Giải pháp để kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay - Pdf 27


i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY Chuyên ngành: Kinh tế tài chính – ngân hàng
Mã số: 60.31.12 LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN TẤN HOÀNG TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2010

ii
LỜI CAM ĐOAN

Họ và tên: Trần Quốc Hưng

CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT 5
1.1. Các quan điểm về lạm phát – đo lường lạm phát 5
1.1.1. Các quan điểm về lạm phát 5
1.1.2. Đo lường lạm phát 6
1.2. Các loại lạm phát 8
1.2.1. Lạm phát vừa phải 9
1.2.2. Lạm phi mã 9
1.2.3. Siêu lạm phát 9
1.3. Nguyên nhân gây ra lạm phát 10
1.3.1. Lạm phát cầu kéo 10
1.3.2. Lạm phát chi phí đẩy 12
1.4. Tác động của lạm phát 14
1.4.1. Tác động tich cc 14
1.4. 2. Tác động tiêu c
c 14
1.5. Kinh nghiệm kiểm soát lạm phát ở một số nước trên thế giới 17
1.5.3 Kim soát lạm phát ở Hàn Quốc 17
1.5.4. Kiêểm soát lạm phát ở Nhật Bản 18

iv
1.5.5. Kiểm soát lạm phát ở Thái Lan 18
1.5.6. Kiểm soát lạm phát ở Trung Quốc 19
1.6. Các nhóm giải pháp kiểm soát lạm phát ở các nước và bài học rút ra
cho Việt Nam 20
1.6.1. Các nhóm giải pháp kiểm soát lạm phát ở các nước 20
1.6.2. Bài học kiểm soát lạm phát rút ra cho Việt Nam 22
Kết luận chương I 23
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG

vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AFTA Khu vực mậu dòch tự do ASEAN
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
CSTT Chính sách tiền tệ
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DTBB Dữ trữ bắt buộc
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FED Cục dự trữ liên bang Mỹ
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR Tỷ lệ thu nhập tăng thêm trên đầu tư
IPO Phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng
LT-TP Lương thực thực phẩm
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTM Ngân hàng thương m
NHTW Ngân hàng trung ương
NSNN Ngân sách nhà nước
OTC Thò trường phi tập trung
TCTD Tổ chức tín dụng
VND Đồng Việt Nam
XDCB Xây dựng cơ bản
XNK Xuất nhập khẩu
USD Đô la Mỹ
WTO Tổ chức thương mại thế giới - 1 -
MỞ ĐẦU

- Nghiên cứu về tình hình kinh tế - xã hội của nước ta trong những năm
qua.
- Nghiên cứu tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm qua, những
tác động của lạm phát đến tình hình kinh tế xã hội của nước ta và những biện
pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
3.1. Phương pháp luận:
Do vấn đề lạm phát có liên quan mật thiết đến nhiều vấn đề khác như tỷ
giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, thất nghiệp, cán cân thanh toán… thuộc nhiều
lónh vực khác nhau như tài chính Nhà nước, tín dụng ngân hàng… nên khi nghiên
cứu lạm phát phải đặt trong mối quan hệ tương hỗ qua lại giữa các yếu tố, lónh
vực trên. Do vậy, phương pháp luận chủ đạo của luận văn là vận dụng phép duy
vật biện chứng và phép duy vật lòch sử.
Tuy nhiên, vận dụng phương pháp nghiên cứu như thế nào đi nữa thì cũng
không thể xa rời, thoát ly khỏi thực tiễn. Do vậy, phải căn cứ vào tình hình thực
tiễn kinh tế - xã hội và hướng phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam. Do vậy,
phương pháp luận của luận văn là kết hợp lý luận và thực tế.
3.2. Phương pháp kỹ thuật
Luận văn đi vào thu thập các số liệu về lạm phát, tăng trưởng kinh tế, tỷ
giá hối đoái, lãi suất, chỉ số giá tiêu dùng… và các số liệu cần thiết khác cho
nghiên cứu. Những số liệu này được thu thập trên các phương tiện thông tin đại

