Xây dựng và thiết kế hệ thống thông tin quản lý vào ra - Pdf 10

MỤC LỤC
Trang
2. Khái quát về Hệ thống thông tin ............................................................................................ 11
4.1. Vai trò của phân tích và thiết kế hệ thống .............................................. 18
4.2. Các giai đoạn phát triển hệ thống thông tin ........................................... 19
II. MÔ HÌNH BIỂU DIỄN HỆ THỐNG THÔNG TIN ................................................................. 23
III. TÌM HIỂU VỀ CÔNG CỤ SỬ DỤNG ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI ........................................ 28
1. Một số khái niệm của cơ sở dữ liệu ....................................................................................... 28
Tên báo biểu ................................................................................................... 39
Đi muộn .............................................................................................................................................. 39
Nhân viên ............................................................................................................................................ 39
Về sớm ................................................................................................................................................ 40
Vắng mặt ............................................................................................................................................. 40
Không quẹt thẻ .................................................................................................................................... 41
1
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin, hiện nay đã trở thành thước đo phát triển của mỗi quốc
gia trên thế giới. Là ngành công nghiệp mũi nhọn của các nước phát triển. Công
nghệ thông tin mang lại nhiều lợi ích và tính năng to lớn trong việc trợ giúp những
công việc tưởng chừng như rất khó khăn. Đối với các nước đang phát triển thì việc
ứng dụng công nghệ thông tin vào thực tiễn lại càng rất quan trọng. Do vậy việc
sáng tạo, phát minh sáng chế ra ứng dụng để áp dụng vào cuộc sáng ngày càng
được cải thiện và cạnh tranh gay gắt.
Do những phần mềm quản lý đang dần trở nên một nhân tố không thể thiếu
được của nền kinh tế nên các doanh nghiệp đã bắt đầu khởi động việc ứng dụng
CNTT vào doanh nghiệp mình. Chính vì điều đó nhiều quốc gia trên thế giới coi
Công nghệ thông tin là ngành kinh tế mũi nhọn để phát triển, thực hiện công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn,
lạc hậu. Không những các cơ quan tổ chức sử dụng máy tính mà hiện nay việc sử

quốc dân, TS. Trương Văn Tú, công ty phần mềm PWD Soft đã giúp đỡ em hoàn
3
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này. Tuy đã hoàn thành, song về nội dung
không thể tránh những thiếu sót vì vậy em rất mong sự đóng góp ý kiến của các
thầy cô giáo, các bạn đọc để đề tài sau em hoàn thành tốt hơn.
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP
I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY PWD SOFT
1. Lịch sử thành lập và phát triển.
Điểm khác biệt ở PWD Soft với các công ty phần mềm khác là những chiếc
xe lăn và những chiếc nạng dựng bên các bàn làm việc...
PWD Soft là một gương mặt mới và rất đặc biệt trong "làng" CNTT Việt
Nam. Tất cả thành viên của PWD Soft - từ giám đốc đến nhân viên - là những
người không may mắn trong cuộc sống nhưng tự tin cho một quyết tâm lớn: tham
gia thị trường Mỹ.
"PWD là viết tắt của chữ People With Disabilities (công ty TNHH CNTT
của người khuyết tật). Tôi mong muốn đây sẽ là nơi những người khuyết tật (NKT)
tìm lại chính mình" - ông Đỗ Văn Du, một Việt kiều Mỹ giải thích rất ngắn gọn về
công ty của mình. Hiện nay, PWD có 20 nhân viên. "Tôi không muốn nguồn nhân
lực này bị bỏ qua một cách lãng phí. Họ đều là những người có trình độ và khả
năng làm việc không thua kém bất kỳ người bình thường nào. Nhiều người khi đến
4
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
đây đã được đào tạo khá tốt. Đáng tiếc là cơ hội việc làm cho họ hiện không
nhiều", ông Du nói.
Năm 1971, ông Du được nhận một suất học bổng về chuyên ngành kiến trúc
tại Mỹ. Sau đó, số phận đã đưa ông đến với trung tâm đào tạo CNTT cho NKT.

