BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM VƯƠNG QUẾ ANH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN
LOẠI N VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG
tài cũng nghiên cứu thực trạng công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro
tại NHNT, những mặt làm được, những hạn chế, thiếu sót để từ đó đưa ra một số
giải pháp, kiến nghò để hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là của đề tài là quy trình phân loại nợ và công tác trích
lập dự phòng rủi ro tín dụng đang được áp dụng tại NHNT Việt Nam, thực hiện
theo QĐ 493 của NHNN.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn chủ yếu là kết quả hoạt động của NHNT
VN giai đoạn từ 2006 đến nay. Lý do của giới hạn phạm vi nghiên cứu là do QĐ
493 ra đời từ tháng 04/2005 và bắt đầu thể hiện rõ nét thông qua kết quả phân
loại nợ từ năm 2006. Đặc biệt kể từ khi QĐ 493 được sửa đổi, bổ sung bởi QĐ
18/2007/QĐ-NHNN. Đây cũng là giai đoạn mà NHNT triển khai quy trình phân
loại nợ theo chuẩn mới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn đã sử dụng phương pháp
nghiên cứu: thống kê, phân tích, đánh giá, logic, tổng hợp …. Đồng thời vận dụng
các kiến thức của các môn học nghiệp vụ NHTM và những kinh nghiệm thực tiễn
làm việc tại NHNT VN.
5. Điểm mới của đề tài
Luận văn trình bày sự cần thiết phải quản trò nghiệp vụ phân loại nợ và trích
lập dự phòng rủi ro tín dụng tại NHNT VN. Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đưa
ra những điểm mới như sau:
- Đề tài đã nghiên cứu quy trình phân loại nợ cũng như các quy đònh của
NHNT về kiểm tra, kiểm soát chất lượng tín dụng, phân tích đánh giá những ưu
điểm và hạn chế trong công tác phân loại nợ, nguyên nhân phát sinh nợ xấu , tình
hình xử lý thu hồi nợ xấu và một số kinh nghiệm trong quá trình thu hồi nợ xấu
trong thời gian qua.
- Đưa ra nhiều kiến nghò, giải pháp nhằm để hoàn thiện công tác phân loại nợ,
1.1.5.2 Quy đònh về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ… ……12
1.1.5.3 Quy đònh về các tỷ lệ bảo đảm an toàn ……………………………………….13
1.1.5.4 Quy đònh về phân loại nợ và trích lập dự phòng……… ……………….14
1.2 Tổng quan về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các Ngân
hàng thương mại ……………………………………………………………………………………….….…………………………… …… 15
1.2.1 Mục tiêu của phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng……… 15
1.2.2 Sự cần thiết phải phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng…….…………………………………………………………….…………………………………………………………………………………… 15
1.2.3 Quy đònh phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo thông
lệ Quốc tế ( IAS 39)………………………………………………………………………………………………………… ……………… 16
1.2.3.1 Phương pháp chiết khấu luồng tiền………………….…………… ……………16
1.2.3.2 Trích lập dự phòng theo phương pháp chiết khấu luồng tiền áp
dụng lãi suất chiết khấu là lãi suất thực…………………………………………………………………………18
2
1.3 Kinh nghiệm trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng của một số nước trên
thế giới……………………………………….……………………………………………… …………………………………………………………21
1.3.1 Phương pháp trích lập dự phòng ở Anh……….…………….………………………………… 21
1.3.2 Phương pháp trích lập dự phòng ở Mỹ ……….…………………………… ………………….22
1.3.3 Phương pháp trích lập dự phòng ở Pháp ………………… ………………………………… 22
1.3.4 Bài học kinh nghiệm cho các ngân hàng thương mại Việt Nam……………23
Kết luận chương 1 ……………………………………………… …………………………………………………………….24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI N VÀ TRÍCH
LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ……………………………………………… 25
2.1.1 Khái quát về Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam …………… ……… 25
2.1.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam giai đoạn 2005 – 2010 …………………………………… …………………….…………………… 26
