MỤC LỤC
Trang
Đi muộn..............................................................................................................................................38
Nhân viên............................................................................................................................................38
Về sớm................................................................................................................................................39
Vắng mặt.............................................................................................................................................39
Không quẹt thẻ....................................................................................................................................40
1
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin, hiện nay đã trở thành thước đo phát triển của mỗi quốc
gia trên thế giới. Là ngành công nghiệp mũi nhọn của các nước phát triển. Công
nghệ thông tin mang lại nhiều lợi ích và tính năng to lớn trong việc trợ giúp những
công việc tưởng chừng như rất khó khăn. Đối với các nước đang phát triển thì việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn lại càng rất quan trọng. Do vậy việc
sáng tạo, phát minh sáng chế ra ứng dụng để áp dụng vào cuộc sáng ngày càng
được cải thiện và cạnh tranh gay gắt.
Do những phần mềm quản lý đang dần trở nên một nhân tố không thể thiếu
được của nền kinh tế nên các doanh nghiệp đã bắt đầu khởi động việc ứng dụng
CNTT vào doanh nghiệp mình. Chính vì điều đó nhiều quốc gia trên thế giới coi
Công nghệ thông tin là ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển, thực hiện công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn,
lạc hậu. Không những các cơ quan tổ chức sử dụng máy tính mà hiện nay việc sử
dụng máy tính của mỗi cá nhân cũng rất cao, nó đã trở nên quen thuộc với con
người.
Công ty PWD Soft với ứng dụng tin học mạnh mẽ ngoài nhiệm vụ giúp ban
lãnh đạo trong việc chỉ đạo, quản lý thống nhất tình hình phát triển và ứng dụng
công nghệ thông tin trong ngành, xử lý các số liệu thống kê theo kế hoạch. Hiện tại
Công ty PWD Soft đang dự định xây dựng phần mềm kiểm soát vào ra của nhân
viên, đây là vấn đề cần được giải quyết sớm, vì Công ty PWD Soft đang thực hiện
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PWD SOFT
1. Lịch sử thành lập và phát triển.
Điểm khác biệt ở PWD Soft với các công ty phần mềm khác là những chiếc
xe lăn và những chiếc nạng dựng bên các bàn làm việc...
PWD Soft là một gương mặt mới và rất đặc biệt trong "làng" CNTT Việt
Nam. Tất cả thành viên của PWD Soft - từ giám đốc đến nhân viên - là những
người không may mắn trong cuộc sống nhưng tự tin cho một quyết tâm lớn: tham
gia thị trường Mỹ.
"PWD là viết tắt của chữ People With Disabilities (công ty TNHH CNTT
của người khuyết tật). Tôi mong muốn đây sẽ là nơi những người khuyết tật (NKT)
tìm lại chính mình" - ông Đỗ Văn Du, một Việt kiều Mỹ giải thích rất ngắn gọn về
công ty của mình. Hiện nay, PWD có 20 nhân viên. "Tôi không muốn nguồn nhân
lực này bị bỏ qua một cách lãng phí. Họ đều là những người có trình độ và khả
năng làm việc không thua kém bất kỳ người bình thường nào. Nhiều người khi đến
đây đã được đào tạo khá tốt. Đáng tiếc là cơ hội việc làm cho họ hiện không
nhiều", ông Du nói.
Năm 1971, ông Du được nhận một suất học bổng về chuyên ngành kiến trúc
tại Mỹ. Sau đó, số phận đã đưa ông đến với trung tâm đào tạo CNTT cho NKT.
"Từ nơi đây, tôi nhận ra CNTT là nghề bình đẳng nhất. Với CNTT, mọi người dù
bình thường hay khuyết tật đều có cơ hội như nhau về việc làm, lương bổng.
4
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CNTT được xem như công cụ hữu hiệu rút ngắn khoảng cách giữa NKT với các
thành phần lao động khác".
Say mê học hỏi, từ một cậu bé khuyết tật (bị tai nạn và mất đi một phần cơ
thể), ông Du đã thành công trong sự nghiệp mà không phải người bình thường nào
cũng làm được: trở thành chuyên gia tư vấn CNTT cho nhiều tập đoàn hàng đầu
nhau. Đây cũng là cách giúp mọi người làm quen với phương thức làm việc nhóm.
