷ lệ chết rất cao có
khi lên tới 100%.
Vịt bị bệnh không theo kịp bầy đàn, ít vận động, mệt mỏi, mắt nhắm,
ngã vật ra, 2 chân co giật rồi chết, vịt chết nằm ở t thế đầu ngoẹo ra đằng
sau. Vịt chết rất nhanh trong vòng 1 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng.
Trong thời gian dịch bệnh, vịt chết nhanh, nhiều làm cho ngời chăn nuôi
thấy ngỡ ngàng. Hình thái ngoẹo đầu ra đằng sau, chân duỗi thẳng lúc chết
thờng đợc coi nh một dấu hiệu đặc biệt của bệnh viêm gan vịt do virus.
Farmer gọi bệnh viêm gan vịt là hội chứng thận thoái hoá mỡ và hoại tử
tuyến tụy. (Farmer, 1987)[36].
ở Anh, vào giữa các năm 1978 - 1983, thiệt hại do bệnh gây ra lên đến
30% tổng số vịt nuôi, vịt ở hai nhóm tuổi: 1 - 2 tuần tuổi và 4 - 6 tuần tuổi
đợc coi là mẫn cảm với bệnh.
Triệu chứng ở đàn vịt bị bệnh do virus typ II gây ra, quan sát thấy:
vịt chết ở thể trạng tốt, chết trong vòng 1 - 2 giờ sau khi có biểu hiện
triệu chứng, vịt khát nớc, chảy nớc mắt, tăng tiết urat, vịt chết do co
giật cấp tính. Vịt bị nhiễm bệnh thờng chết, tỷ lệ chết từ 10 - 50%. Vịt
trởng thành không mắc bệnh.

- 7 -
Bệnh do virus viêm gan vịt typ III gây ra chỉ xảy ra ở vịt con, triệu
chứng giống nh ở typ I. Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết hiếm khi vợt quá 30%.
2.1.4. Bệnh tích
Bệnh tích đại thể: bệnh do virus viêm gan vịt typ I gây ra thờng thấy
ở gan, gan vịt bệnh sng to, xuất huyết lấm chấm hoặc từng đám đỏ sẫm
hay đỏ tím trên mặt gan, thận sng màu nhợt nhạt, tĩnh mạch thận xung
huyết, thỉnh thoảng có trờng hợp lách sng tụ máu hoặc lấm tấm xuất
huyết (Nguyễn Thát, 1975)[21].

Vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ I cho hàm lợng protein tổng số
giảm, albumin giảm, men glutamat - pyruvat - transaminase (GPT) tăng,
bilirubin tăng. Hàm lợng GPT, GOT tăng có liên quan đến quá trình nhiễm
bệnh, nghiên cứu vấn đề này, Mennella và Mandelli, 1977[54] cho biết, vịt
trời bị nhiễm bệnh, mặc dù triệu chứng bệnh không biểu hiện rõ nhng hàm
lợng men GPT, GOT của gan có thay đổi.
2.1.6. Chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus
Chẩn đoán bệnh viêm gan vịt do virus có các kỹ thuật sau:
* Dựa vào triệu chứng, bệnh tích đại thể của bệnh
* Phân lập virus
Dựa vào triệu chứng, bệnh tích có thể phát hiện đợc bệnh, nhng
không phân biệt đợc typ virus gây bệnh.
Phơng pháp chẩn đoán bằng kỹ thuật phân lập virus, cho kết quả hữu
hiệu và có thể biết đợc typ của virus gây bệnh.
Bệnh phẩm dùng chẩn đoán là gan của vịt mắc bệnh, nghiền bệnh
phẩm với dung dịch PBS (Phosphate Buffer Saline) tỷ lệ 1/5 xử lý
Chloroform 5% trong thời gian 10 - 15 phút ở nhiệt độ phòng để diệt tạp
khuẩn. Tiến hành phân lập.

