Mở rộng hoạt động cho vay ngắn hạn đối với DNNQD tại Chi nhánh NH ĐT&PT Hà Nội - Pdf 27

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
Trong xu thế hội nhập và phát triển Việt Nam cần nhiều vốn để cất
cánh. Để phát triển, chúng ta cần huy động tất cả các nguồn vốn trong nước,
huy động tối đa các nguồn vốn từ nước ngoài và lo sử dụng các nguồn lực đó
cho có hiệu quả. Trong nền kinh tế thị trường có nhiều pháp nhân có nhu cầu
về vốn, trong khi đó lại có những pháp nhân khác có sẵn nguồn tài trợ. Muốn
phát triển, ta cần huy động nguồn vốn sẵn có và hướng nó về những ngành
thiếu phương tiện tài chính.
Trong những năm gần đây, theo xu hướng chung của thế giới, các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh ngày càng đóng vai trò quan trọng trong tăng
trưởng kinh tế và tạo công ăn việc làm. Ngày nay, xu hướng hội nhập, hợp tác
giữa các nước trên thế giới được coi trọng. Trước tình hình đó đặt ra cho Việt
Nam những cơ hội và thách thức mới đòi hỏi phải thiết lập một cơ cấu kinh tế
nhiều tầng, năng động. Từ thực tế cho thấy, mô hình doanh nghiệp ngoài quốc
doanh phù hợp với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, cho phép khai thác
và sử dụng hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn lực của đất nước: vốn, lao động,
tài nguyên, công nghệ,…Trên cơ sở phát huy sức mạnh toàn dân, trong hoạt
động sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh sẽ thu
hút đầu tư, cải thiện môi trường, tạo công ăn việc làm, nâng cao thu nhập và
mức sống cho dân cư, từ đó sẽ tạo động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế,
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…
Tuy nhiên, hiện nay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh gặp không ít
những khó khăn đặc biệt là về vốn. Doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào vốn
tự có của mình mà cần phải huy động thêm nguồn vốn bên ngoaì để mở rộng
sản xuất kinh doanh và tăng năng lực cạnh tranh. Do đó, để giúp các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh có điều kiện phát triển tốt thì một trong những biện
pháp quan trọng là cần phải đáp ứng nhu cầu vốn một cách nhanh chóng, kịp
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368

1.1.1 .Hoạt động cho vay của NHTM
Với các hoạt động nghiệp vụ mà ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế,
ngân hàng là một trong những trung gian tài chính có vai trò quan trọng bậc
nhất. Theo điều 20, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 đã ghi: “Ngân hàng
là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và
các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”, trong đó “Hoạt động ngân hàng
là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường
xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các
dịch vụ thanh toán”.
Hoạt động tín dụng là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất và
chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu tổng tài sản của NHTM. Theo điều 49, Luật các
tổ chức tín dụng năm 1997 cũng đã quy định:” Tổ chức tín dụng được cấp tín
dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương
phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức
khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”. Như vậy nếu phân loại hoạt
động tín dụng theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành cho vay, bảo
lãnh, chiết khấu thương phiếu, và cho thuê tài chính…
Trong đó, cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của tín dụng và cũng là
hoạt động đem lại gần 70% thu nhập của các NHTM ở nước ta hiện nay. Theo
điều 3, Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành
theo Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN, “Cho vay là một hình thức cấp tín
dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền
để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo nguyên tắc hoàn trả cả
gốc và lãi”.
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
3
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.1.2. Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM.
1.1.2.1. Vai trò đối với nền kinh tế.
Thứ nhất, ngân hàng là kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh

có khả năng thu thập, phân tích thông tin và thẩm định, đánh
giá khách hàng. Ngân hàng còn thực hiện kiểm soát và giám
sát sử dụng vốn của khách hàng với những thủ tục và quy trình
chặt chẽ.
Đối với khách hàng, áp lực phải trả nợ ngân hàng buộc họ phải
năng động, sáng tạo trong điều hành sản xuất kinh doanh, tìm
kiếm cơ hội đầu tư sinh lợi, sử dụng vốn tiết kiệm và khoa học,
luôn quan tâm đến biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh. Vì thế, khách hàng có thể thu hồi vốn, trả nợ ngân hàng
đúng hạn, giữ chữ “tín” với ngân hàng; và thuận tiện hơn trong
việc vay vốn, thậm chí là có thể thu hút vốn trên thị trường tài
chính.
Thứ ba, nghiệp vụ cho vay của NHTM thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Hoạt động tín dụng điều tiết sự dịch chuyển của vốn đầu tư
theo ngành kinh tế, do ngân hàng luôn vì mục tiêu lợi nhuận tối
đa và bảo đảm an toàn vốn nên sẽ luôn có xu hướng coi trọng
đầu tư vào những ngành có lợi thế, có khả năng sinh lợi cao và
có xu hướng phát triển tốt, đồng thời hạn chế hoặc không đầu
tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp, khó có điều kiện
phát triển. Hoạt động cho vay vận động theo hướng đó làm
việc dịch chuyển vốn diễn ra phù hợp với quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế, góp phần phát huy thế mạnh của
những ngành kinh tế mũi nhọn, tiết kiệm nguồn nhân lực xã
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
5
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
hội đi đôi với việc thực hiện chính sách phát triển có trọng tâm,
trọng điểm từ đó thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế.
Hoạt động cho vay cũng tác động đáng kể đến cơ cấu kinh tế

của mình, hoạt động tín dụng đã thể hiện vai trò của mình
trong việc thúc đẩy ngoại thương phát triển.
1.1.2.2. Đối với NHTM.
Thứ nhất, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm phần lớn thu
nhập của NHTM (khoảng 70%). Do đó, tăng cường mở rộng
hoạt động cho vay là biện pháp để tăng doanh thu hữu hiệu của
NHTM.
Thứ hai, đó cũng là công cụ cạnh tranh giữa các NHTM, nhằm
mở rộng thị phần cho vay, thu hút thêm nhiều khách hàng tiềm
năng trong nền kinh tế.
Thứ ba, góp phần tăng uy tín và quy mô cho NHTM. Việc
không ngừng mở rộng hoạt động cho vay sẽ tăng thêm thu
nhập cho NHTM, tăng nguồn vốn tự có của ngân hàng và là cơ
hội để ngân hàng tăng cường đầu tư mở rộng hoạt động của
mình.
1.2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam.
1.2.1. Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Điều 3 Luật Doanh nghiệp năm 1999 (sửa đổi năm 2005) đã định nghĩa:
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là các doanh nghiệp vốn trong nước
mà nguồn vốn thuộc sở hữu tập thể, tư nhân một người hoặc một nhóm người;
hoặc thuộc sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Bao
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
7
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
gồm các hình thức: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã.
1.2.2. Đặc điểm của DNNQD tại Việt Nam

(Nguồn: Trung tâm thông tin DN – Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
8
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Sau 6 năm thi hành Luật Doanh nghiệp, từ 1/1/2000 đến 31/12/2005 đã
có 158.153 doanh nghiệp đăng ký mới, đưa tổng số doanh nghiệp đăng ký
hoạt động theo Luật lên 203.115. Số doanh nghiệp đăng ký trung bình mỗi
ngày thời gian này bằng 3,75 lần so với trung bình hàng năm của thời kỳ 1991
– 1999. Số doanh nghiệp mới đăng ký trong 5 năm (2000 – 2005) cao gấp 3
lần so với 9 năm trước, tăng bình quân là 25%, đưa tỷ lệ bình quân số doanh
nghiệp hiện nay trên 1 vạn dân là 25. Do đó, tính đến năm 2004 doanh nghiệp
ngoài quốc doanh chiếm khoảng 91,55% tổng số doanh nghiệp hiện có.
• Về quy mô của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Mặc dù vậy, doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam vẫn
có quy mô tương đối nhỏ, chiếm 96% số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa
(DNNVV) theo tiêu chí được xác định trong Nghị định 90/2001/NĐ-CP về hỗ
trợ các DNNVV là: “DNNVV là các đơn vị kinh doanh trong nước có đăng
ký kinh doanh, có số vốn dưới 10 tỷ đồng và số lao động thường xuyên
không quá 300 người”.
Cụ thể, theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê thì đến hết năm
2004, số doanh nghiệp ngoài quốc doanh có vốn dưới 500 triệu chiếm
27,49%, số doanh nghiệp có vốn từ 500 triệu đến 1 tỷ chiếm 19,16% và số
doanh nghiệp có vốn từ 1 tỷ đến 5 tỷ chiếm 37,87%, và 15,46% là số doanh
nghiệp có vốn từ 5 tỷ trở lên. Bình quân một DNNQD có khoảng 5,03 tỷ đồng
vốn. Quy mô về vốn của các DNNQD rất nhỏ so với các doanh nghiệp khác,
chỉ bằng khoảng 2,05% so với các doanh nghiệp Nhà nước và bằng 3,83% so
với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, số vốn đầu tư
đăng ký thành lập mới và mở rộng quy mô sản xuất của các DNNQD tăng
nhanh, trong 5 năm từ năm 2001 đến 2005 đạt 293.878 tỷ đồng Việt Nam
(tương đương khoảng 18,4 tỷ USD, cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài vào