- 3 -
chúng, đặc biệt là từ các bộ, ban, ngành. Dựa trên số liệu thống kê có được, luận
văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hồi quy, để xử lý và biểu diễn
số liệu có được theo các nội dung cần thiết. Để có thể thấy được vấn đề nghiên
cứu có thể thay đổi như thế nào qua thời gian, luận văn sử dụng phương pháp so
sánh - đối chiếu nhằm xem xét vấn đề trong mối tương quan, so sánh đối chiếu
giữa những thời kỳ khác nhau.
4. Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Chương III: GIẢI PHÁP ĐỂ KIỂM SOÁT LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
- 5 -
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ LẠM PHÁT

1.1 CÁC QUAN ĐIỂM VỀ LẠM PHÁT - ĐO LƯỜNG LẠM PHÁT
1.1.1 Các quan điểm về lạm phát
Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ đối với một nền kinh tế và hầu hết
chúng ta đều có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát tuỳ theo mức độ
khác nhau. Cho đến thời điểm này, nhiều nhà kinh tế học đã đưa ra các khái
niệm về lạm phát. Song, chúng ta vẫn chưa được thống nhất hoàn toàn về lạm
phát. Có người tiếp cận lạm phát theo những nguyên nhân của nó, có người tiếp
cận lạm phát theo hướng tập trung vào những ảnh hưởng của lạm phát. Có thể kể
ra một số quan điểm về lạm phát rất khác nhau như sau:
1.1.1.1 Luận thuyết “Lạm phát lưu thông tiền tệ”

Hai quan niệm này tuy khác nhau về nguyên nhân nhưng lại thống nhất về
kết quả lạm phát làm cho giá cả hàng hoá gia tăng.
1.1.2 Đo lường lạm phát
1.1.2.1 Cách đo lường lạm phát trên thế giới
Ở Mỹ, cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) chọn chỉ số trượt giá tổng tiêu dùng
cá nhân làm cơ sở cho các quyết đònh của mình. Chỉ số này rộng hơn CPI và
không bò ảnh hưởng bởi sự thay đổi thói quen tiêu dùng trong dân chúng nên nó
là thước đo rất tốt cho tình trạng lạm phát hiện thời.

- 7 -
Với đa số các nước khác, NHTW thường sử dụng CPI đã được hiệu chỉnh
yếu tố mùa vụ vì không có được số liệu trược giá tổng tiêu dùng cá nhân tốt như
của Mỹ.
FED và môt số NHTW của c, New Zealand, Nhật Bản loại bỏ một số
loại hàng hóa có độ biến thiên lớn (lương thực, năng lượng…) ra khỏi hàng hóa
tính CPI lạm phát cơ bản. Lập luận của những ngân hàng này là những thành
phần này mặc dù có độ dao động lớn nhưng về lâu dài không làm ảnh hưởng đến
xu hướng chung của lạm phát. Ngoài ra sự biến động của những yếu tố này
thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và tầm ảnh hưởng của NHTW.
1.1.2.2 Cách đo lường lạm phát của Việt Nam
Lạm phát đươc đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá bán lẻ
của một lượng lớn các hàng hóa và dòch vụ trong môt nền kinh tế. Giá cả của các
loại hàng hóa và dòch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra mức giá cả trung bình
gọi là mức giá trung bình của tập hợp các sản phẩm. Chỉ số giá cả là tỷ lệ mức
giá trung bình ở thời điểm hiện tại đối với mức giá turng bình của nhóm hàng
tương ứng ở thời điểm gốc. Tỷ lệ lạm phát thể hiện qua chỉ số giá cả, là tỷ lệ
phần trăm mức tăng của mức giá trung bình hiện tại so với mức giá trung bình ở
thời điểm gốc.
Lạm phát được đo lường bằng tỷ lệ lạm phát, là suất tăng của mức giá
tổng quát theo thời gian. Hai thước đo thông dụng phản ánh mức tổng quát là chỉ