2.1.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh của NH TMCP Ngoại thương VN .26
Kết luận chương 2
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN
LOẠI N VÀ TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI
THƯƠNG VIỆT NAM
3.1 Đònh hướng của NHNN VN về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng …………………………………………………………………………………………… ……………………………………………… ……….66
3.2 Đònh hướng hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam …………………………………………………………………………67
4
3.2.1 Đònh hướng chiến lược phát triển của NH TMCP Ngoại thương Việt
Nam đến năm 2015 ……………………………………………………………………………………………………………………….…68
3.2.2 Đònh hướng hoàn thiện công tác phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng tại NH TMCP Ngoại thương Việt Nam ……………… ………………………………………….68
3.3 Giải pháp đối với Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam ……….……………… ……69
3.3.1 Thành lập bộ phận quản trò rủi ro tín dụng ……………… ………….…….… ……… 69
3.3.2 Xây dựng hệ thống văn bản pháp lý và quy trình nghiệp vụ ……… …….71
3.3.3 Chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ………… ………………………….72
3.3.4 Ứng dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ ……………………………………………….73
3.3.5 Ứng dụng công nghệ ngân hàng trong công tác phân loại nợ …….……… 77
3.3.6 Tăng cường sự phối hợp và trao đổi thông tin giữa các bộ phận có liên
quan …………………………………………………………………………………………………………………………………………….…………….78
3.3.7 Tăng cường công tác kiểm tra và kiểm soát của bộ phận kiểm tra nội
bộ ……………………………………………………………………………………………………………………………………… ………………………79
3.3.8 Soạn thảo cẩm nang về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín
dụng ……………………………………………………………………………………………………………………………………………………… 79
3.4 Giải pháp đối với Ngân hàng Nhà nước ………………………………………………………… ………….….80
3.4.1 Ban hành hệ thống văn bản pháp luật phù hợp ……………………….……………… 81
3.4.2 Xây dựng và hoàn thiện h thng thông tin ……………………………… ……………… 82
đánh giá là một trong những hoạt động kinh doanh tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro
cao. Rủi ro hoạt động Ngân hàng được hiểu là những rủi ro có khả năng gây ra
những tổn thất tài chính cho Ngân hàng, dẫn đến việc làm giảm năng lực kinh
doanh và khả năng trả các khoản nợ, trong đó chủ yếu là các khoản tiền gửi.
Trong các hoạt động nghiệp vụ tài sản có của Ngân hàng thì hoạt động tín
dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất, và cũng là hoạt động mang lại doanh thu chủ yếu
cho Ngân hàng. Tuy nhiên, Ngân hàng phải đối mặt nhiều nhất là rủi ro tín dụng.
Rủi ro tín dụng: là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản trong trường hợp
khách hàng vay vốn/ được cấp tín dụng không có khả năng thực hiện một phần
hoặc toàn bộ những cam kết nêu tại hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.
Hiểu theo nghóa rộng, rủi ro tín dụng là tất cả những khả năng mà theo đó,
Ngân hàng sẽ không thể thu hồi đầy đủ và đúng hạn các khoản tín dụng đã cấp.
Nói cách khác, rủi ro tín dụng là việc khách hàng không trả đầy đủ những khoản
nợ đối với Ngân hàng theo đúng cam kết, dù với bất kỳ lý do gì. Rủi ro tín dụng
sẽ gây nên những thiệt hại đối với Ngân hàng, làm mất mác nguồn vốn và làm
6
suy giảm khả năng chi trả và khả năng thanh toán các khoản nợ. Vì thế, rủi ro
trong hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm hàng đầu không chỉ của bản thân
các Ngân hàng thương mại mà còn của NHNN trong việc điều hành quản lý
chung toàn hệ thống Ngân hàng.
1.1.2 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng:
Loại rủi ro này có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan hoặc
chủ quan từ phía khách hàng và Ngân hàng.
