Chuyên đề 3
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI DÂN CHỦ
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề:
CNXH DC là một trào lưu tư tưởng cải lương trong phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế, xuất hiện vào những năm 70 của thế kỷ XIX. Cho đến nay,
CNXHDC vẫn tồn tại và một số đảng DCXH đang nắm chính quyền ở một số
nước TBCN. Sau sự kiện khủng hoảng sụp đổ của CNXH hiện thực ở Đông Âu Liên Xô, 1 số người cộng sản, một bộ phận công nhân, nhân dân lao động cũng
dao động con đường XHCN Mác xít muốn ngả sang CNXHDC, họ lớn tiếng đòi
hỏi Đảng ta phải nhanh chóng hoàn lương, từ bỏ con đường CNXHKH đi theo con
đường CN XHDC.
Để nhận diện: + Bản chất CNXH dân chủ là gì?
+ Đặc điểm của nó ra sao?
+ Thái độ của Đảng ta với CNXHDC như thế nào?
Hôm nay tôi cùng các đồng chí nghiên cứu : CNXH Dân chủ
2. Mục đích, yêu cầu:
- Nắm vững sự ra đời, các giai đoạn phát triển của CNXHDC
- Thấy rõ bản chất và đặc điểm của CNXHDC
- Phê phán những quan điểm, tư tưởng sai trái cuả CNXHDC
3. Nội dung:
I. Sự ra đời và các giai đoạn phát triển của CNXHDC
II. Bản chất và đặc điểm của CNXHDC
III. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam với CNXHDC
* Thời gian: 4 tiết
* Phương pháp: Thuyết trình, phân tích tổng hợp, lịch sử, lô lúc, kết hợp
trình chiếu.
* Tài liệu Nghiên cứu:
- Giáo trình CNXHKH (Tập 2), Nxb QĐND, Hà Nội 2008.
- Hỏi đáp CNXHKH, Nxb QĐND, Hà Nội 2004.
- “Trào lưu dân chủ xã hội” là một trào lưu tư tưởng và chính trị trong
phong trào công nhân, lúc đầu chịu ảnh hưởng tích cực của chủ nghĩa Mác, về sau
xa dần mục tiêu đấu tranh của phong trào công nhân, thực hiện những thoả hiệp
chính trị với giai cấp tư sản. Lịch sử tồn tại của nó là một quá tŕnh đầy mâu thuẫn
và thăng trầm, gắn liền với những cuộc đấu tranh trong nội bộ từng đảng cũng như
trong trào lưu nói chung, giữa hai trào lưu dân chủ xã hội và cộng sản trong phong
trào công nhân quốc tế.
- “Quốc tế XHCN” (Socialist International - SI): Là tổ chức quốc tế tập hợp
các đảng dân chủ xã hội, các đảng XHCN, và các đảng công nhân (hoặc công
đảng) đang hoạt động ở các quốc gia trên thế giới. SI được thành lập tại Đại hội
các đảng dân chủ xã hội lần thứ nhất ở Frankfurt (CHLB Đức) năm 1951. Đến nay,
Quốc tế XHCN đă tiến hành được 22 đại hội, Đại hội gần đây nhất là Đại hội XXII
được tiến hành ở Brazil (10/2003).
Theo điều lệ, SI họp đại hội 2 năm một lần (sau này là 3 năm). Tính đến Đại
hội XXI (1999), tổng số thành viên của SI là 140 đảng và tổ chức. SI không thừa
nhận nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt nội bộ; các đảng thành viên duy
trì sự độc lập hoàn toàn của mình; các hội nghị của SI chỉ ghi nhận các chính sách
do các đảng đưa ra, không đề ra chính sách chung và cố gắng đạt tới sự nhất trí
(đồng thuận) cao nhất của các thành viên... Cơ cấu lãnh đạo của SI gồm: Một Hội
đồng gồm đại biểu các đảng thành viên; một Ban lãnh đạo (Bureau), sau này đổi
thành Đoàn Chủ tịch gồm 1 Chủ tịch, 12 Chủ tịch danh dù, 28 Phó Chủ tịch và một
Ban thư kư. Cơ quan ngôn luận chính thức của SI là Bản tin “Những vấn đề
XHCN” (Socialist Affairs) xuất bản bằng tiếng Anh.
