Ảnh hưởng của mức bổ sung hạt bông trong khẩu phần đến tỷ lệ tiêu hóa in - vivo và khả năng bài thải khí methane của bò sữa - Pdf 27

ẢNH HƯỞNG CỦA MỨC BỔ SUNG HẠT BÔNG TRONG KHẨU PHẦN ĐẾN
TỶ LỆ TIÊU HÓA IN-VIVO VÀ KHẢ NĂNG BÀI THẢI KHÍ METHANE
CỦA BÒ SỮA
Nguy
n Qu c Đạt,
1
Đinh Văn Tuyền,
1
Vũ Chí Cương
Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao TBKT Chăn nuôi Tp. Hồ Chí Minh;
1
Viện Chăn Nuôi
TÓM TẮT
Thí nghiệm ñược tiến hành tại Trung tâm Thực nghiệm và Bảo tồn Vật nuôi -
Viện Chăn nuôi trên 6 bò cái cạn sữa giống lai HF, ñược chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm
2 con trong thiết kế dạng ô vuông La tinh. Thí nghiệm gồm 3 giai ñoạn và 3 khẩu
phần (cơ sở, cơ sở+1,5 kg hạt bông, cơ sở+3,0 kg hạt bông) tương ứng với 3 nhóm bò
thí nghiệm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêu hóa in-vivo chất khô của khẩu phần
tăng dần từ nghiệm thức 1 ñến nghiệm thức 3, trong ñó tỷ lệ tiêu hóa chất khô ở
nghiệm thức 1 là 63,8%; tỷ lệ tiêu hóa ở nghiệm thức 2 là 66,3% và ở nghiệm thức 3
là 71,8%. Giữa 3 nghiệm thức có sự sai khác về trị số tuyệt ñối ở tỷ lệ tiêu hóa
protein, NDF và ADF nhưng không có sự sai khác khi so sánh thống kê (P>0,05).
Tính trung bình, trong 1 ngày ñêm bò ở nghiệm thức 1 sản sinh 284,4 lít khí
mê tan; bò ở nghiệm thức 2 sản sinh 287,6 lít và bò ở nghiệm thức 3 sản sinh 280,8 lít
khí mê tan. Khi tính theo tỷ lệ khí mê tan sản sinh trên ñơn vị chất khô và chất hữu cơ
ăn vào thì có sự sai khác ñáng kể giữa 3 nghiệm thức (P<0,05). So với nghiệm thức 1
thì lượng khí mê tan sản sinh ở nghiệm thức 3 chỉ tương ñương khoảng 68%, còn
nghiệm thức 2 bằng xấp xỉ 91 %. Kết quả thí nghiệm này cho thấy bổ sung hạt bông
có thể làm giảm ñáng kể lượng khí mê tan sản sinh ở bò sữa khi mức bổ sung ñạt 3
kg/con/ngày.

