LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan tất cả nội dung của Luận văn này hoàn toàn được hình thành
và phát triển trên quan điểm của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS. Phạm Quang. Các số liệu và kết quả có được trong Luận văn tốt nghiệp là
hoàn toàn trung thực.
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hồng
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Phạm Quang, đã tận tình hướng dẫn
khoa học, quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực
hiện luận văn tốt nghiệp này.
Em xin cảm ơn các thầy, các cô trong Viện Kế toán - Kiểm toán, Viện Đào
tạo Sau đại học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã quan tâm dạy bảo, giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin cảm ơn các Ban Giám hiệu, Phòng Tài vụ, Phòng Quản lý Khoa học
& Quan hệ Quốc tế Trường Đại học Tây Bắc, bạn bè, đồng nghiệp và người thân
đã tạo điều kiện cho tôi về mọi mặt trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
tốt nghiệp.
Tác giả
Nguyễn Thị Mai Hồng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
xu hướng phát triển đó. Với bề dày truyền thống 52 năm xây dựng và phát triển
trên cơ sở Trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc, Trường đã từng bước mở rộng
ngành nghề đào tạo với mục tiêu phấn đấu trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân
lực, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ hàng đầu ở khu vực Tây Bắc.
Trường Đại học Tây Bắc là đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo một phần
chi phí hoạt động thường xuyên .Trong thời gian qua, cơ chế quản lý tài chính của
Trường Đại học Tây Bắc đã từng bước được đổi mới phù hợp với yêu cầu phát
triển của nền kinh tế xã hội theo định hướng ngày càng nâng cao quyền tự chủ, tự
chịu trách nhiệm về tài chính. Thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP về giao quyền
tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập, Trường có quyền tự chủ tài chính ngày
càng cao trong việc sử dụng nguồn ngân sách nhà nước được giao, được tự chủ
trong việc khai thác và sử dụng các nguồn thu hợp pháp, phát huy truyền thống mở
rộng quy mô đào tạo, đa dạng hóa các loại hình đào tạo, đào tạo gắn với nhu cầu
xã hội, tăng nguồn tài chính cho nhà trường, tăng cường cơ sở vật chất, nâng cao
thu nhập, cải thiện đời sống cho giáo viên, cán bộ. Đổi mới cơ chế hoạt động của
1
đơn vị sự nghiệp công lập, thúc đẩy phát triển hoạt động sự nghiệp có thu, Nhà
trường đã tăng cường hoàn thiện công tác tổ chức quản lý tài chính. Công tác quản
lý tài chính trong nhà trường được xác định là một khâu vô cùng quan trọng trong
việc thúc đẩy các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực
có chất lượng cao của nhà trường. Công tác kế toán đã thực hiện việc thu thập,
phản ánh, xử lý và tổng hợp thông tin về các loại tài sản, tình hình thanh toán,
nguồn kinh phí được cấp, được hình thành và tình hình sử dụng các nguồn thu hợp
pháp tại đơn vị theo đúng Chuẩn mực , Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp có
thu và theo Quy chế chi tiêu nội bộ của Trường. Công tác chứng từ kế toán được
xác định là khâu đầu tiên, quan trọng nhất của kế toán. Mọi nghiệp vụ phát sinh
trong các đơn vị hành chính – sự nghiệp đều phải được phản ánh vào chứng từ
theo đúng mẫu quy định, trong đó phải được ghi chép đầy đủ, kịp thời các yếu tố,
các tiêu thức và theo đúng quy định về phương pháp lập của từng loại chứng từ.