suất lợi nhuận này còn thấp hơn nhiều so với mức lãi suất tiền vay.
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
10
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
Với công nghệ lạc hậu, quy mô vốn và lao động nhỏ, các DNNQD sản
xuất ra những sản phẩm thiếu tính cạnh tranh, chưa chiếm lĩnh được thị
trường, sản xuất kinh doanh không mang lại hiệu quả…
1.2.3. Vai trò của DNNQD trong nền kinh tế.
• Đóng góp của các DNNQD vào ngân sách Nhà nước ngày càng
nhiều, từ hơn 6% đầu những năm 2000 tăng lên đến 7,5% năm 2005. Ngoài
ra, các DNNQD đã đóng góp phần tăng nguồn thu như thuế môn bài, thuế
VAT trong nhập khẩu và các loại phí khác. DNNQD phát triển là nhân tố
quan trọng kích thích và làm sống động đời sống kinh tế đất nước, tạo áp lực
cạnh tranh, thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước đổi mới hoạt động kinh
doanh, góp phần phá bỏ tính độc quyền của một số công ty nhà nước.
• Đóng góp về xuất nhập khẩu và tăng nguồn thu ngân sách, theo Bộ
Thương mại, hiện thời DNNQD trong nước đóng góp khoảng một nửa tổng
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. DNNQD là nguồn lực chủ yếu phát triển
các mặt hàng mới, mở rộng thị trường xuất khẩu. Nhiều doanh nghiệp đã
vươn lên chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu về một số mặt hàng quan trọng, ở
các địa phương, DNNQD đóng vai trò chủ yếu về xuất khẩu.
• DNNQD chính là nơi thu hút, tạo việc làm cho xã hội: đã tạo ra
khoảng 2 triệu chỗ làm mới. Sự phát triển của DNNQD không chỉ góp phần
tạo việc làm mà còn có tác dụng đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu lao động
vốn đang mất cân đối và góp phần đáng kể vào tăng trưởng kinh tế và xóa đói
giảm nghèo.
• DNNQD góp phần quan trọng trong việc tạo môi trường kinh doanh
bình đẳng, đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình hội nhập
kinh tế của Việt Nam sẽ không thực hiện được nếu không có sự tham gia của
DNNQD. Bên cạnh đó, DNNQD phát triển sẽ thúc đẩy sự phát triển của các

12
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phát triển và tránh những thiệt hại to lớn do môi trường kinh doanh tác động
lên.
• DNNQD có thể phát huy tiềm lực trong nước.
Thành công lớn của DNNQD là nắm bắt được các điều kiện cụ
thể của đất nước về tài nguyên và lao động. Đối với các doanh
nghiệp lớn, việc sử dụng các nguồn lực sẵn có tại địa phương
thường gặp khó khăn do trữ lượng tháp không đảm bảo cho các
doanh nghiệp sản xuất lớn. Ngược lại, các doanh nghiệp quy
mô vừa và nhỏ lại có lợi thế trong việc sử dụng lao động tại
địa phương và tận dụng các tài nguyên, tư liệu sản xuất sẵn có,
phát huy hết tiềm lực trong nước cho sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, đối với các nước đang trong quá trình công nghiệp
hóa – hiện đại hóa đất nước, sự phát triển DNNQD là cách thức
tốt nhất để sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu. Với lượng
vốn và trình độ kỹ thuật công nghệ của mình, DNNQD có thể
sản xuất một số mặt hàng thay thế nhập khẩu, phù hợp với sức
mua của dân chúng, góp phần ổn định đời sống dân cư, ổn định
xã hội, tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
13
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.2.4.2. Nhược điểm
Bên cạnh sự phát triển và những đóng góp trên, DNNQD Việt Nam
trong những năm qua còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém. Đó là:
• Phần lớn quy mô các doanh nghiệp nhỏ, đại đa số (trên 85%) có mức
vốn dưới 1 tỷ đồng. Trừ số doanh nghiệp vừa và lớn có công nghệ sản xuất
khá hiện đại, còn lại hầu hết là công nghệ lạc hậu, sản xuất thủ công, bán cơ
khí và cơ khí không có khả năng cạnh tranh trên thị trường . Dẫn đến tình