- 9 -

- Nuôi cấy virus viêm gan vịt typ I:
+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào dới da hoặc
tiêm bắp. Sau khi tiêm 18 - 48 giờ, thờng dới 24 giờ vịt chết, vịt có biểu
hiện triệu chứng, bệnh tích đặc trng của virus typ I.
+ Dùng phôi vịt 10 - 14 ngày tuổi hoặc phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, tiêm
hỗn dịch bệnh phẩm vào xoang niệu mô. Sau khi tiêm, virus giết chết phôi
vịt trong khoảng 24 - 72 giờ, phôi gà 5 - 8 ngày.
Phôi có bệnh tích: còi cọc, xuất huyết dới da, phù phôi, gan sng, đỏ
hoặc hơi vàng.

(Woolcock, 1998)[68]: dùng vịt con 1-7 ngày tuổi, mỗi con tiêm 1-2ml
huyết thanh miễn dịch hoặc kháng thể đặc hiệu chế từ lòng đỏ vào dới da.
Sau 24 giờ tiến hành tiêm virus cờng độc với liều 10
3
LD
50
. Kết quả 80-
100% vịt đối chứng chết, 80-100% vịt thí nghiệm sống sót.
- Dùng phản ứng bảo hộ chéo để phân biệt virus viêm gan vịt typ I, typ
II và typ III: tiêm huyết thanh miễn dịch viêm gan vịt typ I, typ II cho vịt 2 -
4 ngày tuổi. Sau 3 ngày tiến hành công cờng độc virus phân lập đợc
(Gough, 1985)[40].
* Chẩn đoán phân biệt:
Trong chẩn đoán bệnh viêm gan do virus của vịt cần phân biệt với một
số bệnh khác:
Chẩn đoán phân biệt với bệnh Dịch tả vịt (Duck plague):
Bệnh dịch tả vịt xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi. Vịt có triệu chứng sng đầu,
đau mắt, liệt cánh, liệt chân, tiêu chảy phân xanh, tốc độ vịt chết chậm hơn,
vịt có bệnh tích viêm kết mạc mắt, xuất huyết dới da, loét đờng tiêu hoá
nh: niêm mạc dạ dày, ruột. Virus dịch tả vịt rất mẫn cảm với chloroform

- 11 -
và có thể tìm thấy thể bao hàm trong chẩn đoán tổ chức học.
Chẩn đoán phân biệt với bệnh Salmonellosis ở vịt:
Bệnh xảy ra ở cả vịt con, vịt giống. Vịt con ỉa chảy, phân trắng, gan có
điểm hoại tử. Vịt giống bị viêm buồng trứng, trứng non teo, dị hình, vịt
giảm đẻ, vỏ trứng mỏng, dễ vỡ. Vịt con cha tiêu hết lòng đỏ; gan, thận,
lách sng, xung huyết. Bệnh có thể chữa khỏi bằng kháng sinh (Nguyễn
Vĩnh Phớc, 1978)[20]. Trong phòng thí nghiệm, vi khuẩn dễ dàng phân
lập đợc bằng một số môi trờng thông thờng: môi trờng thạch máu,

Virus có sức đề kháng cao với ete, chloroform, đề kháng tơng đối với
sức nóng, có khả năng tồn tại lâu bên ngoài môi trờng. Tế bào chứa virus
đề kháng với pH = 3 trong thời gian 9 giờ. Virus không bị vô hoạt bởi lysol
2%, formalin 0,1%, creolin 15%. ở điều kiện formalin 0,2% trong 2 giờ,
cloramin 3% trong 5 giờ, virus bị vô hoạt. Theo Haider, 1979, ở điều kiện
có 5% phenol virus bị vô hoạt hoàn toàn (Haider, 1980)[42].
Khi xét ảnh hởng bởi yếu tố nhiệt độ, các tác giả cho biết phần lớn
virus bị vô hoạt ở nhiệt độ 56
0
C trong 30 phút. Trong tự nhiên khi điều kiện
vệ sinh kém virus có thể tồn tại đợc 10 tuần. Trong phân ẩm virus sống
đợc 37 ngày. ở nhiệt độ 4
0
C virus tồn tại đợc 2 năm, nhiệt độ âm 20
0
C
đợc 9 năm.
Biến dị của virus:
Trong tự nhiên kháng nguyên của virus viêm gan vịt typ I không ổn
định, dễ bị biến dị (Rao, 1967)[58]; (Sahalaby, 1978)[63]. Ngời ta đã phân
lập đợc các typ virus biến dị ở ấn Độ, Ai Cập và chứng minh sự biến dị
của virus typ I bằng phản ứng huyết thanh học. Sandhu, 1988[62] cho biết
vịt đợc miễn dịch với typ I không đủ bảo hộ khi công cờng độc bằng
chủng virus biến dị
Đặc tính nuôi cấy:
Virus là loại ký sinh nội bào tuyệt đối (Nguyễn Đờng, 1990)[13], có
thể cấy chuyển virus viêm gan vịt trên động vật cảm thụ, trên phôi trứng và
trên môi trờng tế bào.
- Nuôi cấy trên động vật cảm thụ.
Virus viêm gan vịt có khả năng nhân lên trên vịt con, nhất là vịt con