"Thời gian đầu, một số người không tránh khỏi sự bỡ ngỡ do chưa quen với
tác phong làm việc của công ty. Tuy nhiên, tôi muốn họ phải làm việc thực sự như
những người bình thường, hơn nữa, còn phải chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu
của đối tác. Có như vậy, khi nhận lương ngang bằng với người bình thường, NKT
mới cảm thấy xứng với sức lao động của mình. Tôi là người tham gia nhiều hoạt
động từ thiện (ông Du là người đã đứng ra quyên góp thiết bị y tế để các bệnh viện
trong nước có thể phẫu thuật miễn phí cho 300 trẻ em bị bệnh não úng thủy trong
nước - PV), nhưng tôi không mang tinh thần từ thiện vào công việc. Tôi chỉ mang
đến cho họ cơ hội làm việc như những người bình thường khác. CNTT có khả năng
mang đến cho NKT một tương lai tốt", ông Du chia sẻ.
Tháng 12 năm 2007 công ty PWD Soft được thành lập dưới sự sáng lập của
ông Đỗ Văn Du và chính ông trực tiếp làm giám đốc.
2. Tổng quan về công ty PWD Soft
2.1. Giới thiệu chung
- Tên công ty : Công ty PWDSoft.
- Trụ sở: Số 101, Láng Hạ, Cầu Giấy, Hà Nội.
6
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Số điện thoại: 04 5624763
PWD là viết tắt của chữ People With Disabilities (công ty TNHH CNTT của
người khuyết tật).
PWD Soft là một gương mặt mới và rất đặc biệt trong "làng" CNTT Việt
Nam. Tất cả thành viên của PWD Soft - từ giám đốc đến nhân viên - là những
người không may mắn trong cuộc sống nhưng tự tin cho một quyết tâm lớn: tham
gia thị trường Mỹ.
Công ty PWDSoft thành lập nhằm thu hút những người khuyết tật
có khả năng và đam mê ngành CNTT đặc biệt là công nghệ phần mềm vào đào tạo
để trở thành những lập trình viên chuyên nghiệp. Sau khi được đào tạo thì họ sẽ
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ
BẢN VÀ NGÔN NGỮ SỬ DỤNG.
I. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN.
1. Tổ chức và thông tin trong tổ chức.
Trong những năm 80 đã chứng kiến sự gia tăng tầm quan trọng của thông tin
trong các tổ chức, tốc độ và sự phức tạp của xử lý ngày một tăng. Hàng triệu máy
tính được lắp đặt trên thế giới và nhiều triệu km cáp quang, dây dẫn và sóng điện
từ kết nối con người, máy tính cũng như các phương tiện xử lý thông tin lại với
nhau.
Thông tin trong các cơ quan, tổ chức có tầm quan trọng vô cùng to lớn.
Thông tin được dùng để lập kế hoạch nhằm tạo ra sự biến chuyển trong tổ chức
đồng thời thông tin cũng là một phương tiện để biến chuyển.
Nhờ có thông tin, các nhà quản lý có thể lập kế hoạch, đặt ra những mục tiêu
cho công ty hay tổ chức của mình một cách sát với thực tế. Các nhà quản lý, lãnh
đạo nhờ có thông tin có thể đưa ra các quyết định nhanh chóng đối với hoạt động
của tổ chức, giúp tổ chức đạt được những mục tiêu của mình.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đóng vai trò của một lực trợ giúp và
một chất xúc tác trong việc nâng cao tầm quan trọng của thông tin. Tầm quan trọng
của thông tin trong tổ chức ngày càng tăng, nhờ có nguồn thông tin chính xác, tin
cậy mà các nhà quản lý có thể đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời, những
quyết định có chất lượng cao góp phần vào sự thành công của cơ quan hay tổ chức.
Hình dưới đây là sự thể hiện một tổ chức do R.N Anthony đưa ra. Anthony
trình bày tổ chức như là một thực thể cấu thành từ ba mức quản lý có tên là: lập kế
hoạch chiến lược, kiểm soát quản lý chiến thuật và điều hành tác nghiệp.
9
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tháp quản lý
Các quyết định của một tổ chức được chia thành 3 loại: quyết định chiến
phát triển hệ thống. Quá trình phát triển một HTTT kể từ khi nó sinh ra cho đến khi
lụi tàn gọi là vòng đời phát triển hệ thống.
Để xem xét một cách trực quan một vòng đời của một HTTT chúng ta xem
xét mô hình được xắp xếp theo hình bậc thang (hay còn gọi là mô hình thác nước)
Thu thập
Nguồn
Đích
Phân phát
Xử lý và
lưu trữ
CSDL
11
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mô hình Hệ thống thông tin
2.2.1. Khởi tạo và lập kế hoạch dự án
Trong giai đoạn này cần chú ý đến hai khía cạnh đó là khởi tạo và lập kế
hoạch. đó là những bước đầu cơ bản vạch ra cho hướng phát triển tiếp theo. Qua
đây chúng ta có thể biết được dự án có thể xây dựng trong bao lâu và các nguồn
lực cần cho phát triển hệ thống. Trong đó chúng ta phải xác định rõ mục tiêu nhiệm
vụ cũng như vai trò và tầm quan trọng của HTTT. Cần phải xem xét về tính khả thi
về mặt kinh tế, kỹ thuật, thời gian, tính pháp lý và nguồn lực con ngừời.