1.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Từ phía khách hàng: Rủi ro tín dụng phát sinh có thể do những nguyên
nhân chủ quan lẫn khách quan. Về mặt chủ quan có thể do trình độ quản lý của
khách hàng yếu kém dẫn đến sử dụng vốn vay kém hiệu quả, sử dụng vốn vay
sai mục đích làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ hoặc cũng có thể do khách hàng
thiếu thiện chí trong việc trả nợ, hoặc do tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh
theo ý kiến chủ quan của mình, dễ phát sinh tiêu cực dẫn đến rủi ro. Ngoài ra,
các Ngân hàng còn thiếu các bộ phận chuyên trách để quản lý rủi ro, quản lý hạn
mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề khác nhau. Vấn
đề chỉ tiêu kế hoạch tín dụng cũng gây khó khăn, do phải chạy theo số lượng dư
nợ mà đôi khi Ngân hàng cũng đã bỏ qua việc coi trọng chất lượng tín dụng.
Thứ ba: yếu tố con người. Con người đóng vai trò quyết đònh đến sự thành
công hay thất bại của việc kinh doanh. Trước tiên là vấn đề trình độ và năng lực
của cán bộ Ngân hàng, do năng lực yếu kém nên đánh giá sai về năng lực của
khách hàng vay cũng như đánh giá sai về hiệu quả phương án vay vốn của khách
hàng, dẫn đến tình trạng khách hàng không trả được nợ vay. Cán bộ Ngân hàng
còn quá chủ quan tin tưởng vào khách hàng nên không thực hiện đúng theo quy
trình giám sát khoản vay trước và sau khi cho vay, không phát hiện kòp thời các
8
khoản tiền vay được sử dụng sai mục đích, quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo
lãnh, coi đó là vật đảm bảo chắc chắn cho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay. Ngoài
ra, rủi ro tín dụng còn xảy ra do cán bộ Ngân hàng mất phẩm chất đạo đức, cố ý
làm trái quy đònh của NHNN về xét duyệt cho vay, móc nối với khách hàng để
làm những chuyện phi pháp.
Tóm lại, rủi ro tín dụng phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng
cho dù từ nguyên nhân nào đi nữa thì việc này cũng ảnh hưởng, gây rất nhiều khó
khăn, trước mắt là cho bản thân Ngân hàng và nếu tổn thất nhiều thì cũng sẽ ảnh
hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
1.1.3 nh hưởng của rủi ro tín dụng
1.1.3.1 nh hưởng đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Với chức năng trung gian tín dụng, nguồn vốn cho vay của Ngân hàng chủ
yếu từ nguồn vốn huy động tiền nhàn rỗi trong dân cư. Vì thế, khi rủi ro tín dụng
xảy ra, đồng nghóa Ngân hàng không thu hồi được số tiền đã cho vay, cả gốc và
lãi, trong khi Ngân hàng bắt buộc phải hoàn trả vốn gốc và tiền lãi cho các khoản
tiền đã huy động, điều này làm mất cân đối trong việc thu chi, ảnh hưởng xấu
doanh, cung cấp dòch vụ phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nhgiệp. Khi
Ngân hàng gặp khó khăn, ngừng hoạt động sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, doanh nghiệp thiếu vốn sẽ thu hẹp sản xuất, chi phí sản
xuất gia tăng do phải tìm nguồn vốn giá cao khác, gia tăng giá thành sản phẩm,
đời sống công nhân lao động không được đảm bảo. Tác động đó ảnh hưởng đến
toàn bộ nền kinh tế, làm nền kinh tế bò suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất
nghiệp tăng, xã hội mất ổn đònh.
10
Bên cạnh đó, rủi ro tín dụng cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới vì
ngày nay nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và thế
giới.
Tóm lại, rủi ro là điều không ai muốn xảy ra, bất kể đó là loại rủi ro gì,
nhưng thực tế rủi ro vẫn xảy ra, cho dù là nguyên nhân khách quan hay chủ quan
nó cũng gây ra những thiệt hại cho cả Ngân hàng lẫn khách hàng và cho cả nền
kinh tế nói chung. Thiệt hại nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ rủi ro, rủi ro càng
nhiều, thiệt hại càng ít và ngược lại. Do đó, vấn đề kiểm soát rủi ro tín dụng luôn
là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu không chỉ của bản thân từng Ngân hàng mà còn
là nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước.