Để sẵn sàng tiếp cận những khách hàng khó tính bậc nhất này, PWD hợp tác
với một đối tác của Mỹ là tập đoàn Evizi nhằm đảm bảo về hợp đồng gia công
phần mềm; hợp tác với tập đoàn DTT của VN về nguồn nhân lực và kinh nghiệm
làm việc cho những hợp đồng lớn. Đặc biệt, PWD đưa ra chương trình đào tạo
nhân viên mới theo cách rất đặc biệt. Khi được tiếp nhận vào PWD Soft, nhân viên
phải làm quen ngay với môi trường chuyên nghiệp. Buổi sáng, giảng viên đến dạy
họ về tin học và ngoại ngữ. Buổi chiều, họ tự chia nhóm để làm việc và hỗ trợ
nhau. Đây cũng là cách giúp mọi người làm quen với phương thức làm việc nhóm.
"Thời gian đầu, một số người không tránh khỏi sự bỡ ngỡ do chưa quen với
tác phong làm việc của công ty. Tuy nhiên, tôi muốn họ phải làm việc thực sự như
những người bình thường, hơn nữa, còn phải chuyên nghiệp để đáp ứng yêu cầu
của đối tác. Có như vậy, khi nhận lương ngang bằng với người bình thường, NKT
mới cảm thấy xứng với sức lao động của mình. Tôi là người tham gia nhiều hoạt
động từ thiện (ông Du là người đã đứng ra quyên góp thiết bị y tế để các bệnh viện
trong nước có thể phẫu thuật miễn phí cho 300 trẻ em bị bệnh não úng thủy trong
nước - PV), nhưng tôi không mang tinh thần từ thiện vào công việc. Tôi chỉ mang
đến cho họ cơ hội làm việc như những người bình thường khác. CNTT có khả năng
mang đến cho NKT một tương lai tốt", ông Du chia sẻ.
6
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Tháng 12 năm 2007 công ty PWD Soft được thành lập dưới sự sáng lập của
ông Đỗ Văn Du và chính ông trực tiếp làm giám đốc.
2. Tổng quan về công ty PWD Soft
2.1. Giới thiệu chung
- Tên công ty : Công ty PWDSoft.
- Trụ sở: Số 101, Láng Hạ, Cầu Giấy, Hà Nội.
- Số điện thoại: 04 5624763
PWD là viết tắt của chữ People With Disabilities (công ty TNHH CNTT của
người khuyết tật).

8
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
PWD Soft có nhiều bạn hàng là các tổ chức, tập đoàn lớn ở trên thế giới như
tập đoàn EVIZI, hãng máy bay BOING của Mỹ và nhiều công ty gia công phần
mềm khác ở Mỹ và Đan Mạch.
Ngoài ra ở Việt Nam thì PWD Soft có quan hệ thân thiết với các công ty
DTT, HanoiCTT là những công ty gia công phần mềm nổi tiếng đạt tiêu chuẩn
quốc tế.
CHƯƠNG II. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ
BẢN VÀ NGÔN NGỮ SỬ DỤNG.
I. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN.
1. Tổ chức và thông tin trong tổ chức.
Trong những năm 80 đã chứng kiến sự gia tăng tầm quan trọng của thông tin
trong các tổ chức, tốc độ và sự phức tạp của xử lý ngày một tăng. Hàng triệu máy
tính được lắp đặt trên thế giới và nhiều triệu km cáp quang, dây dẫn và sóng điện
từ kết nối con người, máy tính cũng như các phương tiện xử lý thông tin lại với
nhau.
Thông tin trong các cơ quan, tổ chức có tầm quan trọng vô cùng to lớn.
Thông tin được dùng để lập kế hoạch nhằm tạo ra sự biến chuyển trong tổ chức
đồng thời thông tin cũng là một phương tiện để biến chuyển.
Nhờ có thông tin, các nhà quản lý có thể lập kế hoạch, đặt ra những mục tiêu
cho công ty hay tổ chức của mình một cách sát với thực tế. Các nhà quản lý, lãnh
9
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
đạo nhờ có thông tin có thể đưa ra các quyết định nhanh chóng đối với hoạt động
của tổ chức, giúp tổ chức đạt được những mục tiêu của mình.
Sự phát triển của công nghệ thông tin đã đóng vai trò của một lực trợ giúp
và một chất xúc tác trong việc nâng cao tầm quan trọng của thông tin. Tầm quan