mỡ sữa do sự xáo trộn của hệ vi sinh vật dạ cỏ. Bổ sung chất béo (dầu, mỡ) vào khẩu
phần ăn cho gia súc nhai lại có thể giảm 25% (in-vitro) - 80% (in-vivo) lượng khí thải
mê tan (Machmuller & CTV 2000). Kết quả nghiên cứu của Beauchemin và cộng sự
(2007) cho thấy dầu dừa kìm chế tạo khí mê tan tốt hơn các loại dầu khác (hướng
dương, cọ ).
Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng hạt bông trong khẩu phần có thể giúp giảm
thiểu ñáng kể lượng khí thải mê tan do lượng dầu trong hạt bông có tác dụng ức chế
protozoa và vi sinh vật sản sinh khí mê tan, ñồng thời hàm lượng năng lượng và
protein cao góp phần làm tăng năng suất sữa của bò chăn thả. Thí nghiệm của
Grainger và cộng sự (2008) tiến hành trên bò sữa trong giai ñoạn mùa hè, khi ñồng cỏ
hạn chế và dinh dưỡng thức ăn xanh nghèo nàn cho thấy khẩu phần bổ sung hạt bông
làm giảm 12% lượng khí thải mê tan nếu tính theo ñơn vị g mê tan/con/ngày và 21%
nếu tính trên ñơn vị g mê tan/kg sữa cô ñặc. Năng suất sữa tươi của bò lô ñược bổ
sung hạt bông tăng 15%, năng suất chất béo sữa tăng 19% và protein sữa tăng 16%.
Cho ñến nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu khoa học nào ñược tiến hành nhằm mục
ñích giảm thiểu khí thải mê tan từ chăn nuôi bò sữa. Do ñó, ñề tài này ñược triển khai
nhằm xác ñịnh ảnh hưởng của mức bổ sung hạt bông vào khẩu phần cơ sở ñến khả
năng tiêu hóa thức ăn và sản sinh khí mê tan của bò lai Holstein Friesian (HF) không
tiết sữa, không mang thai.
2. Vật li
n
Địa ñiểm và thời gian triển khai thí nghiệm: Thí nghiệm tiến hành tại Trung
tâm Thực nghiệm và Bảo tồn Vật nuôi, Viện Chăn nuôi trong thời gian tháng 3-7 năm
2010.
Gia súc và thiết kế thí nghiệm: 6 bò cái cạn sữa giống lai HF ñược chia làm 3
nhóm trong thiết kế dạng ô vuông La tinh. Thí nghiệm gồm 3 giai ñoạn và 3 khẩu
phần tương ứng với 3 nhóm bò thí nghiệm trong ñó tại mỗi giai ñoạn thí nghiệm sẽ có
3 nhóm, mỗi nhóm 2 con. Như vậy sau khi kết thúc thí nghiệm, các chỉ tiêu theo dõi ở
mỗi khẩu phần thí nghiệm sẽ ñược xác ñịnh trên 6 gia súc. Bố trí thí nghiệm cụ thể
như sau:

* Chỉ tiêu theo dõi và cách xác ñịnh
- Lượng thức ăn ăn vào và tỷ lệ tiêu hóa in vivo của khẩu phần: Lượng thức ăn
ăn vào ñược xác ñịnh thông qua cân tổng lượng thức ăn cho ăn và thức ăn thừa hàng
ngày của từng cá thể trong giai ñoạn thu phân trên cũi trao ñổi chất. Trong giai ñoạn
này, các nguyên liệu thức ăn tinh và thức ăn thô cho ăn và thức ăn thừa ñược lấy mẫu
hàng ngày và bảo quản trong tủ lạnh. Đến cuối kỳ thu phân, các mẫu của từng loại
thức ăn ñược trộn ñều là 1 mẫu ñại diện ñược lấy ñể gứi ñi phân tích xác ñịnh thành
phần hóa học và ước tính giá trị năng lượng trao ñổi. Các chỉ tiêu phân tích mẫu bao
gồm chất khô, protein thô, xơ thô, NDF và khoáng. Để xác ñịnh tỷ lệ tiêu hóa của
khẩu phần, tổng lượng phân thải ra hàng ngày trong giai ñoạn 7 ngày thu mẫu trên cũi
trao ñổi chất của mỗi cá thể cũng ñược thu gom, cân xác ñịnh khối lượng và lấy mẫu
bảo quản trong tủ lạnh sâu. Đến cuối kỳ thu phân, các mẫu phân của từng cá thể ñược
tr n ñều và lấy mẫu ñại diện ñể gứi ñi phân tích xác ñịnh thành phần hóa học. Tỷ lệ
tiêu hóa của các chất dinh dưỡng ñược tính từ lượng chất dinh dưỡng ăn vào và lượng
thải ra trong phân tính theo phần trăm so với lượng ăn vào.
- Lượng khí mê tan sản sinh: Việc xác ñịnh tổng khí mê tan sản sinh
(lít/con/ngày hoặc lít/kg DMI) ñược xác ñịnh thông qua hệ thống phân tích khí mê tan
nối với buồng hô hấp. Buồng hô hấp có cấu tạo là một buồng kín có 2 lỗ cho không
khí lưu thông nằm ở 2 góc buồng, 1 lỗ ñể dẫn không khí sạch từ bên ngoài vào và 1 lỗ
ñể không khí từ buồng ñi ra. Không khí trong buồng chỉ lưu thông theo 1 chiều nhờ
hệ thống bơm khí gắn với lỗ ñưa khí ra. Hệ thống bơm này thổi không khí ñi qua một
thiết bị ño lưu lượng ñể xác ñịnh tổng lượng khí ñược hút ra khỏi buồng hô hấp và lưu
vào máy tính nhờ phần mềm ghi chép và lưu giữ số liệu chuyên dụng. Ngoài ra, một
máy phân tích nồng ñộ khí mê tan cũng ñược lắp ñặt ñể tự ñộng lấy mẫu và phân tích
nồng ñộ khí mê tan theo chu kỳ 5 phút/lần ñối với luồng không khí ñi ra từ buồng hô
hấp (ñã có mê tan do gia súc thải ra) và 20 phút/ lần ñối với mẫu không khí sạch ñi
vào buồng hô hấp. Khi gia súc ñược nhốt trong buồng hô hấp, mê tan thải ra sẽ hòa
cùng không khí trong buồng và ñược hút ra theo hệ thống bơm nói trên. Dựa vào số
liệu ghi chép của máy phân tích nồng ñộ khí mê tan và thiết bị xác ñịnh tổng lưu
lượng khí ñi ra khỏi buồng hô hấp, có thể tính toán tổng lượng khí mê tan mà gia súc