- “Chủ nghĩa cải lương xã hội” là khái niệm do những người dân chủ xã
hội nêu ra từ giữa thế kỷ XIX. Đầu tiên là tư tưởng của Ferdinand Lassalle về việc
giai cấp vô sản có thể lợi dụng quyền bầu cử, phổ thông đầu phiếu trong chế độ
TBCN để tranh cử và bằng con đường đấu tranh nghị viện để xây dựng xã hội
XHCN.
Sau đó, những tư tưởng này được Eduard Bernstein đề lên thành lý luận khi
đến sự ra đời của nhiều tổ chức công đoàn và Đảng xã hội - dân chủ. Tổ chức tiền
thân của trào lưu dân chủ xã hội đó là Đảng xã hội - dân chủ Đức được thành lập
vào năm 1875 trên cơ sở sáp nhập 2 tổ chức là Đảng Aidơnach thành lập 1863 (do
Bê ben lãnh đạo) - theo quan điểm Mác xít, và “Tổng công hội Đức” (do F.Lát xan
thành lập 1869) theo lập trường cải lương. Sau đó là sự ra đời của hàng loạt các
Đảng dân chủ - xã hội ở các nước tư bản châu Âu.
Sự phát triển mạnh mẽ của PTCN, sự ra đời hàng loạt các Đảng xã hội - dân
chủ và do những nỗ lực to lớn của Ph.Ăngghen, Quốc tế II ở giai đoạn đầu, khi
Ph.Ăngghen còn sống là tổ chức quốc tế của giai cấp công nhân, chủ yếu theo lập
trường tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen, mặc dù trong các Đảng xã hội - dân
chủ một bộ phận vẫn chịu ảnh hưởng tư tưởng cơ hội, cải lương, ở giai đoạn sau từ
khi Ph.Ăngghen mất (1895), tổ chức này bị chủ nghĩa cơ hội, xét lại chi phối.
Cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng cách mạng và cải lương trong Quốc
tế II đã đi đến kết cục là sự phá sản của Quốc tế II. Khi cuộc chiến tranh thế giới
thứ I (1914-1918) nổ ra, đã làm bộc lộ toàn diện sự phản bội của các phần tử cơ
hội, cải lương, xét lại trong Quốc tế II và các Đảng xã hội - dân chủ đối với lợi ích
cơ bản của giai cấp công nhân quốc tế và những nguyên lý cách mạng Mác xít.
Tháng 3-1919, Quốc tế III, Quốc tế Cộng sản được thành lập ở Matxcơva.
Sau khi Quốc tế II tan rã, trong những năm 1919-1920, hai tổ chức quốc tế của các
Đảng xã hội dân chủ cánh hữu từ Quốc tế II ra đời, đó là Quốc tế Luân Đôn và
Quốc tế cộng đồng lao động các Đảng xã hội dân chủ (thường gọi là Quốc tế II
1/2). Tháng 5-1923, Quốc tế công nhân XHCN ra đời tại Hăm Buốc (Đức) trên cơ
sở hợp nhất Quốc tế Luân Đôn và Quốc tế II 1/2. Đây là tổ chức Quốc tế đầu tiên
của trào lưu xã hội dân chủ hiện đại. Tổ chức quốc tế này tồn tại cho đến chiến
tranh thế giới thứ II
Năm 1950, những người đứng đầu trào lưu dân chủ xã hội đã tổ chức Hội
nghị Hội nghị XHCN quốc tế (Committe of the International Socialist Confrence COMISCO) ở Đan Mạch. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đại diện của các đảng dân
chủ xã hội đã chính thức bàn đến khái niệm “CNXH dân chủ” cùng với những
trào công nhân được biểu hiện dưới nhiều màu sắc: CNXH không tưởng tư sản và
tiểu tư sản, chủ nghĩa công liên, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cơ hội hữu và tả,
chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa chống cộng và sự đan xen phức tạp của các khuynh
hướng tư tưởng đó. CNXH dân chủ - học thuyết của trào lưu xã hội dân chủ trở
thành một học thuyết chiết trung, hỗn tạp và mang tính cải lương, thực dụng, thoả
hiệp giai cấp.