dư thừa tổng quát, lạm phát cung, lạm phát chi phí, lạm phát cơ cấu, lạm phát
nhập khẩu, lạm phát tài chính - tín dụng, lạm phát hệ thống bốn yếu tố.
Căn cứ vào tốc độ lạm phát, lạm phát được chia thành 03 loại như sau: - 9 -
- Lạm phát vừa phải
- Lạm phát phi mã
- Siêu lạm phát
1.2.1 Lạm phát vừa phải (Reasonable Inflation)
Mức độ tăng của giá cả cao hơn từ trên vài % đến mức lớn hơn không
nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm được gọi là lạm phát vừa phải
hay lạm phát kiểm soát được. Đối với loại này thì tuỳ theo chiến lược và chiến
thuật phát triển kinh tế mỗi thời kỳ mà các Chính phủ có thể chủ động đònh
hướng mức không chế trên cơ sở duy trì một tỷ lệ lạm phát là bao nhiêu để gắn
với một số mục tiêu kinh tế khác: Kích thích tăng trưởng kinh tế, tăng cường xuất
khẩu và giảm tỷ lệ thất nghiệp trong các năm tài khoá nhất đònh.
1.2.2 Lạm phát phi mã
Mức độ tăng của giá cả hàng hoá lúc này cũng giống như “Một con ngựa
bất kham đang tung vó để chạy”. Nhìn chung lạm phát phi mã duy trì trong thời
gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng. Trong bối cảnh đó,
đồng tiền sẽ mất giá nhanh, cho nên mọi người chỉ giữ lượng tiền tối thiểu vừa
đủ cho giao dòch hàng ngày. Mọi người có xu hướng tích trữ hàng hoá, mua bất
động sản, chuyển sang sử dụng vàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện
thanh toán cho các giao dòch lớn và tích luỹ của cải.
Khi lạm phát phi mã xảy ra, sản xuất bò đình trệ, nền tài chính bò phá hoại
và nếu không có biện pháp thích hợp để “ghìm chân chú ngựa” thì nền kinh tế sẽ
dễ dàng rơi vào tình trạng siêu lạm phát.
1.2.3 Siêu lạm phát (Hyperinflation)
Siêu lạm phát là lạm phát xảy ra ở mức độ lớn hơn lạm phát phi mã. Siêu

- 11 -
Nếu gọi tổng cầu là AD thì AD = C + I + G + X – M
Trong đó:
C: Chi tiêu gia đình
G: Chi tiêu Chính phủ
I: Đầu tư nền kinh tế
X: Nhu cầu hàng hóa cho xuất khẩu
M: Lượng hàng hóa nhập khẩu
Tổng cầu tăng lên có thể do một số nguyên nhân sau:
- Chi tiêu của Chính phủ cho an ninh quốc phòng, tăng các khoản đầu tư
của Chính phủ làm tăng tổng cầu.
- Thâm hụt ngân sách kéo dài và được đài thọ bằng cách vay mượn ở
trong nước, ngoài nước hoặc NHTW, NHTW ứng trước cho NSNN tức là NHTW
đã phát hành tiền qua ngõ Chính phủ, vì vậy khối lượng tiền tệ lưu thông tăng.
Vay nước ngoài cũng làm khối lượng tiền tệ tăng. Vay trong nước khi trả mà thu
không đủ chi cũng phải phát hành và làm cho khối lượng tiền tệ tăng. Khối lượng
tiền tệ tăng làm cho tổng chi tiêu bằng tiền tăng.
- Chi tiêu dùng của các hộ gia đình tăng do mức thu nhập tăng hoặc được
Chính phủ giảm thuế, hoặc chế độ an sinh xã hội hay bảo hiểm tốt nên quyết
đònh cắt giảm tiết kiệm để chi tiêu, hoặc Chính phủ tăng trợ cấp.
- Tâm lý thích tiêu dùng hay tiết kiệm của dân chúng đưa đến sự gia tăng
tốc độ lưu thông tiền tệ. Nếu dân chúng có khuynh hướng thích tiêu dùng, tốc độ
lưu thông tiền tệ gia tăng.
- Đầu tư của các doanh nghiệp tăng lên do dự đoán về triển vọng phát
triển kinh tế trong nước và cả ngoài nước hay do lãi suất giảm.