3,62
lợng virus có hiệu giá cao ở lúc 53-69 giờ sau khi
nuôi cấy. Một số trờng hợp, khi nuôi cấy virus trên phôi gà, vào thời điểm
48 giờ sau nuôi cấy hiệu giá virus trên phôi đạt 10
8
; thời gian này kéo dài 6 -
24 giờ sau (Mason, 1972)[53].

- 14 -
Trên phôi ngỗng, virus viêm gan vịt cũng có khả năng nhân lên. Sau
khi cấy virus vào xoang niệu mô, 2 - 3 ngày sau phôi chết.
- Nuôi cấy trên môi trờng tế bào
Virus typ I có khả năng nhân lên trên nhiều loại tế bào: tế bào xơ phôi
vịt, xơ phôi gà, thận phôi vịt, thận phôi gà, gan phôi vịt, thận phôi ngỗng
(Hwang, 1966[47]).
Trên môi trờng nuôi cấy có thể quan sát sự huỷ hoại tế bào của virus
sau 8 giờ gây nhiễm, đạt cực đại sau 2 - 4 ngày, sự huỷ hoại tế bào đợc
biểu hiện dới dạng những cụm tế bào co tròn (Maiboroda, 1972)[51].
Môi trờng tế bào thận phôi vịt đợc sử dụng để làm phản ứng trung
hoà, phản ứng tạo plaques với virus nhợc độc viêm gan vịt (Woolcock,
1982)[66].
2.2.2. Virus viêm gan vịt typ II
Virus viêm gan vịt typ II đợc Asplin xác định năm 1965[28], đây là
một Astrovirus có tính kháng nguyên khác với Astrovirus của gà, gà tây.
Virus có đờng kính 28 - 30nm khi quan sát bằng kính hiển vi điện tử
(Gough, 1984)[39].
ở vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ II, triệu chứng, bệnh tích giống
nh khi nhiễm virus viêm gan vịt typ I.
Nghiên cứu quá trình nuôi cấy cho thấy virus có thể nhân lên trên phôi
vịt, khi gây nhiễm virus vào xoang niệu mô hay túi lòng đỏ. Trên môi


2.3. miễn dịch chống virus viêm gan vịt
Miễn dịch là khả năng nhận ra và loại các vật lạ ra khỏi cơ thể (Vũ
Triệu An, 1997)[1], (Đặng Đức Trạch 1984)[22], để có đợc khả năng này,
cơ thể phải nhờ đến hệ thống miễn dịch.
Trong quá trình tiến hóa liên tục, đấu tranh sinh tồn chống lại các vi sinh
vật gây bệnh, cũng nh mọi động vật khác, gia cầm đã trang bị cho mình