- Nguồn gốc xã hội:
Cơ sở xã hội của CNXH dân chủ là tầng lớp giai cấp công nhân quí tộc và
tầng lớp trí thức có lợi ích gắn liền với giai cấp tư sản, sự hình thành và tồn tại của
các tổ chức công đoàn vàng trong phong trào công nhân và các nghiệp đoàn tự do
trong xã hội tư bản, đặc biệt là các đảng xã hội dân chủ và các tổ chức chính trị xã
hội của nó. Ngoài ra còn kể đến sự hình thành và phát triển của tầng lớp trung lưu
rộng lớn trong xã hội tư bản hiện đại và bộ phận công nhân chậm tiến, xu thời
trong xã hội tư bản.
3. Các giai đoạn phát triển của CNXHDC
Trào lưu dân chủ xă hội có nguồn gốc từ phong trào công nhân ở các nước
tư bản phát triển Tây Âu khoảng 150 năm trước. Đến nay nó đă trải qua nhiều giai
đoạn phát triển thăng trầm phức tạp. Để phân kỳ các giai đoạn của trào lưu dân chủ
xă hội, cần dùa trên hai căn cứ: Trước hết là dùa trên cơ sở kinh tế - xă hội, nói
cách khác là dùa trên những giai đoạn phát triển của CNTB từ giữa thế kỷ XIX đến
nay. Thứ hai là dùa trên những sự kiện lịch sử quan trọng của phong trào công
nhân nói chung, đặc biệt là những đại hội quan trọng của Quốc tế XHCN. Trên cơ
sở phương pháp luận như vậy, có thể chia sự phát triển của trào lưu dân chủ xă hội
thành 4 giai đoạn với những đặc điểm chủ yếu ở mỗi giai đoạn như sau:
a. Giai đoạn 1, từ những năm 60 - 70 của thế kỷ XIX đến chiến tranh thế
giới lần thứ I.
- Bối cảnh lịch sử:
Trong giai đoạn 1870 - 1900, CNTB ngày càng khẳng định ưu thế tuyệt đối
công đoàn và đặc biệt là sự ra đời của một loạt đảng dân chủ xă hội có tính chất
XHCN ngày càng đậm nét là những điều kiện khách quan trực tiếp đưa đến việc
thành lập tổ chức quốc tế mới của phong trào công nhân - Quốc tế II - vào năm
1889. Sự ra đời của Quốc tế II đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công
nhân, phong trào dân chủ xã hội trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XIX. Sau khi
Ăngghen mất (1895), mặc dù đã xuất hiện trào lưu Bônsêvích do Lênin đứng đầu
kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, nhưng chủ nghĩa cơ hội vẫn chiếm ưu
thế trong Quốc tế II, cuối cùng đã dẫn tổ chức này đến chỗ phá sản vào năm 1914.
Các lực lượng cách mạng, cánh tả trong các đảng dân chủ xã hội trung thành với tư
tưởng của CNXH khoa học đã tập hợp xung quanh Đảng Bônsêvích Nga do Lênin
đứng đầu, thành lập Quốc tế cộng sản (Quốc tế III) vào năm 1919 và các đảng
cộng sản ở các nước. Sự phá sản của Quốc tế II, sự thành lập các đảng cộng sản và
Quốc tế cộng sản đánh dấu “cuộc chia tay lịch sử” giữa hai trào lưu cộng sản và
dân chủ xã hội trong phong trào công nhân quốc tế.