1.1.4 Đánh giá rủi ro tín dụng
Để đánh giá rủi ro tín dụng, người ta dựa trên các chỉ tiêu cơ bản sau:
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Dư nợ quá hạn
Tổng dư nợ cho vay
Tỷ lệ nợ xấu =
Dư nợ xấu
Tổng dư nợ cho vay
tài sản có rủi ro quy đổi ( RWA) Các ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang trải cho các
hoạt động chòu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thò trường và rủi ro
hoạt động.
Rủi ro thò trường gồm rủi ro thò trường chung và rủi ro thò trường cụ thể.
Rủi ro thò trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trò thò trường do có sự
biến động lớn trên thò trường. Rủi ro thò trường cụ thể là những thay đổi về giá trò
một loại tài sản nhất đònh do ảnh hưởng của tỷ giá, lãi suất, ngoại hối, chứng
khoán…
Rủi ro hoạt động, Basel II đònh nghóa là rủi ro xảy ra tổn thất do các qui
trình, hệ thống hay nhân viên trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc do
12
các nguyên nhân khách quan bên ngoài. Đây là một trong những rủi ro trầm trọng
mà ngân hàng thường phải đối mặt trong quá trình hoạt động.
Trụ cột thứ hai: liên quan tới việc hoạch đònh chính sách Ngân hàng.
Trụ cột này tập trung vào việc xây dựng hệ thống quản lý rủi ro. Quy trình kiểm
soát trong Basel II không chỉ để đảm bảo rằng ngân hàng có đủ vốn để giải quyết
tất cả các rủi ro trong hoạt động kinh doanh mà còn khuyến khích ngân hàng phát
triển và sử dụng các kỹ thuật quản lý rủi ro tốt hơn.
Trụ cột thứ ba: các ngân hàng cần phải công khai thông tin một cách thích
đáng theo nguyên tắc thò trường. Trong đó nhấn mạnh đến việc công bố các loại
thông tin về rủi ro, dự trữ, vốn.
Tóm lại, quá trình phát triển của Basel và những hiệp ước mà tổ chức này
đưa ra yêu cầu các NHTM ngày càng hoạt động một cách minh bạch hơn, đảm
bảo vốn phòng ngừa cho nhiều loại rủi ro hơn và như thế sẽ giảm thiểu được rủi
ro.
NHNN và các NHTM VN cũng đang từng bước áp dụng các chuẩn mực
Hiện nay, NHNN đã ban hành nhiều văn bản quy đònh về các tỷ lệ bảo
đảm an toàn trong hoạt động của các TCTD. Theo đó, các TCTD cần phải tuân
thủ quy đònh các tỷ lệ bảo đảm an toàn về:
+ Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
+ Giới hạn tín dụng
+ Tỷ lệ khả năng chi trả
+ Giới hạn góp vốn, mua cổ phần
+ Tỷ lệ cấp tín dụng từ nguồn vốn huy động.
Các TCTD phải đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu ( CAR) ở mức 9% ( là
tỷ lệ giữa vốn tự có và tổng tài sản Có đã nhân với hệ số rủi ro) là phù hợp với
14
chuẩn mực quốc tế ( Basel II quy đònh 8%), đồng thời thông tư cũng quy đònh hệ
số rủi ro ở các mức 0%, 20%, 50%, 100%, 150%,250%. Quy đònh mới này yêu
cầu các TCTD giám sát chặt chẽ hơn danh mục tài sản Có để đảm bảo tỷ lệ vốn
tối thiểu theo quy đònh của NHNN và cũng để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng.
Đặc biệt đối với các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán; cho vay các công ty
chứng khoán; các khoản cho vay nhằm mục đích kinh doanh bất động sản được
quy đònh hệ số rủi ro 250% ( hệ số rủi ro cao nhất). Việc nâng cao hệ số rủi ro
như hiện nay làm cho các TCTD khó khăn trong việc đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn
tối thiểu, do đó đòi hỏi TCTD phải có giải pháp kinh doanh hợp lý và hiệu quả.