2.2.2. Phân tích hệ thống
Phần này nhằm xác định yêu cầu của hệ thống một cách chi tiết hơn. Nó
phải đảm bảo cung cấp các dữ liệu cơ sở cho HTTT sau này. Phân tích phải đảm
bảo xác định được các yêu cầu, nghiên cứu yêu cầu và cấu trúc của nó và tìm giải
pháp cho thiết kế ban đầu.
12
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
là bộ phận không thể thiếu của cơ quan, tổ chức hiện đại nào, giống như một con
người phải có trí nhớ tốt mới có thể thành công. Có thể tóm lược các nguyên nhân
đó như sau:
Nguyên nhân dẫn đến việc phát triển hệ thống thông tin:
13
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Những vấn đề về quản lý.
- Những yêu cầu mới của nhà quản lý.
- Sự thay đổi của công nghệ.
- Thay đổi sách lược chính trị.
Nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý là phải ra được các quyết định, chỉ
thị có chất lượng cao. Nhờ có các quyết định đúng đắn, kịp thời của nhà quản lý
mà tổ chức có thể đạt được các mục tiêu của mình. Để các quyết định có chất
lượng cao cần có một hệt hống thông tin hoạt động có hiệu quả trong tổ chức. Nhờ
có hệ thống thông tin hoạt động tốt mà tổ chức có thể giảm được những chi phí
không cần thiết, tăng chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, tạo ra những thành công
mới của tổ chức. Đối với bất kỳ một tổ chức nào thì có một hệt hống thông tin hoạt
động tốt là điều vô cùng quan trọng. Việc thực hiện công việc một cách thủ công sẽ
dẫn đến những sai sót, nhầm lẫn..
Những yêu cầu mới của quản lý cũng có thể dẫn đến sự cần thiết của một dự
án phát triển một hệ thống thông tin mới. Những luật mới của chính phủ ban hành,
việc ký kết một hợp tác mới, sự đa dạng hoá các hoạt động cảu doanh nghiệp bằng
sản phẩm mới hoặc dịch vụ mới. Các hành động mới của các công ty cạnh tranh
cũng có một tác động mạnh vào động cơ buộc các công ty đó có những cải thiện
mới trong việc quản lý nhân viên nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu suất cho công ty
của mình.
Việc xuất hiện các công nghệ mới cũng có thể dẫn đến việc một tổ chức phải
xem lại những thiết bị hiện có trong hệ thống thông tin của mình. Các công ty phần
mềm là các đơn vị ứng dụng công nghệ thông tin sớm nhất vì vậy khi có một công
- Nguyên tắc 1: Sử dụng các mô hình.
Là việc mô sử dụng các thực thể đã được mô hình hoá một cách trực quan hơn
do đó có thể nắm bắt được tinh thần của hệ thống một cách tốt hơn và dễ hiểu hơn
rất nhiều. Mặt khác trên thực tế thì có những việc chúng ta không thể tác động trực
tiếp trên đối tượng mà phải thông qua mô hình. Phương pháp sử dụng các mô hình
cũng những ưu điểm nổi bật của nó.
- Nguyên tắc 2: Chuyển từ cái chung sang cái riêng.
Tinh thần của phương pháp này là đi từ cái tổng thể đến cái bộ phận. Như
chúng ta đã biết muốn tìm hiểu một tổ chức hoặc một doanh nghiệp chúng ta cần
phải hiểu biết được những hoạt động chung nhất cuả tổ chức sau đó chúng ta mới
đi vào từng bộ phận từng chi tiết. Nói theo ngôn ngữ của triết học thì nếu không
thấy được rừng thì không thể đến đó mà xem xét từng cây được.
- Nguyên tắc 3: Chuyển từ mô hình vật lý sang mô hình logic khi phân
tích và từ mô hình logic sang mô hình vật lý khi thiết kế.