- Đặc điểm:
Khuynh hướng dân chủ xã hội cải lương xuất hiện và phát triển, đối lập với
khuynh hướng mác xít, đi ngược lại lợi ích cách mạng của giai cấp vô sản và
phong trào công nhân. Những đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này trong
phong trào dân chủ xã hội ở nước Đức nói riêng và châu Âu nói chung là F.
Lassalle, E. Bernstein và K. Kaustky. Những quan điểm của các ông này đã trở
thành nền tảng tư tưởng, lý luận của CNXHDC. Có thể nói, hầu như không có một
quan điểm lý luận nào của CNXH dân chủ lại không dựa trên những quan điểm lý
luận đã được hình thành từ giai đoạn này, nhất là các quan điểm của E. Bernstein.
Tư tưởng CNXHDC:
- Đòi xét lại và phủ nhận một loạt các luận điểm quan trọng của chủ nghĩa
Mác về sự tiêu vong của CNTB, sự cần thiết của đấu tranh giai cấp, cách mạng vô
sản và chuyên chính vô sản.
- Đồng thời đề ra những nguyên tắc của quan niệm mới về con đường và
hữu, phái giữa) ở những thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã đưa đến sự đối lập ngày
càng tăng về tư tưởng giữa một bên là những người dân chủ xã hội cách mạng,
mác xít (phái tả), với bên kia là những người dân chủ xã hội thuộc phái hữu và
phái giữa theo khuynh hướng xét lại và cơ hội. Bộ phận những người dân chủ xã
hội cách mạng, mác xít thuộc phái tả đã tách ra thành lập các đảng cộng sản, từ đó
thành lập Quốc tế cộng sản vào năm 1919, tạo thành một trào lưu mới của phong
trào công nhân - phong trào cộng sản. Bộ phận theo phái hữu đă tập hợp lại lực
lượng nhằm khôi phục lại Quốc tế II vào năm 1919 ở Geneve (Thuỵ Sĩ). Tháng
2/1921, những người dân chủ xă hội thuộc phái giữa cũng đă họp Đại hội ở Viena
(Áo), có 20 đảng và tổ chức dân chủ xã hội tham gia, lập ra Quốc tế cộng đồng lao
động (còn được gọi là Quốc tế hai rưỡi). Tháng 5/1923, các đảng dân chủ xã hội
thuộc Quốc tế II và Quốc tế hai rưỡi đã liên kết với nhau, tổ chức Đại hội tại
Hamburg (Đức), lập ra Quốc tế công nhân XHCN, phục hồi và phát triển trào lưu
dân chủ xă hội. Tổ chức quốc tế này tồn tại cho đến chiến tranh thế giới thứ II.
- Đặc điểm:
Sau khi Quốc tế II bị phá sản, phong trào công nhân quốc tế bị phân liệt
thành hai tổ chức đối lập nhau và đấu tranh gay gắt với nhau. Trào lưu dân chủ xã
hội, phân hoá sâu sắc về tư tưởng và tổ chức. Phái hữu phản bội phong trào công
nhân, đi theo giai cấp tư sản và phái tả chủ trương bảo vệ Liên Xô, chống nguy cơ
phát xít. Trong chiến tranh thế giới thứ II, trào lưu dân chủ xã hội bị khủng bố, đàn
áp của chủ nghĩa phát xít, bị tổn thất và suy yếu. Ở một số nước như Đức, Áo,
đảng dân chủ xã hội bị cấm hoạt động; ở một số nước Trung và Đông Âu nhiều
đảng dân chủ xã hội bị tan vỡ.
Các nhà lãnh đạo dân chủ xã hội thuộc phái hữu:
- Phê phán và bác bỏ các quan niệm của những người cộng sản Nga về nhà
nước chuyên chính vô sản, về xã hội hoá các tư liệu sản xuất, về nhà nước quản lý
tập trung nền kinh tế và các lĩnh vực xă hội khác...