- 16 -
một hệ thống bảo vệ quan trọng đó là hệ miễn dịch.
Hệ miễn dịch của cơ thể gia cầm bao gồm các cơ quan và các tế bào
tham gia trong cơ chế đáp ứng miễn dịch. Khi một kháng nguyên xâm nhâp
vào cơ thể, cơ thể bảo vệ mình trớc hết bằng cơ chế đáp ứng miễn dịch
không đặc hiệu, tham gia vào cơ chế này có vai trò của da, niêm mạc, dịch
tiết của các tuyến, đặc biệt là vai trò của các tế bào làm nhiệm vụ thực bào.
Sau đó cơ thể bảo vệ mình bằng cơ chế đáp ứng miễn dịch đặc hiệu với sự
hoạt động của các cơ quan, tế bào có thẩm quyền miễn dịch, tạo ra kháng
thể đặc hiệu để loại trừ kháng nguyên (Đỗ Trung Phấn, 1979)[19].
Cũng nh nhiều bệnh truyền nhiễm khác miễn dịch chống bệnh viêm
gan do virus của vịt gồm nhiều loại, ở đây xin đề cập đến miễn dịch tiếp thu
chủ động và miễn dịch tiếp thu bị động.
Miễn dịch bị động
ở gia cầm non, hệ thống miễn dịch cha phát triển hoàn thiện, vì vậy
ngay từ lúc sơ sinh, cơ thể của chúng hoàn toàn không có khả năng chống
lại tác nhân gây bệnh một cách chủ động và đặc hiệu (Melekhin, 1989)[18].
Trạng thái miễn dịch đặc hiệu có thể có đợc khi cơ thể gia cầm mẹ có
miễn dịch và truyền kháng thể đặc hiệu cho con non qua lòng đỏ trứng.
Trong bệnh viêm gan vịt, miễn dịch bị động ở vịt con nhận đợc từ mẹ
đợc nhiều tác giả nghiên cứu. Asplin 1958[26] dùng virus viêm gan vịt typ
I nhợc độc qua phôi gà, tiêm bắp cho vịt giống vào thời điểm 2 - 4 tuần

động cho vịt con nên dùng vacxin nhợc độc viêm gan vịt typ I hai đến ba
lần vào các thời điểm 12 - 8 - 4 tuần trớc khi vịt đẻ và dùng vacxin viêm
gan vịt nhợc độc typ III hai lần vào thời điểm 12 - 4 tuần trớc khi đẻ sẽ
tạo đợc miễn dịch thụ động cho vịt con với virus viêm gan vịt typ I, III.
Với vacxin viêm gan vịt typ II, cha một tài liệu nào nói về sử dụng
vacxin cho đàn vịt giống đạt hiệu quả.

- 18 -
Miễn dịch chủ động
Trong bệnh viêm gan vịt, những vịt sống sót đều có miễn dịch chắc
chắn với virus của typ gây bệnh. Asplin 1970[29] cho biết vịt đợc dùng
vacxin có thể tạo đợc miễn dịch chủ động chống lại bệnh.
Để tạo miễn dịch chủ động cho đàn vịt, ngời ta sử dụng các loại
vacxin nhợc độc và vacxin vô hoạt. Vacxin sau khi vào cơ thể, đợc đa
đến các cơ quan miễn dịch nh: hạch, lách, tổ chức lympho dới niêm mạc,
kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu. Trong đó kháng thể dịch thể
đóng vai trò quan trọng. Theo Asplin 1961[27] trong huyết thanh của vịt
khỏi bệnh có kháng thể trung hòa. Davis 1987[33] cho biết ở vịt 2 ngày tuổi
kháng thể trung hòa xuất hiện 4 ngày sau khi tiêm vacxin nhợc độc viêm
gan vịt typ I. Malinovskaya 1982[52] bằng phản ứng ngng kết hồng cầu
thụ động khi nghiên cứu đáp ứng miễn dịch với virus viêm gan vịt typ I của
vịt giống và vịt con 7 ngày tuổi, cho biết: trong kháng thể dịch thể, kháng
thể 7S nhiều hơn kháng thể 19S (7S thì mẫn cảm với Cystein, 19S kháng
Cystein).
Theo Gough and Spackman 1981[38] có thể tạo đợc miễn dịch ở vịt
con sau khi dùng cho đàn vịt giống 3 lần vacxin vô hoạt nhũ dầu.
Một số phơng pháp đánh giá đáp ứng miễn dịch
Mức độ miễn dịch của vịt với các typ virus gây bệnh viêm gan có thể
đợc đánh giá bằng phơng pháp công cờng độc và huyết thanh học. :
kháng thể bảo hộ cho đàn vịt với virus viêm gan vịt là kháng thể trung hòa.