Như chúng ta đã biết thì khi phân tích chúng ta phải vận dụng những kiến
thức và hiểu biết về đối tượng cần xác định để biến một loạt các sự kiện các công
việc rời rạc phi lôgic thành những sự kiện những công việc có cấu trúc lôgic hợp lý
và chặt chẽ. Sẽ là dễ dàng hơn cho phân tích nếu như chúng ta đi từ mô hình vật lý
sang mô hình lôgic. Ngược lại khi thiết kế chúng ta lại cần cụ thể hoá các mô hình
lôgic đã được xây dựng. Khi đó thì việc thực thi mô hình lôgic sẽ diễn ra đơn giản
hơn rất nhiều.
Ba mô hình của một hệ thống thông tin, đó là mô hình logic, mô hình vật lý
ngoài và mô hình vật lý trong. Bằng cách mô tả về một đối tượng, ba mô hình này
được quan tâm từ những góc độ khác nhau. Phương pháp phát triển hệ thống thông
tin được thể hiện cũng dùng tới khái niệm của những mô hình này.
16
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nguyên tắc đi từ chung đến riêng là một nguyên tắc của sự đơn giản hoá.
Thực tế, người ta khẳng định rằng để hiểu tốt một hệ thống thì trước hết phải hiểu
hữu ích.
4.2. Các giai đoạn phát triển hệ thống thông tin
Để xây dựng một hệ thống thông tin phải trải qua 7 giai đoạn. Mỗi giai đoạn
bao gồm một dãy các công đoạn được liệt kê kèm theo. Cuối mỗi giai đoạn phải
kèm theo việc ra quyết định về việc tiếp tục hay chấm dứt sự phát triển hệ thống.
Quyết định này được trợ giúp dựa vào nội dung báo cáo mà phân tích viên hoặc
nhóm phân tích viên trình bày cho các nhà sử dụng. Phát triển hệ thống là một quá
trình lặp. Tuỳ theo kết quả của một giai đoạn có thể, và đôi khi là cần thết, phải
quay về giai đoạn trước để tìm cách khắc phục những sai sót. Một số nhiệm vụ
được thực hiện trong suốt quá trình; đó là việc lập kế hoạch cho giai đoạn tới, kiểm
soát những nhiệm vụ đã hoàn thành, đánh giá dự án và lập tài liệu về hệ thống và
về dự án. Và sau đây là mô tả sơ lược các giai đoạn của việc triển khai một hệ
thống thông tin:
4.2.1. Giai đoạn 1: Đánh giá yêu cầu
Đánh giá yêu cầu giúp cho việc cung cấp cho lãnh đạo tổ chức những dữ liệu
đích thực đề ra những quyết định về thời cơ, tính khả thi và hiệu quả một dự án
phát triển hệ thống. Giai đoạn này thực hiện tương đối nhanh và không đòi hỏi chi
phí lớn. Giai đoạn đánh giá yêu cầu bao gồm các công đoạn sau:
- Lập kế hoạch đánh giá yêu cầu.
- Làm rõ yêu cầu.
- Đánh giá khả năng thực thi.
18
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Chuẩn bị và trình bày báo cáo đánh giá yêu cầu.
4.2.2. Giai đoạn 2: Phân tích chi tiết
Sau khi có sự đánh giá thuận lợi về yêu cầu. Những mục đích chính của
phân tích chi tiết là làm rõ các vấn đề về hệ thống đang nghiên cứu, xác định
những nguyên nhân đích thực của những vấn đề đó, làm rõ những ràng buộc và
những áp dụng đối với hệ thống đồng thời xác định rõ mục tiêu của hệ thống mới
ơng án khác nhau để cụ thể hoá mô hình logic. Mỗi một phương án là một phác
hoạ của mô hình vật lý ngoài của hệ thống nhưng phải là một mô tả chi tiết. Tất
nhiên là người sử dụng sẽ thấy dễ dàng hơn khi lựa chọn mô hình vật lý ngoài đ-
ược xây dựng chi tiết nhưng chi phí tạo ra chúng là rất lớn. Vì vậy, để cho người sử
dụng lựa chọn các mục tiêu đã định trước phân tích viên phải đánh giá các phương
án: những lợi ích và chi phí của từng phương án và phải có những khuyến nghị cụ
thể. Những ngời sử dụng sẽ lựa chọn phơng án tối ưu.
Các công đoạn của của giai đoạn đề xuất phương án và giải pháp:
- Xác định các ràng buộc tin học và ràng buộc tổ chức.
- Xây dựng các phương án của giải pháp.
- Đánh giá các phương án của giải pháp.
- Chuẩn bị và trình bầy các báo cáo của giai đoạn đề xuất các phương án giải
pháp.