- Họ cho rằng, các nước dân chủ tiên tiến ở châu Âu cần đi theo con đường
Ngay từ tháng 9/1944, dưới sự bảo trợ của Công đảng Anh, một số nhà dân chủ xă
hội lưu vong đă tổ chức một hội nghị nghiên cứu những vấn đề liên quan đến một
tổ chức quốc tế trong tương lai (sau chiến tranh) của các đảng dân chủ xã hội. Năm
1946, cũng tại nước Anh đă thành lập ra một Ủy ban tư vấn về vấn đề đó. Tháng
11/1947, Ủy ban Hội nghị XHCN quốc tế (Committe of the International Socialist
Confrence - COMISCO) được thành lập thay thế cho Ủy ban tư vấn, các đảng dân
chủ xã hội đều có đại diện tham gia trong đó.
Năm 1950, những người đứng đầu trào lưu dân chủ xã hội đă tổ chức Hội
nghị của COMISCO ở Đan Mạch. Tại Hội nghị này, lần đầu tiên đại diện của các
đảng dân chủ xă hội đă chính thức bàn đến khái niệm “CNXH dân chủ” cùng với
những nguyên tắc cơ bản của nó và việc xây dựng lại một tổ chức quốc tế của
phong trào dân chủ xă hội. Tháng 7/1951, tại thành phố Frankfurt (CHLB Đức) đã
diễn ra Đại hội thành lập tổ chức quốc tế mới của các đảng dân chủ xã hội, lấy tên
là Quốc tế XHCN (Socialist International - SI). Tuyên ngôn Frankfurt đã trình bày
một cách khá đầy đủ và hệ thống các nguyên tắc của CNXH dân chủ, đánh dấu
một giai đoạn hoàn toàn mới của trào lưu dân chủ xã hội, một trào lưu tư tưởng
chính trị hiện đại với tham vọng đứng trên và thay thế cả hệ thống TBCN và hệ
thống XHCN, đối lập với cả chủ nghĩa tự do - bảo thủ và CNCS.
- Đặc điểm:
Theo Tuyên ngôn Frankfurt, quan điểm của những người dân chủ xã hội,
dân chủ chính trị là tiêu đề quan trọng nhất của CNXH dân chủ. Nó không phải là
chuyên chính vô sản, mà là sự cầm quyền của nhân dân, do nhân dân thực hiện và
bảo đảm cho nhân dân tất cả các quyền tự do chính trị.
Dân chủ kinh tế được quan niệm như một hệ thống kinh tế nằm dưới sự
kiểm soát của toàn xã hội và phục vụ lợi ích của toàn xã hội thông qua các công cụ
như vai trò điều tiết của nhà nước, cơ chế thị trường, chế độ sở hữu hỗn hợp và
quyền tham quyết của các tập thể lao động.
Dân chủ xã hội được coi là mục tiêu chủ yếu của CNXH dân chủ. Nó được
Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại đã dẫn đến sự phát triển mạnh
mẽ của lực lượng sản xuất trong các nước TBCN, đồng thời đẩy các nước này lâm
vào cuộc khủng hoảng cơ cấu trầm trọng. Khủng hoảng sản xuất thừa đi đôi với
tình trạng thiếu vốn, lạm phát và thất nghiệp trầm trọng đã làm cho mâu thuẫn về
kinh tế - xã hội của CNTB càng thêm gay gắt.
- Đặc điểm:
Cuộc khủng hoảng của CNTB là nguyên nhân sâu xa dẫn tới cuộc khủng
hoảng về lý luận, tư tưởng và tổ chức của trào lưu dân chủ xã hội. Do kinh tế
khủng hoảng, đời sống nhân dân, nhất là công nhân và người lao động làm thuê
gặp nhiều khó khăn, nạn thất nghiệp tăng lên. Các chính sách và biện pháp cải cách
xã hội của những người dân chủ xă hội tỏ ra bất lực và phạm vi hoạt động của
chúng bị thu hẹp.