Vacxin nhợc độc
Virus cờng độc dới tác động của các yếu tố sinh học: tiêm truyền
nhiều lần qua động vật ít cảm thụ, qua phôi, độc lực của virus giảm đi, virus
vẫn có khả năng nhân lên trong cơ thể vật chủ nhng không gây bệnh.
Virus này đợc dùng làm vacxin.
Nghiên cứu virus viêm gan vịt: Asplin, 1958[26]; Reuss, 1959[59] cho
biết virus viêm gan vịt cờng độc sau khi truyền đời qua phôi gà, khả năng
gây bệnh cho vịt con giảm.
Theo Hwang, 1965[45]: các chủng virus viêm gan vịt cờng độc sau
khi đã cấy truyền qua phôi gà không còn khả năng gây bệnh cho vịt con
nhng virus vẫn nhân lên trong tế bào các mô, so với chủng virus viêm gan
vịt cờng độc thì mức độ nhân lên của virus này là thấp hơn.
Trên cơ sở nghiên cứu này nhiều chủng virus viêm gan vịt nhợc độc

- 20 -
ra đời bằng phơng pháp giảm độc trên phôi: Asplin tạo ra chủng TN sau
khi đã giảm độc virus qua cấy truyền trên phôi gà (Asplin, 1958)[26]. Theo
Asplin, virus viêm gan vịt giảm độc sau khi cấy chuyển trên phôi gà từ đời
thứ 23. Hwang và Dougherty (1964)[44] thấy ở đời 26 và Reuss thấy sau 55
đời virus mới giảm độc lực.
Hiện nay vacxin viêm gan vịt nhợc độc typ I loại dùng chủ yếu ở
châu Âu đợc giảm độc sau 53 - 55 lần truyền đời qua phôi gà, ở Mỹ loại
giảm độc sau 84 - 89 lần cấy truyền. Vacxin nhợc độc viêm gan vịt typ I
đợc sản xuất trên phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, vị trí tiêm xoang niệu mô, nuôi
cấy ở nhiệt độ 37
0
C. Sau khi tiêm phần lớn phôi chết trong vòng 2 - 3 ngày
với bệnh tích gây ra trên phôi: phôi còi cọc, phù phôi, xuất huyết trên da,
gan sng, xuất huyết. Sau 3 - 5 ngày thu vacxin, thời điểm này lợng virus
đạt số lợng cao nhất. Phôi chết trớc thời điểm 24 giờ loại bỏ. Vacxin bảo

tiêm vacxin viêm gan vịt typ I, sau 48 - 72 giờ có miễn dịch, miễn dịch kéo
dài trong suốt thời gian vịt mẫn cảm với bệnh (Crighton, 1978)[32].
Cha có tài liệu bào nói về dùng vacxin viêm gan vịt nhợc độc typ III
cho vịt con 1 ngày tuổi.
Vacxin viêm gan vịt nhợc độc có khả năng tạo miễn dịch cao cho đàn
vịt khi sử dụng phơng pháp tiêm nhắc lại. Theo Reuss, 1959 [59], OIE,
2000 [55]: muốn tạo đợc miễn dịch cao cho đàn vịt giống để truyền kháng
thể bị động cho vịt con phải tiêm vacxin nhắc lại. Với vacxin typ I tiêm 2 -
3 lần vào các thời điểm 12 - 18 - 4 tuần trớc khi đẻ. Sau khi đẻ 3 tháng 1
lần tiêm nhắc lại. Với vacxin typ III tiêm 2 lần vào các thời điểm 12 - 4
tuần trớc khi đẻ, sau khi đẻ 6 tháng 1 lần tiêm nhắc lại.
Sử dụng vacxin viêm gan vịt nhợc độc kết hợp với vacxin vô hoạt
cũng tạo đợc miễn dịch cao ở đàn vịt giống: sử dụng vacxin viêm gan vịt
nhợc độc typ I, sau đó tiêm bắp 1 lần vacxin vô hoạt cho vịt sẽ tạo đợc
miễn dịch thụ động tốt ở đàn vịt con trong suốt chu kỳ đẻ trứng.
Vacxin vô hoạt
Trong quá trình nghiên cứu vacxin phòng bệnh viêm gan vịt, ngoài
vacxin nhợc độc còn có vacxin vô hoạt. Theo Woolcock 1991[67], vacxin
viêm gan vịt vô hoạt đợc sản xuất từ virus viêm gan vịt typ I, virus đợc
nuôi cấy trên phôi gà, thu hoạch dịch phôi, vô hoạt virus bằng BEI (Binary
Ethylenimine), dùng bổ trợ dạng nhũ dầu LES - STM (Lipid Emulsion