Dầu ăn 0,1 0,1 0,1
Hạt bông 0 1,5 3
Tổng ME (MJ /con/ngày) 65,67 80,23 94,79
Tổng CP (kg/con/ngày) 0,90 1,19 1,48

3. Kết ả ảo ận
Thu nhận thức ăn và tỷ lệ tiêu hóa in-vivo:
Để xác ñịnh mức thu nhận chất khô và chất hữu cơ cũng như tỷ lệ tiêu hóa in-
vivo của khẩu phần thí nghiệm, chúng tôi tiến hành phân tích mẫu ñể xác ñịnh thành
phần hóa học. Kết quả ñược trình bày ở bảng 3.
Bản
hành phần hóa học của các nguyên liệu thức ăn trong khẩu phần
Thành phần hóa học %VCK
Thức ăn VCK
Protein
thô
Mỡ
thô

thô
NDF ADF
Khoáng
tổng số
Cỏ voi 13,2 9,2 1,13 39,6 65,8 40,9 12,05
Bã bia khô 90,4 23,9 6,76 13,86 53,24 21,34

4,34
Cám viên 87,7 18,3 3,35 11,49 30,5 16,1 9,61
Hạt bông 87,7 21,93 22,05 28,08 52,56 35,95


± 0,31 5,96
c
± 0,15 0,613 <0,001
OM tinh ăn vào 2,74
a
± 0,06 3,92
b
± 0,29 5,57
c
± 0,14 0,569 <0,001
Tổng DM ăn vào 5,65
a
± 0,34 6,86
b
± 0,28 8,37
c
± 0,39 1,026 <0,05
Tổng OM ăn vào 5,10
a
± 0,31 6,26
b
± 0,26 7,70
c
± 0,35 0,924 <0,01
Tỷ lệ TĂ tinh/thô 53/47 60/40 70/30
% tiêu hóa in vivoDMD 63,8
a