Trong nội bộ các đảng dân chủ xã hội, xu hướng phân hoá ngày càng tăng.
Nhu cầu thực tiễn đ̣i hỏi trào lưu dân chủ xã hội phải có đổi mới về tư tưởng và lư
luận. Trước tình hình đó, nhằm cố gắng thích ứng với những thay đổi trong tương
quan so sánh giữa lực lượng dân chủ tiến bộ với lực lượng tư bản đế quốc, nhiều
đảng dân chủ xă hội (Đức, Áo, Thụy Điển...) đã đề ra đường lối “tư tưởng mới”
với hy vọng phác hoạ ra bộ mặt mới, hiện đại hơn cho CNXH dân chủ.
Với đường lối “tư tưởng mới”, những người dân chủ xã hội lại quay trở lại
với một số di sản tư tưởng của Mác nhằm tìm ra những biện pháp cải cách chế độ
tư bản đang khủng hoảng, làm cho nó thích nghi với tình hình đã thay đổi, góp
phần giữ ổn định chế độ TBCN. Do đó, khía cạnh nổi bật của đường lối “tư tưởng
mới” là thái độ phê phán đối với CNTB. Trong việc đánh giá CNTB, phái hữu ra
sức biện hộ cho CNTB, còn phái tả và phái trung gian cho rằng trong chế độ
TBCN, các mâu thuẫn và sự phân hoá xã hội ngày một sâu sắc thêm, CNTB vẫn là
một trở ngại lớn trên con đường tiến lên của nhân loại. Để khắc phục trở ngại đó,
những người dân chủ xã hội chủ trương tiến hành các biện pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục ủng hộ kinh tế thị trường, đồng thời tạo ra một cơ chế hạn
- Đến giữa thập niên 90, Các đảng dân chủ xă hội ở hầu hết các nước Tây
Âu (13/15 nước thuộc EU, trước tiên là Anh, sau đó là Pháp, Thụy Điển, Italia,
CHLB Đức...) lại lần lượt thắng cử, trở lại cầm quyền với những quan điểm lý luận
và đường lối, chính sách mới. Các chính trị gia và các nhà nghiên cứu khoa học
chính trị phương Tây gọi lý luận đó là “con đường thứ Ba” (CNXHDC), ở CHLB
Đức, Thủ tướng Gerhard Schroeder gọi là “đường lối Trung dung mới”. Đến
những năm cuối thế kỷ XX, lý luận này được truyền bá rộng rãi trong hầu hết các
nước TBCN, cũng như các quốc gia đang phát triển theo định hướng TBCN. Lãnh
tụ các đảng dân chủ xă hội ở Anh, Đức, Pháp, Italia và thậm chí cả Tổng thống Mỹ
Bill Clinton, lãnh tụ Đảng Dân chủ đang cầm quyền ở Mỹ lúc đó, hàng năm (1998,
1999, 2000, 2002) đều tổ chức các cuộc gặp gỡ quốc tế để thảo luận các vấn đề lý
luận và thực tiễn của CĐTB (CNXHDC), coi đó là trào lưu tư tưởng lư luận chính
trị hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của nhân loại những năm đầu thế
kỷ XXI.