- Thời hạn cho vay: như định nghĩa ở trên thì các khoản cho vay
ngắn hạn có thời hạn dưới 1 năm.
- Mục đích: Hầu hết các khoản cho vay này là nhằm hỗ trợ cho việc
tăng dự trữ hàng hóa cho những nguời vay hoạt động theo mùa vụ, hoặc tài
trợ người vay về những nhu cầu vốn ngắn hạn, và phục vụ cho từng dự án.
- Nguồn hoàn trả: Các khoản vay sẽ được hoàn trả khi doanh
nghiệp thu được tiền, cụ thể là khi hàng tồn kho của người vay được bán và
các khoản phải thu của nó đã được thu hồi, hoặc ngay khi doanh nghiệp thu
được doanh thu của dự án.
- Lãi suất của khoản vay: Lãi suất được tính trên số vốn thực vay và
là lãi suất thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng của mình. Và lãi suất cho
vay ngắn hạn đối với các DNNQD thì thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài
hạn đối với các doanh nghiệp cùng loại, và thấp hơn lãi suất đối với cho vay
cá nhân cùng kỳ hạn.
Lãi suất cho vay có thể được thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng
tín dụng với một trong hai cách thức dưới đây:
 Lãi suất cho vay cố định: là mức lãi suất cho vay áp dụng trong suốt
thời hạn hiệu lực của hợp đồng tín dụng
 Lãi suất cho vay thả nổi: là mức lãi suất cho vay thay đổi theo định kỳ
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
15
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hoặc 1 năm.
Đối với các khoản vay bằng VND, lãi suất thả nổi thường
được xác định dựa trên thông báo về lãi suất của chính NHTM
hoặc là lãi suất cho vay của một nhóm các NHTM tại thời điểm
xác định phải thay đổi lãi suất.
Đối với các khoản vay bằng USD, lãi suất cho vay thả nổi
thường được xác định dựa trên thông báo về lãi suất chào cho
vay trên thị trường liên ngân hàng của một NHTM xác định tại

khách hàng có nhu cầu rút vốn, ngân hàng phải có nghĩa vụ
đáp ứng. Nếu các khoản vay không được hoàn trả đúng hạn, thì
sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng.
Bên cạnh đó, ngân hàng hoạt động vì mục tiêu tối đa hóa giá trị
tài sản của chủ, hoạt động chính của ngân hàng có thể nói là
“đi vay để cho vay”. Vì vậy, chỉ khi thu được lãi từ các khoản
tín dụng, ngân hàng mới có thể bù đắp được chí phí cho các
nguồn huy động, cũng như những chi phí hoạt động khác. Đây
là điều kiện giúp cho ngân hàng kinh doanh có hiệu quả để có
thể tồn tại và phát triển.
 Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích
Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng theo đúng mục đích
đã được thỏa thuận với ngân hàng và không được trái với các
quy định của Pháp luật. Việc giám sát các doanh nghiệp sử
dụng vốn đúng mục đích không chỉ thúc đẩy các đơn vị hoàn
thành nhiệm vụ sản xuất của mình mà còn hạn chế những rủi ro
cho ngân hàng.
Đây không chỉ là nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt
động của ngân hàng. Hiệu quả của nó là đẩy nhanh nhịp độ
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
17
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
phát triển của nền kinh tế, góp phần tạo ra nhiều khối lượng
sản phẩm, dịch vụ hơn cho xã hội…
 Ngân hàng tài trợ cho dựa trên phương án có hiệu quả
Trước khi cấp vốn cho khách hàng, ngân hàng đều yêu cầu
khách hàng trình bày phương án sử dụng vốn vay. Vì chỉ có
những phương án hoạt động kinh doanh có hiệu quả thì người
vay mới có khả năng thu hồi vốn đầu tư và lãi để trả cho ngân
hàng.