- 12 -
- Do chính sách tiền tệ mở rộng tạo nên điều kiện cho các doanh nghiệp,
người dân dễ tiếp cận nguồn vốn, có thể vay dễ dàng hơn, vay nhiều hơn dẫn
đến nhu cầu chi tiêu nhiều hơn.

là hàng tiêu dùng trực tiếp) hoặc tác động gián tiếp thông qua việc làm tăng chi
phí sản xuất (nếu là đầu vào của quá trình sản xuất). Giá hàng nhập khẩu tăng
lên có thể do lạm phát của nước ngoài cao làm cho giá nguyên liệu ở nước xuất
khẩu tăng, hay do đồng nội tệ bò mất giá so với đồng tiền của những nước có
quan hệ mậu dòch…
- Do thuế suất tăng lên làm ảnh hưởng tới mức sinh lời của các nhà đầu tư
do vậy đẩy giá cả tăng lên. Để duy trì mức sinh lời mong muốn, hoặc các doanh
nghiệp tăng tỷ lệ lợi nhuận bằng biện pháp tăng giá bán hàng hóa sẽ làm cho giá
cả tăng, việc tăng giá trong trường hợp này mang tính bất hành chính tích cực
nhằm duy trì lợi nhuận ở mức mong muốn. Việc này thường xảy ra trong điều
kiện độc quyền. Một số nước gọi là “lạm phát hành chính”.
Như vậy, một lần nữa khi phân tích về lạm phát cầu kéo và lạm phát chi
phí đẩy đều cho thấy lạm phát xảy ra sẽ làm cho giá cả hàng hóa tăng lên. Trong
khi phân tích về các loại lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, các nhà kinh tế
thừa nhận rằng không phải lạm phát tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế phụ
thuộc vào mức độ của nó, song nhìn chung khi lạm phát cao xảy ra nó thường để
lại, không nhiều thì ít, những hậu quả cho nền kinh tế.
- 14 -
1.4 TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
Lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đối với tốc độ tăng trưởng
kinh tế thông qua nhiều kênh khác nhau, với mức độ ảnh hưởng tổng thể khác
nhau đáng kể phụ thuộc vào cơ cấu thể chế (cả Nhà nước và tư nhân) của nền
kinh tế, phụ thuộc vào khả năng thích nghi với mức lạm phát hiện hành và khả
năng dự báo lạm phát.
1.4.1 Tác động tích cực
Lạm phát được xem là giúp tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến
khích huy động vốn và tăng tính linh hoạt giá cả. Tỷ lệ lạm phát thấp có thể giúp