thức cho thấy việc bổ sung thêm hạt bông ở mức 1,5-3 kg/con/ngày ñối với bò trong
thí nghiệm này chưa có ảnh hưởng rõ rệt ñến khả năng thu nhận thức ăn thô. Ở bò thịt
cho ăn thức ăn thô tự do thường có hiện tượng “thay thế” trong ñó khi lượng thức ăn
tinh bổ sung tăng lên thì lượng thức ăn thô ăn vào giảm ñi (Dinh Van Tuyen và CTV,
2010). Hiện tượng này không xảy ra ở bò sữa trong thí nghiệm này, có thể là do lượng
thức ăn thô xanh ñược cho ăn ở 1 mức cố ñịnh và hạt bông tuy giàu năng lượng và
protein nhưng vẫn có hàm lượng xơ khá cao nên vẫn duy trì ñược ñộ pH thuận lợi cho
sự phát triển của vi sinh vật phân giải xơ trong dạ cỏ.
Có sự sai khác ñáng kể giữa các nghiệm thức về tỷ lệ tiêu hóa chất khô và chất
hữu cơ của khẩu phần thí nghiệm (P<0,05). Tỷ lệ tiêu hóa in-vivo chất khô của khẩu
phần tăng dần từ nghiệm thức 1 ñến nghiệm thức 3, trong ñó tỷ lệ tiêu hóa chất khô ở
nghiệm thức 1 là 63,8%; tỷ lệ tiêu hóa ở nghiệm thức 2 là 66,3% và ở nghiệm thức 3
là 71,8%. Tương tự, tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ của khẩu phần cũng tăng dần từ
nghiệm thức 1 ñến nghiệm thức 3 với mức tăng tương tự: từ 66,9% ở nghiệm thức 1
lên 69,2% ở nghiệm thức 2 và 74,1% ở nghiệm thức 3. Giữa 3 nghiệm thức có sự sai
khác về trị số tuyệt ñối ở tỷ lệ tiêu hóa protein, NDF và ADF nhưng không có sự sai
khác khi so sánh thống kê (P>0,05).
Tỷ lệ tiêu hóa chất khô và chất hữu cơ của khẩu phần ở nghiệm thức 3 cao hơn
ñáng kể so với nghiệm thức 1 là do tỷ lệ tiêu hóa của hạt bông khá cao. Do ñó khi tỷ
lệ hạt bông trong khẩu phần cao ñã làm cho tỷ lệ tiêu hóa chung của khẩu phần tăng
lên. Mức bổ sung 1,5 kg/ngày ở nghiệm thức ăn chỉ làm tăng tỷ lệ tiêu hóa chất khô
và chất hữu cơ của khẩu phần về trị số tuyệt ñối so với khi không bổ sung hạt bông
mà chưa ñủ ñể tạo sự sai khác ñạt mức có ý nghĩa thống kê.
Khi lượng thức ăn tinh bổ sung vào khẩu phần tăng lên thì tỷ lệ tiêu hóa của
các chất xơ thường giảm ñi (Terry và cộng sự, 1969; Marsetyo, 2003; Dinh Van
Tuyen, 2005; Dinh Van Tuyen và CTV, 2010). Nguyên nhân chủ yếu là do khi hàm
lượng thức ăn tinh tăng lên ñã làm giảm ñộ pH dạ cỏ hoặc tạo ra hiệu ứng ức chế
phân giải xơ của thức ăn tinh nên làm giảm hoạt ñộng của vi khuẩn phân giải xơ trong
dạ cỏ và vì thế tỷ lệ tiêu hóa các chất xơ giảm ñi (Stewart, 1977; Mould and Orskov,
1983; Mould et al., 1983a, b). Tuy nhiên trong nghiên cứu này, việc bổ sung hạt bông

± 4,97 31,84
b
± 3,82 8,23 0,031
CH4 sản sinh
(L/kg OMI)
52,22
a
± 5,14 47,30
a
± 3,61 34,45
b
± 3,17 8,47 0,037
giá trị trung bình trên cùng một hàng có chỉ số trên khác nhau thì khác nhau