hưởng đến phần lợi nhuận giữ lại để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Nên mặc dù đây là nguồn vốn có chi phí tương đối rẻ
nhưng không phù hợp với việc sử dụng trong thời gian ngắn và khả năng huy
động nhanh để đáp ứng nhu cầu cấp thiết của hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Ngoài việc tăng nguồn vốn bằng việc phát hành cổ phiếu mới, các doanh
nghiệp có thể thu hút vốn từ việc phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, với uy tín
và quy mô vốn của các doanh nghiệp thì khó có thể tạo nên sự hấp dẫn cho
trái phiếu trên thị trường, do đó lãi suất của trái phiếu phải cao hơn so với lãi
suất tiền gửi tiết kiệm của các ngân hàng thương mại. Chi phí trả lãi cho trái
phiếu phát hành sẽ tạo nên một áp lực trả nợ lớn cho các doanh nghiệp. Cũng
như với phát hành cổ phiếu, việc tăng vốn nợ bằng phát hành trái phiếu không
phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể áp dụng được và không thể huy động
trong ngắn hạn.
Ngược lại, vay ngắn hạn ngân hàng có thể giúp các doanh nghiệp chủ
động hơn trong hoạt động kinh doanh của mình mà vẫn giữ được quyền sở
hữu doanh nghiệp. Có thể vay vốn từ ngân hàng với khối lượng linh hoạt và
thời gian nhanh chóng chính là ưu thế hơn hẳn so với hai cách gia tăng nguồn
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
19
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
vốn nợ trên. Ngoài ra, chi phí trả lãi vay ngân hàng sẽ được tính vào chi phí
hoạt động của doanh nghiệp và tạo nên một khoản tiết kiệm nhờ thuế, làm
tăng lợi nhuận sau thuế cho doanh nghiệp. Mặc dù, tỷ lệ nợ quá cao sẽ làm
ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tăng rủi ro và giảm giá
cổ phiếu. Tuy nhiên đây là nguồn có chi phí tương đối rẻ so với các nguồn
còn lại. Việc chấp nhận rủi ro trong ngắn hạn để đạt được sự phát triển trong
tương lai là một quyết định mà các doanh nghiệp nên cân nhắc.
Thứ hai, cho vay ngắn hạn của NHTM là kênh cung cấp vốn chủ yếu cho
các DNNQD để thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các DNNQD.

chất lượng cao và đa dạng về mẫu mã chủng loại, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu
của xã hội.
Thứ ba, cho vay ngắn hạn giúp các DNNQD sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Vai trò này bắt nguồn từ chức năng giám sát của NHTM với tư cách là
người cho vay đối với các DNNQD. Các NHTM chỉ cho vay sau khi đã sàng
lọc cẩn thận khách hàng của mình từ khâu thẩm định hồ sơ của doanh nghiêp
và ngân hàng phải thấy rõ được hiệu quả món vay, năng lực tài chính lành
mạnh và có năng lực quản trị, có khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng.
Ngân hàng cũng kiểm soát chặt chẽ khách hàng trong quá trình sử dụng món
vay vào đúng mục đích, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất cho
vay của ngân hàng thì mới bảo đảm có lãi sau khi hoàn trả nợ cho ngân hàng.
Ngân hàng còn đóng vai trò tư vấn giúp các doanh nghiệp xác định phương
hướng sản xuất kinh doanh phù hợp, hiệu quả, những mặt yếu kém và biện
pháp khắc phục để hạn chế tối đa rủi ro có thể xẩy ra.
Mặt khác, áp lực phải trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng sẽ tạo nên động
lực để các doanh nghiệp phải sử dụng món vay có hiệu quả nhất để cao năng
suất và làm gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Áp lực phải trả nợ cũng làm
các doanh nghiệp phải cân nhắc kỹ lưỡng hơn trước khi đưa ra các quyết định
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
21
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
mới, giảm thiểu các phương án có tính rủi ro cao. Duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh tốt, trả nợ đúng hạn còn là mục tiêu của các doanh nghiệp để có
thể tạo lập mối quan hệ lâu dài với ngân hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, sự cạnh tranh là động lực để phát triển nền
kinh tế. Các doanh nghiệp kém hiệu quả sẽ bị phá sản, chỉ có các doanh
nghiệp kinh doanh có lãi mới có khả năng đứng vững trên thị trường. Do đó
các doanh nghiệp luôn phải cạnh tranh với nhau để có thể tồn tại, phát triển và
khẳng định vị thế của mình. Các DNNQD để có thể hoạt động hiệu quả, tăng
cao giá trị tài sản của chủ chỉ khi các doanh nghiệp phát huy tối đa tính năng