Hệ thống chứng từ kế toán tại nhà trường đã tuân thủ chế độ kế toán hành chính sự
luận văn như:
Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Nam Thanh năm 2004 về “Hoàn
thiện tổ chức hạch toán kế toán trong các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ”;
Luận án Tiến sỹ của tác giả Lê Kim Ngọc năm 2009 về “Hoàn thiện tổ
chức hạch toán kế toán trong các cơ sở y tế nhằm tăng cường quản lý tài chính
ngành y tế Việt Nam’’;
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà năm 2008 về “Hoàn thiện
tổ chức hạch toán kế toán nhằm tăng cường công tác tài chính trong các trường Đại
học Dân lập trên địa bàn thành phố Hà Nội”;
Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai năm 2008 về “Hoàn
thiện tổ chức kế toán thu chi trong các trường đại học công lập thực hiện cơ chế tự
chủ tài chính”;
Luận văn thạc sỹ của tác giả Lê Thị Huyền năm 2010 về “Hoàn thiện tổ
chức kế toán chi thường xuyên tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân”;
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đặng Thị Thu Huệ năm 2010 về “Hoàn
thiện tổ chức hạch toán kế toán với tăng cường kiểm soát nội bộ tại Trường Đại
học Tây Bắc”;
Luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Thu Liên năm 2011 về “Hoàn thiện
tổ chức công tác kế toán tại Trường Đại học Vinh”;
Bài viết của Thạc sỹ Vũ Thị Sen Khoa Kinh tế Trường Đại học Tây Bắc
“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán với việc
tăng cường kiểm soát nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp công lập”
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Trương Thị Ngọc Anh năm 2011 về “Hoàn
3
thiện chứng từ kế toán tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Mỏ và Công nghiệp –
VINACOMIN”…
Tất cả các đề tài tài trên đã góp phần nghiên cứu sâu hơn về mặt lý
luận và phân tích được thực trạng tại các đơn vị khảo sát. Tuy nhiên, trong các
luận văn chủ yếu chỉ mới trình bày nhiệm vụ, nguyên tắc, nội dung tổ chức hạch
toán kế toán nói chung, mô tả thực trạng kế toán tại các đơn vị khảo sát, hoàn
trò, nội dung chứng từ kế toán, phương pháp lập , trách nhiệm ghi chép chứng từ
kế toán, nguyên tắc tổ chức hệ thống chứng từ kế toán cũng như quá trình luân
chuyển, lưu trữ, bảo quản, huỷ chứng từ kế toán. Đồng thời vận dụng phương pháp
phân tích, tổng hợp, so sánh để phân tích thực trạng hệ thống chứng từ kế toán tại
Trường Đại học Tây Bắc. Cụ thể:
- Quan sát trực tiếp tổ chức bộ máy kế toán, quy trình trình luân chuyển, lưu
trữ, bảo quản, huỷ chứng từ kế toán tại Phòng Tài vụ Trường Đại học Tây Bắc.
- Phương pháp khảo cứu: thu thập tài liệu chứng từ kế toán của đơn vị.
Tuy nhiên lượng chứng từ kế toán của đơn vị nhiều nên tác giả chỉ tiến hành
khảo sát chọn mẫu tuỳ thuộc vào quy mô và tính chất hoạt động của đơn vị
theo các chỉ tiêu về lao động tiền lương, vật tư, tiền tệ, tài sản cố định, và các
chứng từ khác.
- Phỏng vấn trực tiếp: dựa trên những chứng từ khảo sát để biết được những
người liên quan. Từ đó tác giả gặp gỡ trực tiếp hoặc qua điện thoại, phỏng vấn
những người trực tiếp liên quan đến nghiệp vụ kinh tế tài chính.
- Hỏi ý kiến chuyên gia: hỏi ý kiến kế toán lâu năm, giáo viên hướng dẫn
luận văn thạc sỹ.
- So sánh, phân tích dữ liệu: so sánh, phân tích việc vận dụng hệ thống
chứng từ kế toán trên cơ sở hệ thống chứng từ bắt buộc và hệ thống chứng từ
hướng dẫn có phù hợp với Quyết định số 19/2006/QĐ –BTC ngày 30 tháng 03
năm 2006 và Thông tư số 185/2010/ TT- BTC ngày 15 tháng 11 năm 2010
hướng dẫn bổ sung Chế độ kế toán hành chính sự nghiệp từ đó tìm và phân tích
ưu nhược điểm của hệ thống chứng từ kế toán tại Trường Đại học Tây Bắc để
nghiên cứu tìm giải pháp hoàn thiện.
Để có đầy đủ thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu tác giả thu thập
nguồn dữ liệu từ :
- Các website liên quan như : www.taybacuniversity.edu.vn, , infotv.com,
thuvien.net, ketoan.com, www.moet.gov.vn, www.neu.edu.vn, www.hvtc.edu.vn, …
- Để tìm hiểu các vấn đề có tính chất lý luận như khái niệm, định nghĩa,
5
chuyển, lưu trữ chứng từ kế toán khoa học, hợp lý nhằm thu thập đầy đủ thông tin,
có độ chính xác cao về tình hình tiếp nhận và sử dụng kinh phí, phục vụ kịp thời
cho kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành các định mức chi tiêu và làm căn cứ để ghi
6
sổ kế toán.
- Luận văn giúp cho bản thân tác giả hiểu sâu sắc hơn về vấn đề nghiên cứu,
góp phần quản lý và sử dụng hợp lý tài sản, tăng cường quản lý tài chính đưa công
tác chứng từ kế toán vào nề nếp và duy trì kỷ cương trong việc thực hiện các khâu
về lựa chọn chứng từ, trình tự lập và luân chuyển chứng từ, kiểm tra chứng từ, sử
dụng ghi sổ chứng từ, bảo quản và lưu trữ chứng từ.
1.8. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Lý luận chung về chứng từ kế toán trong các đơn vị hành chính
sự nghiệp có thu.