Đồng thời cũng quy đònh cụ thể mức giới hạn tín dụng cấp cho một khách hàng
hoặc một nhóm khách hàng liên quan căn cứ vào tỷ lệ phần trăm trên vốn tự có
của ngân hàng. Đặc biệt là các khoản cấp tín dụng với mục đích kinh doanh
chứng khoán bò hạn chế nhiều. Cụ thể, yêu cầu TCTD không được cho vay không
có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng khoán hay không được cấp tín dụng cho
công ty trực thuộc là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán… Các
TCTD tuân thủ theo những quy đònh trên sẽ hạn chế rủi ro trong hoạt động tín
dụng.
1.1.5.4 Quy đònh về phân loại nợ và trích lập dự phòng
Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn
thất có thể xảy ra do khách hàng không thực hiện nghóa vụ theo cam kết. Dự
phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của
TCTD.
Luật TCTD đã quy đònh: TCTD phải dự phòng rủi ro trong hoạt động ngân
hàng. Việc phân loại tài sản “có”, mức trích lập, phương pháp lập và sử dụng
16
khoản dự phòng để xử lý các rủi ro trong hoạt động ngân hàng do NHNN quy
đònh.
Do đó, trước tiên các TCTD cần tuân thủ các quy đònh của NHNN, nghóa
là phải trích lập các khoản dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động quá trình
hoạt động. Trong đó, rủi ro tín dụng là chủ yếu, xuất hiện thường xuyên và gây
ra tổn thất nhiều nhất. Vì thế, việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng là
điều cần thiết nhằm đảm bảo hoạt động của các TCTD được an toàn và hiệu quả.
Mặc khác, ngành ngân hàng Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu với
các thông lệ quốc tế. Đối với các nước phát triển, họ cho rằng bản chất của tín
dụng là luôn có rủi ro, do vậy ngay khi phát sinh cho vay hay cam kết cho vay là
lập tức tiến hành trích lập dự phòng ngay, khoản này có thể được lập khi các
khoản nợ có dấu hiệu suy giảm hay chưa suy giảm. Việc trích lập đã được các
nước áp dụng từ lâu và là một trong những chỉ tiêu đánh giá mức độ an toàn và
hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Quy đònh về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng được
ban hành nhằm nâng cao công tác quản trò rủi ro tín dụng tại các TCTD, chấn
chỉnh hoạt động tín dụng và làm trong sạch hóa tình hình tài chính, giúp các ngân
hàng chủ động hơn trong việc xử lý nợ tồn đọng, nâng cao năng lực tài chính và
sức cạnh tranh của các TCTD Việt Nam.
1.2.3 Quy đònh phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo
thông lệ Quốc tế ( IAS 39)
1.2.3.1 Phương pháp chiết khấu luồng tiền
suất thực tế của các hợp đồng tín dụng.
Giá trò hiện tại của luồng tiền ước tính này sẽ được so sánh với tổng dư nợ
vay tại thời điểm đánh giá để xác đònh mức tổn thất ước tính. Chênh lệch âm giữa
giá trò hiện tại với tổng dư nợ vay tại thời điểm đánh giá chính là tổn thất ước tính
của khoản vay và là mức dự phòng cần phải trích lập cho các khoản cho vay đối
với khách hàng đó.
Việc chiết khấu luồng tiền được thực hiện riêng cho từng loại hợp đồng
(ngắn hạn hoặc trung/dài hạn) và từng loại tiền tệ (VNĐ hoặc ngoại tệ), do đó
luồng tiền sẽ được phân loại về 4 nhóm sau:
18
- Vay ngắn hạn bằng VNĐ
- Vay ngắn hạn bằng ngoại tệ
- Vay trung dài hạn bằng VNĐ
- Vay trung dài hạn bằng ngoại tệ
Lý do để thực hiện chiết khấu riêng cho các luồng tiền trên vì với mỗi
nhóm có thể có các mức lãi suất khác nhau và/hoặc nguồn trả nợ khác nhau.