nhiệm vụ, những quyết định kiểm soát và khai thác tối ưu nguồn lực.
- Quyết định tác nghiệp: là những quyết định nhằm thực thi nhiệm vụ.
2. Khái quát về Hệ thống thông tin
2.1. Định nghĩa về HTTT
Hệ thống thông tin là một tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng
và phần mềm… thực hiện hoạt động thu thập, lưu trữ, xử lý và phân phối thông tin
trong một tấp các ràng buộc được gọi l à môi trường.
2.2. Vòng đời phát triển của một HTTT
Thu thập
Nguồn
Đích
Phân phátXử lý và
lưu trữ
CSDL
11
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Mô hình Hệ thống thông tin
HTTT được xây dựng là sản phẩm của hàng loạt các hoạt động được gọi là
phát triển hệ thống. Quá trình phát triển một HTTT kể từ khi nó sinh ra cho đến khi
lụi tàn gọi là vòng đời phát triển hệ thống.
Để xem xét một cách trực quan một vòng đời của một HTTT chúng ta xem
xét mô hình được xắp xếp theo hình bậc thang (hay còn gọi là mô hình thác nước)
12
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
2.2.1. Khởi tạo và lập kế hoạch dự án
Trong giai đoạn này cần chú ý đến hai khía cạnh đó là khởi tạo và lập kế
hoạch. đó là những bước đầu cơ bản vạch ra cho hướng phát triển tiếp theo. Qua
đây chúng ta có thể biết được dự án có thể xây dựng trong bao lâu và các nguồn

3. Phương pháp phát triển một hệ thống thông tin
3.1. Nguyên nhân dẫn tới việc phát triển một hệ thống thông tin
Thời đại ngày nay là thời đại của khoa học công nghệ, thông tin. Hệ thống
thông tin ngày càng có vai trò quan trọng, to lớn trong cuộc sống, ảnh hưởng đến
việc ra quyết định và chất lượng của quyết định. Một hệ thống thông tin hoạt động
tốt là một hệ thống mà nhờ nó các nhà quản lý có thể ra các quyết định có chất
lượng cao. Nhờ có các quyết định này mà các cơ quan hay tổ chức có thể sản xuất,
phân phối những sản phẩm và dịch vụ với độ tin cậy lớn, đáp ứng tốt nhu cầu
khách hàng, góp phần vào sự thành công của cơ quan hay tổ chức.
Có thể nói, phát triển một hệ thống thông tin là cung cấp cho các thành viên
của tổ chức những công cụ quản lý tốt nhất. Một hệ thống thông tin hoạt động tốt
là bộ phận không thể thiếu của cơ quan, tổ chức hiện đại nào, giống như một con
người phải có trí nhớ tốt mới có thể thành công. Có thể tóm lược các nguyên nhân
đó như sau:
Nguyên nhân dẫn đến việc phát triển hệ thống thông tin:
14
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
- Những vấn đề về quản lý.
- Những yêu cầu mới của nhà quản lý.
- Sự thay đổi của công nghệ.
- Thay đổi sách lược chính trị.
Nhiệm vụ quan trọng của công tác quản lý là phải ra được các quyết định, chỉ
thị có chất lượng cao. Nhờ có các quyết định đúng đắn, kịp thời của nhà quản lý
mà tổ chức có thể đạt được các mục tiêu của mình. Để các quyết định có chất
lượng cao cần có một hệt hống thông tin hoạt động có hiệu quả trong tổ chức. Nhờ
có hệ thống thông tin hoạt động tốt mà tổ chức có thể giảm được những chi phí
không cần thiết, tăng chất lượng của sản phẩm và dịch vụ, tạo ra những thành công
mới của tổ chức. Đối với bất kỳ một tổ chức nào thì có một hệt hống thông tin hoạt
động tốt là điều vô cùng quan trọng. Việc thực hiện công việc một cách thủ công sẽ

tạp. Để làm chủ được sự phức tạp đó phân tích viên phải có một cách tiến hành
nghiêm túc, hay nói cách khác, họ phải tiến hành phát triển hệ thống thông tin một
cách có phương pháp khoa học.
Phương pháp được định nghĩa như một tập hợp các bước và các công cụ cho
phép tiến hành một quá trình phát triển hệ thống chặt chẽ nhưng dễ quản lý hơn.
Phương pháp được đề cập ở đây dựa trên ba nguyên tắc cơ sở chung của nhiều
phương pháp hiện đại có cấu trúc để phát triển hệ thống thông tin. Ba nguyên tác
đó là.
16
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
- Nguyên tắc 1: Sử dụng các mô hình.
Là việc mô sử dụng các thực thể đã được mô hình hoá một cách trực quan hơn
do đó có thể nắm bắt được tinh thần của hệ thống một cách tốt hơn và dễ hiểu hơn
rất nhiều. Mặt khác trên thực tế thì có những việc chúng ta không thể tác động trực
tiếp trên đối tượng mà phải thông qua mô hình. Phương pháp sử dụng các mô hình
cũng những ưu điểm nổi bật của nó.
- Nguyên tắc 2: Chuyển từ cái chung sang cái riêng.
Tinh thần của phương pháp này là đi từ cái tổng thể đến cái bộ phận. Như
chúng ta đã biết muốn tìm hiểu một tổ chức hoặc một doanh nghiệp chúng ta cần
phải hiểu biết được những hoạt động chung nhất cuả tổ chức sau đó chúng ta mới
đi vào từng bộ phận từng chi tiết. Nói theo ngôn ngữ của triết học thì nếu không
thấy được rừng thì không thể đến đó mà xem xét từng cây được.
- Nguyên tắc 3: Chuyển từ mô hình vật lý sang mô hình logic khi phân
tích và từ mô hình logic sang mô hình vật lý khi thiết kế.
Như chúng ta đã biết thì khi phân tích chúng ta phải vận dụng những kiến
thức và hiểu biết về đối tượng cần xác định để biến một loạt các sự kiện các công
việc rời rạc phi lôgic thành những sự kiện những công việc có cấu trúc lôgic hợp lý
và chặt chẽ. Sẽ là dễ dàng hơn cho phân tích nếu như chúng ta đi từ mô hình vật lý
sang mô hình lôgic. Ngược lại khi thiết kế chúng ta lại cần cụ thể hoá các mô hình