4.2.5. Giai đoạn 5: Thiết kế vật lý ngoài
Sau khi đã lựa chọn được phương án giải pháp giai đoạn tiếp theo là thiết kế
vật lý ngoài. Giai đoạn này gồm 2 tài liệu cần có: Một tài liệu bao gồm tất cả đặc
trưng của hệ thống mới sẽ cần cho việc thực hiện kỹ thuật và tiếp đó là tài liệu cần
cho ngời sử dụng nó mô tả cả phần thủ công và cả những giao diện với những phần
tin học hoá. Những công đoạn chính của thiết kế vật lý ngoài gồm:
20
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Lập kế hoạch thiết kế vật lý ngoài.
- Thiết kế chi tiết các giao diện.
- Thiết kế cách thức tương tác với phần tin học hoá.
- Thiết kế các thủ tục thủ công.
- Chuẩn bị và trình bày báo cáo về thiết kế vật lý ngoài.
4.2.6 Giai đoạn 6: Triển khai kỹ thuật hệ thống
Kết thúc giai đoạn này kết quả đạt đợc là phần tin học hoá của hệ thống
thông tin đó chính là phần mềm được xây dựng. Những người chịu trách nhiệm về
“để làm gì?”. Nó không quan tâm tới phương tiện được sử dụng cũng như địa
điểm hoặc thời điểm mà dữ liệu được xử lý.
3. Mô hình vật lý ngoài
Mô hình vật lý ngoài chú ý tới những khía cạnh nhìn thấy được của hệ thống
như là các vật mang dữ liệu và vật mang kết quả cũng như hình thức của đầu vào
và của đầu ra, phương tiện để thao tác với hệ thống, những dịch vụ, bộ phận, con
người và vị trí công tác trong hoạt động xử lý, các thủ tục thủ công cũng như
những yếu tố về địa điểm thực hiện xử lý dữ liệu, loại màn hình hoặc bàn phím sử
dụng. Mô hình này cũng chú ý tới mặt thời gian của hệ thống, nghĩa là về những
thời điểm mà các hoạt động xử lý dữ liệu khác nhau xảy ra. Nó trả lời câu hỏi: Cái
gì? Ai? ở đâu? và Khi nào?
4. Mô hình vật lý trong
Mô hình vật lý trong liên quan tới những khía cạnh vật lý của hệ thống, tuy
nhiên không phải là cái nhìn của người sử dụng mà là của nhân viên kỹ thuật.
22
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chẳng hạn, đó là những thông tin liên quan tới loại trang thiết bị được dùng để
thực hiện hệ thống, dung lượng kho lưu trữ và tốc độ xử lý của thiết bị, tổ chức vật
lý của dữ liệu trong kho chứa, cấu trúc của các chương trình và ngôn ngữ thể hiện.
Mô hình giải đáp câu hỏi:Như thế nào?
Mỗi mô hình là kết quả của một góc nhìn khác nhau, mô hình logic là kết
quả của góc nhìn quản lý, mô hình vật lý ngoài là kết quả của góc nhìn sử dụng và
mô hình vật lý trong là kết quả của góc nhìn kỹ thuật. Ba mô hình trên có độ ổn
định khác nhau, mô hình logic là ổn định nhất và mô hình vật lý trong là hay biến
đổi nhất.
II. CÔNG CỤ MÔ HÌNH HÓA
Để mô hình hoá và xây dựng tài liệu hệ thống người ta sử dụng một số công
cụ tương đối chuẩn sau: sơ đồ luồng thông tin IFD, sơ đồ luồng dữ liệu DFD.
1. Sơ đồ luồng thông tin (IFD – Information Flow Diagram)
24
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ký pháp dùng cho sơ đồ luồng dữ liệu :
Ngôn ngữ sơ đồ luồng dữ liệu DFD sử dụng 4 loại ký pháp cơ bản: thực thể, tiến
trình, kho dữ liệu, dòng dữ liệu.
Nguồn hoặc đích
Dòng dữ liệu
Tiến trình xử lý
Kho dữ liệu
- Các mức của DFD: Sơ đồ ngữ cảnh (Context Diagram) thể hiện rất khái quát
nội dung chính của hệ thống thông tin. Sơ đồ này không đi vào chi tiết mà mô tả
sao cho cần một lần nhìn là nhận ra nội dung của hệ thống. Để cho sơ đồ ngữ cảnh
sáng sủa, dễ nhìn, có thể bỏ qua các kho dữ liệu; bỏ qua các xử lý cập nhật. Sơ đồ
khung cảnh còn được gọi là sơ đồ mức 0.
25
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tên bộ phận
Tên
tiến
trình
xử lý
Tệp dữ liệu