1.2.3.2 Trích lập dự phòng theo phương pháp chiết khấu luồng tiền áp dụng
lãi suất chiết khấu là lãi suất thực:
Dự phòng rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế: chỉ bao gồm dự phòng cụ
thể được xác đònh đối với các khoản nợ thuộc đối tượng cần phải được trích lập dự
phòng, căn cứ vào dấu hiệu rủi ro do Ngân hàng đánh giá. Dự phòng cụ thể bao
gồm dự phòng xét riêng cho từng khoản nợ và dự phòng cụ thể khi đánh giá theo
nhóm các khoản nợ có cùng đặc điểm rủi ro tín dụng.
Các khách hàng được phân loại vào nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) không phải
là đối tượng được trích lập dự phòng cụ thể nhưng sẽ được tiếp tục xem xét khả
năng giảm giá trò khi đánh giá theo nhóm.
Các khách hàng được phân loại vào nhóm 2, 3, 4 và 5 sẽ phải lập dự phòng
cụ thể. Dự phòng cụ thể sẽ được xác đònh là phần chênh lệch giữa giá trò ghi sổ
và giá trò hiện tại của các dòng tiền ước tính thu được trong tương lai áp dụng
Từ 10 đến 20%
CC Từ 20 đến 40%
C Nhóm 4 Từ 40 đến 80%
D Nhóm 5 Từ 80 đến 100%
(*) Khi áp dụng các tỷ lệ lỗ ước tính trên, cần chú ý các điểm sau:
Tỷ lệ lỗ ước tính áp dụng cho 1 khách hàng cụ thể có thể thấp hơn mức đề
xuất ở trên trong trường hợp cán bộ tín dụng có đầy đủ thông tin tương đối chắc
chắn chứng minh rằng tỷ lệ lỗ thực tế xảy ra sẽ thấp hơn do khách hàng có các
nguồn trả nợ khác tương đối chắc chắn. Ví dụ:
- Khách hàng sắp thu được một khoản nợ khó đòi lớn.
- Khách hàng sắp nhận được các khoản trợ cấp của Chính phủ hoặc
của công ty mẹ
- Khách hàng sắp được đầu tư bổ sung vốn
20
Tỷ lệ lỗ ước tính áp dụng cho một khách hàng cụ thể cũng có thể lớn hơn
mức đề xuất ở trên trong trường hợp cán bộ tín dụng có đầy đủ thông tin tương
đối chắc chắn để khẳng đònh khách hàng sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời gian
tới.
Trong các trường hợp khác, cán bộ tín dụng phải áp dụng tỷ lệ lỗ ước tính
trong khoảng đề xuất ở trên. Giá trò chính xác của tỷ lệ lỗ ước tính phụ thuộc vào
từng khách hàng cụ thể căn cứ vào hiểu biết, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng
đối với khách hàng đó, thực tế trả nợ của khách hàng trong quá khứ và các ước
tính luồng tiền trong tương lai.
Dòng tiền ước tính thu hồi từ tài sản bảo đảm:
Giá trò ước tính có thể thu hồi được từ tài sản bảo đảm sẽ được cộng vào kỳ
cuối cùng của dòng tiền.
Ví dụ: Khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn trả nợ cuối cùng vào quý 4 năm
2009 với:
- Gốc: 300 triệu đồng
Các khoản dự phòng chung thường chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng
dự phòng và phải được trích lập cho những khoản vay đã bò giảm sút hoặc có dấu
hiệu giảm sút về chất lượng. Thông thường việc suy xét này dựa vào kinh nghiệm
quá khứ và các thông tin có được ở hiện tại.
Trong thực tế các ngân hàng cố gắng lượng hóa và dự báo các khả năng có
thể xảy ra trong tương lai để xây dựng chính sách trích lập dự phòng theo hướng
“mở” nhằm tạo điều kiện bù đắp cho các tổn thất có thể xảy ra trong suốt thời
gian tồn tại của khoản tín dụng.
1.3.2 Phương pháp trích lập dự phòng ở Mỹ