- Hiện nay, CNXHDC có ảnh hưởng mạnh mẽ và các đảng dân chủ xã hội
có một vai trò rất quan trọng trong đời sống chính trị ở châu Âu, đặc biệt là các
nước Tây Âu. Trong số các đảng dân chủ xă hội cầm quyền hoặc liên minh cầm
quyền, có Công đảng Anh và Đảng Dân chủ xã hội Đức (SPD) là hai đảng đạt
được những thành công nhất định. Hai đảng này trong thực tiễn cầm quyền đã áp
dụng tư tưởng của CĐTB vào việc hoạch định đường lối, chính sách phát triển đất
nước và thu được những thành tựu khá nổi bật. Điều đó lại càng làm cho những
người ủng hộ CĐTB có thêm cơ sở thực tiễn để luận chứng cho tính ưu việt, phổ
biến của tư tưởng này. Mặc dù mấy năm trở lại đây, trước những biến động lớn của
tình hình thế giới và những khó khăn trong nội bộ các nước Tây Âu, nhiều vấn đề
mới đã xuất hiện và tác động vào CĐTB, tạo ra những cản trở đối với sự phát triển
của nó, nhưng điều đó - theo nhiều công tŕnh nghiên cứu - chỉ là tạm thời. Thậm
chí, không ít nhà khoa học đă dự đoán rằng, trào lưu tư tưởng CĐTB sẽ tiếp tục
“vần vũ” thế giới trong những thập niên tiếp theo của thế kỷ XXI.
TBCN.
- CNXHDC là sự hỗn tạp về tư tưởng, biểu hiện rất đa dạng.
Các đảng, các phái theo CNXH dân chủ đều có quan niệm riêng của họ về
CNXH, về các vấn đề cải tổ xă hội theo những cái gọi là nguyên tắc của CNXH
dân chủ. Ví dụ như: “CNXH dân chủ là một lý tưởng” (E. Bernstein), “CNXH dân
chủ là CNXH không có chuyên chính” (K.Kaustky), “CNXH dân chủ ở châu Âu
có cội nguồn tinh thần trong đạo Cơ đốc giáo, trong triết học nhân văn, trong triết
học cận đại, trong học thuyết xă hội và lịch sử của Mác, trong những kinh nghiệm
của phong trào công nhân” (Cương lĩnh của Đảng Dân chủ xă hội Đức)...
=> Bản chất vẫn là một đó là sự phản bội chủ nghĩa Mác- Lê nin, phản bội
lợi ích GCCN, bênh vực bảo vệ GCTS và CNTB.
( So sánh CNXHKH với CNXHDC trên một số vấn đề: Đấu tranh giai cấp –
cách mạng xã hội; Thái độ với CNTB; Hệ tư tưởng; Tổ chức Đảng); về dân chủ;
Về con đường phát triển)....
2. Đặc điểm của CNXHDC
- CNXH dân chủ đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa Mác- Lê nin, CNXH khoa
học. CNXH dân chủ không dựa trên một cơ sở lý luận nhất quán mà mang tính
chiết trung, hỗn tạp của nhiều khuynh hướng tư tưởng. CNXH dân chủ đánh giá
mơ hồ về bản chất của giai cấp tư sản, về xã hội tư bản, ảo tưởng rằng có thể xây
dựng CNXH trong lòng xã hội tư sản, không cần lật đổ sự thống trị của giai cấp tư
sản; có thể thông qua những cải cách xã hội để xây dựng CNXH trong khi vẫn duy
trì cơ sở kinh tế, chính trị, pháp luật của CNTB.
- CNXH dân chủ phủ nhận đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, phủ nhận
và xuyên tạc những lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lê nin như nguyên lý về sứ
mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, lý luận hình thái kinh tế- xã hội, lý luận về
chuyên chính vô sản. CNXH dân chủ đưa ra những quan điểm tự do, bình đẳng,
dân chủ phi giai cấp, phi lịch sử và trừu tượng.
- Quan niệm về CNXH, CNXH dân chủ coi CNXH là một phạm trù đạo đức
thi và bạo lực vô nhân đạo.( Hoàng Minh Chính)
Họ cho rằng:
+ Khái niệm GCCN chỉ lả 1 khái niêm trừu tượng chứ không có GC thực sự
đòi xét lại sứ mệnh lịch sử của GCCN, cho đó là của trí thức "dắt tay nhau đi dưới
tấm biển chỉ đường của trí tuệ" của Hà Sĩ Phu
Có người cho rằng ở Việt nam không có mâu thuẫn GC (vì chưa có GC hoàn
chỉnh). Chỉ có >< dân tộc, đấu tranh dân tộc là động lực chủ yếu phát triển của DT
Việt nam (Mục đích gây chia rẽ đấu tranh lẫn nhau giữa các dân tộc làm tan khối
đại đoàn kết toàn dân)
Họ phủ nhận cuộc chiến đấu chống ngoại xâm của DT lả sai lầm lịch sử
( Không cần thiết) không biết tận dụng thời cơ. . .