Bảng 5 cho thấy có sự khác nhau về giá trị tuyệt ñối nhưng không có sự sai
khác ñáng kể về thống kê giữa các nghiệm thức khi ước tính trung bình tổng lượng
khí mê tan sản sinh trong 1 ngày ñêm (P>0,05). Tính trung bình, trong 1 ngày ñêm bò
ở nghiệm thức 1 sản sinh 284,4 lít khí mê tan; bò ở nghiệm thức 2 sản sinh 287,6 lít
và bò ở nghiệm thức 3 sản sinh 280,8 lít khí mê tan. Khi tính theo tỷ lệ khí mê tan sản
sinh trên ñơn vị chất khô và chất hữu cơ ăn vào thì có sự sai khác ñáng kể giữa 3
nghiệm thức (P<0,05). So với nghiệm thức 1 thì lượng khí mê tan sản sinh ở nghiệm
thức 3 chỉ tương ñương 66,0-67,7% còn nghiệm thức 2 chỉ bằng xấp xỉ 91-92%. Như
vậy kết quả thí nghiệm này cho thấy bổ sung hạt bông có thể làm giảm lượng khí mê
tan sản sinh ở bò sữa nhưng chỉ giảm ñáng kể khi mức bổ sung ñạt 3 kg/con/ngày.
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của Grainger và cộng sự (2008) tiến hành trên
bò sữa trong giai ñoạn mùa hè ở Australia.
Ảnh hưởng của hạt bông ñến việc giảm lượng khí mê tan sản sinh ở bò sữa
trong thí nghiệm này có thể là do tác dụng của hàm lượng chất béo có trong hạt bông
ñã làm ức chế sự hoạt ñộng của protozoa và vi sinh vật tổng hợp mê tan (Czerkawski,
1969). Kết quả phân tích thành phần hóa học trình bày ở Bảng 3 cho thấy hàm lượng

chất hữu cơ nhưng ít ảnh hưởng ñến tỷ lệ tiêu hóa các chất protein thô, NDF và ADF
của khẩu phần.
4.2. Đề ngh

- Tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của các thức ăn giàu lipid khác ñến khả năng
giảm thiểu sản sinh mê tan ở bò sữa
- Khảo nghiệm trên thực tế ñể tính hiệu quả kinh tế của việc bổ sung hạt bông
vào khẩu phần ăn cho bò vắt sữa.
Tài li
u tham khảo
1. Beauchemin, K. A.
, McGinn, S. M., Petit, H. V. (2007). Mê tan abatement
strategies for cattle: lipid supplementation of diets. Canadian Journal of Animal
Science 87: 431-440.
2. B C., Pomar, C., Chiquette, J. (2001). Evaluation of diet strategies to
reduce mê tan production in ruminants: A modeling approach. Canadian Journal
of Animal Science 81:563–574
3. Czerkowski, J.W (1969). Mê tan production in ruminants and its significane.
World review of nutrition and dietetics 11: 240
4. Dinh Van Tuyen (2005). Microbial protein production in the rumen of cattle fed
high molasses-based diets. PhD Thesis. University of Queensland.
5. Dinh Van Tuyen, Pham Hung Cuong, Nguyen Thi Huyen (2010). Effect of
concentrate supplementation on intake, digestibility and microbial protein
production by steers fed a basal diet of fresh elephant grass and rice straw. Tạp chí
Khoa học và Phát triển 8 (English issue 1): 121-130
6. Eckard, R., and Hegarty, R. (2011). Best Management Practices for educing
Greenhouse Gas Emissions from Dairy Farms. melb
.
edu.au/BMP _Dairy_Farm.htm
7. Grainger, C., Auldist, M.J., Clarke, T., Beauchemin, K. A.

digestion under in vitro conditions. Journal of Science Food and Agriculture.
20:317-320.
16. Van Soest, P.J., & Wine, R.H. (1967). Use of detergents in the analysis of fibrous
feeds. Iv. Determination of plant cell wall constituents. Journal of the Association
of Official Analytical Chemists 50: 50-55.
17. Walichnowski, A.Z., and Lawrence, S.G (1982). Studies into the effects of
cadmium and low pH upon mê tan production. Hydrobiology 92: 559-56


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status