khách hàng tiềm năng. Số lượng lớn của DNNQD thực sự sẽ là một thị trường
đầy tiềm năng cho ngân hàng.
Thứ hai, cho vay ngắn hạn đối với các DNNQD là hoạt động làm giảm rủi
ro cho NHTM.
Phần lớn nguồn vốn của ngân hàng có được là từ huy động tiền gửi tiết
kiệm trong dân cư. Nguồn vốn này chủ yếu có kỳ hạn ngắn dưới 12 tháng.
Ngân hàng phải đáp ứng khả năng chi trả ngay khi khách hàng có nhu cầu rút
tiền. Vì thế sẽ tạo nên rủi ro thanh khoản cao nếu ngân hàng sử dụng nguồn
ngắn hạn này để đầu tư dài hạn. Sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn huy động
và nguồn sử dụng không chỉ làm tăng thu nhập mà còn là biện pháp giảm tối
đa rủi ro cho hoạt động của ngân hàng, nâng cao hiệu quả hoạt động sử dụng
nguồn vốn của NHTM.
Chính vì vậy, mở rộng hoạt động cho vay đối với các DNNQD không
chỉ mang lại lợi ích cho chính các NHTM mà còn có còn có tác dụng to lớn
thúc đẩy sự phát triển của các DNNQD nói riêng, và của cả nền kinh tế quốc
dân nói chung.
1.3.3. Các loại hình cho vay ngắn hạn đối với DNNQD của NHTM.
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
23
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel : 0918.775.368
1.3.3.1. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay.
1.3.3.1.1. Cho vay mua hàng dự trữ.
Các khoản cho vay này chủ yếu được sử dụng để tài trợ cho
việc mua hàng dự trữ như nguyên liệu thô hoặc hàng hóa
(thành phẩm).
Các khoản cho vay này thường tận dụng “chu kỳ tiền mặt”
thông thường trong một hãng kinh doanh. Do vậy, kỳ hạn của
khoản vay bắt đầu được tính từ khi doanh nghiệp cần vốn để
đáp ứng yêu cầu mua hàng, kết thúc (có thể trong vòng từ 60
đến 90 ngày) khi doanh nghiệp thu được tiền bán hàng và nhập

cho các doanh nghiệp mua chứng khoán mới và duy trì danh
mục đầu tư chứng khoán hiện có cho tới khi các chứng khoán
này được bán hoặc đến hạn thanh toán. Các khoản cho vay này
có chất lượng cao do thường được đảm bảo bằng chứng khoán
chính phủ mà doanh nghiệp nắm giữ. Thêm vào đó, nhiều
khoản vay có kỳ hạn ngắn - chỉ là vay qua đêm hoặc vài ngày,
nhờ đó ngân hàng có thể nhanh chóng thu hồi vốn hoặc cho
vay các khoản mới với lãi suất cao hơn nếu thị trường tín dụng
trở nên căng thẳng.
Ngân hàng còn cho các doanh nghiệp vay để hỗ trợ cho hoạt
động bảo lãnh phát hành trái phiếu, cổ phiếu công ty và các
giấy nợ của chính phủ. Việc bảo lãnh phát hành chứng khoán
diễn ra khi ngân hàng giúp đỡ khách hàng trong việc mua lại
các công ty khác, phát hành chứng khoán lần đầu, phát hành
thêm cổ phiếu mới để tăng quy mô vốn kinh doanh hiện có,
Khæng ThÞ Hµ Linh Líp: Ng©n hµng 45B
25

Trích đoạn Định hướng hoạt động cho vay đối với các DNNQD của NH Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng đối vớ Thực hiện tốt công tác Marketing ngân hàng Xây dựng hệ thống thông tin
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status