Đồng thời nó cũng là cẩm nang cho các nhà lập trình khi một xây dựng một hệ
thống mới.
Cán bộ phân tích phải hiểu rõ công việc mà người sử dụng phải làm, những
vấn đề và những khó khăn họ gặp. Để làm điều đó việc hiểu biết các phương pháp
18
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
thu thập thông tin và phương pháp trình bày hệ thống là cần thiết. Phân tích viên
phải biết chuyển đổi các yếu tố logic sang thành các phương án cụ thể và đánh giá
chi phí và lợi ích của các phương án về mặt tài chính cũng như xã hội. Những hiểu
biết về lập trình, thử nghiệm hệ thống và những phương pháp cài đặt cũng cần thiết
hữu ích.
4.2. Các giai đoạn phát triển hệ thống thông tin
Để xây dựng một hệ thống thông tin phải trải qua 7 giai đoạn. Mỗi giai đoạn
bao gồm một dãy các công đoạn được liệt kê kèm theo. Cuối mỗi giai đoạn phải
kèm theo việc ra quyết định về việc tiếp tục hay chấm dứt sự phát triển hệ thống.
Quyết định này được trợ giúp dựa vào nội dung báo cáo mà phân tích viên hoặc
nhóm phân tích viên trình bày cho các nhà sử dụng. Phát triển hệ thống là một quá
trình lặp. Tuỳ theo kết quả của một giai đoạn có thể, và đôi khi là cần thết, phải
quay về giai đoạn trước để tìm cách khắc phục những sai sót. Một số nhiệm vụ
được thực hiện trong suốt quá trình; đó là việc lập kế hoạch cho giai đoạn tới, kiểm
soát những nhiệm vụ đã hoàn thành, đánh giá dự án và lập tài liệu về hệ thống và
về dự án. Và sau đây là mô tả sơ lược các giai đoạn của việc triển khai một hệ
thống thông tin:
4.2.1. Giai đoạn 1: Đánh giá yêu cầu
Đánh giá yêu cầu giúp cho việc cung cấp cho lãnh đạo tổ chức những dữ liệu
đích thực đề ra những quyết định về thời cơ, tính khả thi và hiệu quả một dự án
phát triển hệ thống. Giai đoạn này thực hiện tương đối nhanh và không đòi hỏi chi
phí lớn. Giai đoạn đánh giá yêu cầu bao gồm các công đoạn sau:
- Lập kế hoạch đánh giá yêu cầu.

20
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
- Thiết kế xử lý.
- Thiết kế các luồng dữ liệu vào.
- Chỉnh sửa tài liệu cho mức logic.
- Hợp thức hoá mô hình logic.
4.2.4. Giai đoạn 4: Đề xuất phương án và giải pháp
Mô hình logic của hệ thống mới mô tả cái mà hệ thống này sẽ làm. Khi mô
hình này được xác định và chuẩn y bởi người sử dụng, thì các phân tích viên phải
nghiêng về phương tiện để thực hiện hệ thống này. Đó là việc xây dựng các phư-
ơng án khác nhau để cụ thể hoá mô hình logic. Mỗi một phương án là một phác
hoạ của mô hình vật lý ngoài của hệ thống nhưng phải là một mô tả chi tiết. Tất
nhiên là người sử dụng sẽ thấy dễ dàng hơn khi lựa chọn mô hình vật lý ngoài đ-
ược xây dựng chi tiết nhưng chi phí tạo ra chúng là rất lớn. Vì vậy, để cho người sử
dụng lựa chọn các mục tiêu đã định trước phân tích viên phải đánh giá các phương
án: những lợi ích và chi phí của từng phương án và phải có những khuyến nghị cụ
thể. Những ngời sử dụng sẽ lựa chọn phơng án tối ưu.
Các công đoạn của của giai đoạn đề xuất phương án và giải pháp:
- Xác định các ràng buộc tin học và ràng buộc tổ chức.
- Xây dựng các phương án của giải pháp.
- Đánh giá các phương án của giải pháp.
- Chuẩn bị và trình bầy các báo cáo của giai đoạn đề xuất các phương án giải
pháp.
4.2.5. Giai đoạn 5: Thiết kế vật lý ngoài
Sau khi đã lựa chọn được phương án giải pháp giai đoạn tiếp theo là thiết kế
vật lý ngoài. Giai đoạn này gồm 2 tài liệu cần có: Một tài liệu bao gồm tất cả đặc
trưng của hệ thống mới sẽ cần cho việc thực hiện kỹ thuật và tiếp đó là tài liệu cần
cho ngời sử dụng nó mô tả cả phần thủ công và cả những giao diện với những phần
tin học hoá. Những công đoạn chính của thiết kế vật lý ngoài gồm:

II. MÔ HÌNH BIỂU DIỄN HỆ THỐNG THÔNG TIN
Cùng một hệ thống thông tin có thể được mô tả khác nhau tuỳ theo quan
điểm của người mô tả. Mỗi một người liên quan đến hệ thống sẽ mô tả hệ thống
thông tin theo một mô hình khác nhau. Khái niệm mô hình này là rất quan trọng,
nó tạo ra một trong những nền tảng của phương pháp phân tích thiết kế và cài đặt
hệ thống thông tin. Có ba mô hình đã được đề cập tới để mô tả cùng một hệ thống
thông tin: mô hình logic, mô hình vật lý ngoài và mô hình vật lý trong.
2. Mô hình logic
Mô hình logic mô tả hệ thống làm gì: dữ liệu mà nó thu thập, xử lý mà nó
phải thực hiện, các kho để chứa các kết quả hoặc dữ liệu để lấy ra cho các xử lý và
những thông tin mà hệ thống sản sinh ra. Mô hình này trả lời câu hỏi “cái gì?” và
“để làm gì?”. Nó không quan tâm tới phương tiện được sử dụng cũng như địa
điểm hoặc thời điểm mà dữ liệu được xử lý.
3. Mô hình vật lý ngoài
Mô hình vật lý ngoài chú ý tới những khía cạnh nhìn thấy được của hệ thống
như là các vật mang dữ liệu và vật mang kết quả cũng như hình thức của đầu vào
và của đầu ra, phương tiện để thao tác với hệ thống, những dịch vụ, bộ phận, con
người và vị trí công tác trong hoạt động xử lý, các thủ tục thủ công cũng như
những yếu tố về địa điểm thực hiện xử lý dữ liệu, loại màn hình hoặc bàn phím sử
dụng. Mô hình này cũng chú ý tới mặt thời gian của hệ thống, nghĩa là về những
thời điểm mà các hoạt động xử lý dữ liệu khác nhau xảy ra. Nó trả lời câu hỏi: Cái
gì? Ai? ở đâu? và Khi nào?
4. Mô hình vật lý trong
Mô hình vật lý trong liên quan tới những khía cạnh vật lý của hệ thống, tuy
nhiên không phải là cái nhìn của người sử dụng mà là của nhân viên kỹ thuật.
23
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế
Chẳng hạn, đó là những thông tin liên quan tới loại trang thiết bị được dùng để
thực hiện hệ thống, dung lượng kho lưu trữ và tốc độ xử lý của thiết bị, tổ chức vật

Tin học hoá hoàn toàn
- Kho dữ liệu
- Dòng thông tin - Điều khiển
2. Sơ đồ luồng dữ liệu (DFD – Data Flow Diagram) dùng để mô tả hệ thống
thông tin như sơ đồ luồng thông tin nhưng trên góc độ trừu tượng. Trên sơ đồ chỉ
bao gồm các luồng dữ liệu, các xử lý, các lưu trữ dữ liệu, nguồn và đích nhưng
không hề quan tâm tới nơi, thời điểm và đối tượng chịu trách nhiệm xử lý. Sơ đồ
luồng dữ liệu chỉ đơn thuần mô tả hệ thống thông tin làm gì và để làm gì.
Ký pháp dùng cho sơ đồ luồng dữ liệu :
Thủ công
Tin học hoá¸
Điều khiển
25
Sinh viên: Nguyễn Tiến Linh Lớp: Tin học 45A
Chuyên đề tốt nghiệp thực tập Khoa Tin học kinh tế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status