- Họ phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản và đương lối của Đảng là
cực đoan, duy ý chí . . . đảng chỉ có 2 triệu, dân tộc gần 80 triệu người vậy mà cứ
bắt dân theo Đảng.
Dân tộc Việt nam có ý thức truyền thống dân tộc, trước kia hông có đảng, CN
Mác, dân tộc vẫn đứng vững và phát triển. . . đánh thắng Nguyên, Mông... Vì vậy
họ cho lấy CN Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng là sự áp đặt là sự học đòi, bảo thủ
trong lúc chính Phương Tây, cái nôi sinh ra CN Mác họ đã từ bỏ lâu rồi . . . .
+ Trước sự khủng hoảng toàn diện kéo dài họ khẳng định chỉ có đi theo
CNXHDC mới cứu đất nước khỏi hoạn nạn
-> Thực tiễn trên 25 năm đổi mới của Đảng cộng sản đứng vững trên lập
trường CN Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã bác bỏ hoàn toàn những quan
điểm sai lầm của CNXHDC
b.Quan điểm của Đảng ta đối với CNXHDC
- Chúng ta không phủ nhận những tìm tòi, thành tâm của 1 số người với
sựmong muốn tháo gỡ khó khăn trên con đường phát triển của XH & của 1 số
Đảng XHDC tiến bộ.
Nhưng chúng ta kiên quyết không chấp nhận quan điểm tư tưởng, lý luận và
biện pháp cải lương của CNXHDC
- Giữ vững ổn định chính trị- xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, giữ vững sự ổn định và tăng cường phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân
dân, thực hiện tốt các chính sách xã hội, công bằng xã hội; bảo vệ bản sắc văn hoá
dân tộc.
- Tăng cường hợp tác với các Đảng cộng sản và công nhân trong PTCSCNQT các nước XHCN, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nghiên cứu lý luận, tổng
kết thực tiễn, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự đoàn kết trong
PTCS-CNQT, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới.
KẾT LUẬN
CnXHDC là hệ thống lý luận của trào lưu XHDC - một trào lưu xã hội của
người lao động, ra đời trong phong trào công nhân, CNXHDC có lịch sử phát triển
lâu dài và tầm ảnh hưởng rộng lớn. Trước đây chúng ta chưa quan tâm nghiên cứu
và có thái độ thù địch, chủ yếu đánh giá những hạn chế của CNXHDC.
Nay nghiên cứu cầ nắm rõ bản chất của CNXHDC để có biện pháp phê
phán, ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực của CNXHDC, ngăn ngừa tư tưởng ngộ nhận
của một số cán bộ, đảng viên của chúng ta. Bên cạnh đó tăng cường hợp tác, trao
đổi với các đảng DCCH cầm quyền để vừa học hỏi một số thành tựu, mặt tích cực
phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH ở nước ta, vừa hợp tác tuyên truyền CNXHKH, lôi
kéo các đảng DCXH về phía mình để cùng đấu tranh chống CNTB.
Những vấn đề nghiên cứu
1. CNXH dân chủ là gì ? Đặc điểm của CNXH dân chủ hiện đại ?
2. Nguồn gốc tư tưởng và xã hội của trào lưu xã hội dân chủ hiện đại là gì?
3. Những vấn đề nguyên tắc trong đấu tranh khắc phục ảnh hưởng của
CNXH dân chủ ở nước ta hiện nay ?