hoảng kinh tế và trật tự kinh tế bò rối loạn.
Trong lónh vực đầu tư, sự biến động bất thường của lạm phát gây khó khăn
cho việc xác đònh mức sinh lợi chính xác của các khoản đầu tư, khiến cho các
nhà đầu tư ngần ngại khi tiến hành đầu tư, nhất là đầu tư vào các dự án dài hạn,
làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế.
Trong lónh vực lưu thông phân phối, giá cả hàng hóa tăng đã gây nên tình
trạng đầu cơ tích trữ hàng hóa vì thế làm mất cân đối giả tạo quan hệ cung cầu
làm cho lónh vực lưu thông bò rối loạn.
1.4.2.2 Lạm phát làm cho đời sống dân cư gặp khó khăn
Khi lạm phát tăng lên, tổng thu nhập danh nghóa tăng lên, giá cả hàng hóa
tăng, trong khi thu nhập không tăng, hoặc tăng chậm (đặc biệt là những người
làm công ăn lương) ngày càng gặp khó khăn. - 16 -
1.4.2.3 Lạm phát làm rối loạn hệ thống tiền tệ
Trong lónh vực tiền tệ tín dụng, lạm phát làm cho sức mua đồng tiền giảm,
lưu thông tiền tệ diễn biến khác thường, tốc độ lưu thông của tiền tệ tăng lên
một cách đột biến càng làm cho sức mua của đồng tiền giảm xuống nhanh chóng
hơn. Hoạt động của hệ thống tín dụng ngân hàng rơi vào tình trạng khủng hoảng,
do nguồn tiền gửi trong xã hội bò sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bò phá
sản do mất khả năng thanh toán và thua lỗ trong kinh doanh. Tình hình đó làm
cho hệ thống tiền tệ bò rối loạn và không thể kiểm soát nổi.
1.4.2.4 Lạm phát làm xấu đi tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế
Nếu tỷ lệ lạm phát trong nước cao hơn tỷ lệ lạm phát nước ngoài (có quan
hệ mậu dòch) thì giá cả hàng hóa trong nước trở nên mắc hơn so với giá cả hàng
hóa nước ngoài, do đó làm giảm xuất khẩu, tăng nhập khẩu, làm xấu đi tình
trạng của tài khoản vãng lai. Tỷ lệ lạm phát cao cùng với bội chi tài khoản vãng
lai có thể tạo nên tâm lý trông đợi một sự giảm giá của đồng nội tệ so với ngoại
tệ tạo nên áp lực tăng tỷ giá, tỷ giá tăng càng đẩy mức giá cả chung tăng lên.

ra chính sách phù hợp.
- Tăng cường điều tiết nền kinh tề vó mô. Theo đó, Chính phủ và cơ quan
tài chính sẽ điều chỉnh phù hợp chính sách tiền tệ, kiểm soát thò trường ngoại
hối.
- Miễn giảm thuế, tăng cường trợ cấp cho những gia đình có thu nhập
thấp, mở rộng phạm vi hỗ trợ cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp thông qua các
quỹ hỗ trợ tài chính cho giáo dục, hỗ trợ phúc lợi, miễn giảm thuế. Đồng thời

- 18 -
khuyến khích doanh nghiệp tạo thêm cơ hội việc làm cho những người nghèo
trong xã hội, sử dụng ngân sách chính phủ giúp giảm bớt áp lực của doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
- Ngăn chặn và xử lý nghiêm những hành vi bán phá giá không chính
đáng, trọng điểm là những hành động lũng đoạn giá cả, tăng cường giám sát các
hành vi tăng giá cao các sản phẩm như dầu mỏ, lương thực, phòng ngừa những
giao dòch không minh bạch thông qua lợi dụng thò trường và đòa vò chính trò.
1.5.2 Kiểm soát lạm phát ở Nhật Bản
Nhật Bản luôn là một trong những quốc gia trên thế giới ổn đònh về giá cả
các loại hàng bán lẻ và cách làm dẫn đến sự thành công đó là:
- Coi trọng tính ổn đònh trong việc cung cấp các sản phẩm cần thiết cho
cuộc sống.
- Chính phủ kiểm soát khâu lưu thông và đưa ra mức giá hàng hóa, kiểm
soát, điều tiết hiệu quả việc sản xuất và khâu thò trường. Hiện nay ở một số nơi
đã xây dựng các trung tâm cung cấp sản phẩm hàng bán lẻ quy mô lớn để tiện
cho Chính phủ trong việc kòp thời, nắm bắt tình hình, tạo cơ sở nhanh chóng ổn
đònh giá cả.
- Xây dựng, kiện toàn hệ thống mạng thông tin, kòp thời công khai các
thông tin về thò trường để phòng ngừa lạm phát và các hành động cạnh tranh
không lành mạnh.
1.5.3 Kiểm soát lạm phát ở Thái Lan

Trích đoạn Đánh giá các biện pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong thờ Xét trên góc độ cầu kéo Xét trên góc độ chi phí đẩy Các giải pháp kiểm soát lạm phát ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status