- 22 -
System - Salmonella typhimurium) và có lympho B phân bào.
Bảo quản ở 4
0
C trong thời gian 20 tháng vẫn giữ đợc hiệu lực của
vacxin.
Nghiên cứu hiệu lực của vacxin viêm gan vịt vô hoạt, các tác giả đều
cho biết vacxin có khả năng tạo miễn dịch cao cho đàn vịt. Theo Gough

dụng vacxin, còn có thể dùng kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ trứng.
Vịt con mẫn cảm với virus viêm gan vịt typ I có thể đợc phòng bệnh bằng
cách tiêm kháng thể viêm gan vịt typ I chế từ lòng đỏ trứng gà. Tuy nhiên
miễn dịch này cho thời gian miễn dịch với bệnh ngắn. (OIE 2000)[55]
Vịt con còn có khả năng miễn dịch đợc với bệnh khi chúng nhận
đợc kháng thể đặc hiệu từ mẹ truyền sang qua lòng đỏ trứng.
Theo OIE, 2000[55] vịt giống đợc dùng vacxin viêm gan vịt typ I vào
các thời điểm 12-8-4 tuần trớc khi đẻ sẽ tạo đợc miễn dịch thụ động cho
đàn con trong mùa giống.
Theo Rispens, 1969[61] nên tiêm hai lần vacxin cho đàn vịt giống
cách nhau ít nhất 6 tuần, sẽ tạo đợc kháng thể thụ động cho vịt con khoảng
9 tháng sau lần tiêm thứ 2.
Theo Gough và Spackman, 1981[38] có thể tạo đợc miễn dịch cao
cho đàn vịt con nếu sử dụng 3 lần vacxin vô hoạt nhũ dầu cho vịt mẹ. Các
tác giả còn cho biết: dùng vacxin nhợc độc typ I tiêm cho vịt con lúc 2-3
ngày tuổi, đến 22 tuần sau tiêm nhắc lại bằng vacxin vô hoạt sẽ tạo đợc
lợng kháng thể trung hoà cao hơn khi sử dụng 3 lần vacxin vô hoạt.
Golubnichi, 1984[37] cho biết mức kháng thể trung hoà ở vịt mẹ phải
đạt hiệu giá 1/32 mới có thể tạo cho đàn con bảo hộ đợc với bệnh.
* Điều trị và khống chế bệnh: đối vớibệnh viêm gan do virus của vịt,
để làm giảm thiệt hại do bệnh gây ra, có thể tiến hành một số biện pháp
sau:

- 24 -
- Phát hiện bệnh sớm, can thiệp bằng cách tiêm huyết thanh miễn dịch
hay kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ cho vịt. Bệnh do virus viêm gan vịt
typ I gây ra, dùng huyết thanh miễn dịch của vịt khỏi bệnh typ I tiêm cho vịt
con liều 0,5ml cho 1 con, hay dùng kháng thể viêm gan vịt typ I chế từ lòng
đỏ.
- Tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status