Chương 3: Phân tích thực trạng chứng từ kế toán tại Trường Đại học Tây Bắc
Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, kiến nghị, giải pháp và kết luận.
7
CHƯƠNG 2
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG TỪ KẾ TOÁN TRONG
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP
2.1. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp ảnh hưởng đến chứng từ kế toán
2.1.1. Đơn vị sự nghiệp và phân loại đơn vị sự nghiệp
*Khái niệm đơn vị sự nghiệp
Đơn vị sự nghiệp là một loại hình đơn vị được Nhà nước quyết định thành
lập, giao thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hoặc quản lý Nhà nước
theo ngành, nguồn kinh phí để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các đơn vị hành chính
sự nghiệp là Ngân sách nhà nước cấp hoặc được bổ sung từ các nguồn thu khác.
Đặc trưng cơ bản nhất của các đơn vị hành chính sự nghiệp là được đáp
ứng chi phí trong quá trình hoạt động và thực hiện những nhiệm vụ chính trị
được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc không
cấp từ Trung ương đến địa phương, thuộc các cấp chính quyền, các ngành, các lĩnh
vực. Bao gồm: thứ nhất, cơ quan quyền lực nhà nước như : Quốc hội, HĐND các
cấp. Thứ hai, các cấp chính quyền như: Chính phủ và UBND các cấp. Thứ ba, các
cơ quan quản lý nhà nước như các Bộ, ban ngành ở Trung ương, Sở ban ngành ở
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, các phòng ban ở huyện và các cơ quan tư
pháp như Viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân các cấp.
Thứ hai, các tổ chức đoàn thể xã hội được ngân sách hỗ trợ một phần kinh
phí để hoạt động. Bao gồm: Mặt trận tổ quốc Việt Nam; Liên đoàn lao động Việt
Nam; Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Hội Cựu chiến binh Việt Nam;
Đảng cộng sản Việt Nam; Tổ chức chính trị xã hội; Tổ chức xã hội nghề nghiệp…
Thứ ba, Các cơ quan an ninh quốc phòng hoạt động theo Luật quốc phòng.
Thứ tư, các đơn vị sự nghiệp công. Bao gồm: các đơn vị sự nghiệp trong
lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực y tế; các đơn vị
sự nghiệp trong lĩnh vực Văn hóa thông tin; Các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực
nông- lâm – ngư nghiệp, thủy lợi; Các đơn vị sự nghiệp trong lĩnh vực thể dục thể
thao; Đơn vị sự nghiệp khác…
Đặc trưng cơ bản nhất của các đơn vị sự nghiệp là được trang trải các chi
phí hoạt động và thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao bằng nguồn kinh phí từ ngân
quỹ nhà nước hoặc từ công quỹ theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp. Các đơn vị
sự nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, vì vậy để quản lý hiệu quả có
thể phân chia đơn vị sự nghiệp theo nhiều tiêu thức khác nhau [13; Trg 12].
- Căn cứ vào nguồn thu, theo quyết định 08/2004/QĐ – TTg ngày 15 tháng
9
01 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ và Nghị định 43/2006 ngày 25 tháng 04
năm 2006 thì đơn vị sự nghiệp được chia thành ba loại:
Thứ nhất, Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt
động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí
hoạt động), là các đơn vị sự nghiệp mà NSNN không phải cấp nguồn kính chi cho
hoạt động thường xuyên, là các đơn vị sự nghiệp có nguồn thu từ các hoạt động
luôn ổn định nên đảm bảo được toàn bộ chi phí.
… Các đơn vị này đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển nguồn nhân lực,
chăm sóc sức khỏe, nâng cao dân trí cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động có thể chia đơn vị sự nghiệp thành:
Thứ nhất, Đơn vị sự nghiệp kinh tế: bao gồm các đơn vị, tổng công ty…
hoạt động trong các lĩnh vực như tư vấn thiết kế giao thông, công nghiệp, địa
chính …
Thứ hai, Đơn vị sự nghiệp y tế: gồm các bệnh viện, các viện nghiên cứu;…
Thứ ba, Đơn vị sự nghiệp nghiên cứu khoa học: bao gồm các viện nghiên
cứu khoa học, các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về các lĩnh vực
nông – lâm – ngư nghiệp, thủy lợi, giao thông …
Thứ tư, Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực thể dục thể thao như các câu lạc
bộ thể dục thể thao, các trung tâm huấn luyện thể dục thể thao …
Thứ năm, Đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa thông tin nghệ thuật:
bao gồm nhà văn hóa thông tin, bảo tàng, đài phát thanh truyền hình, các đoàn
nghệ thuật, trung tâm triển lãm …
Thứ sáu, Riêng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, các đơn vị sự nghiệp có
thu lại có các loại hình như sau:
- Các cơ sở giáo dục mầm non
- Các trường tiểu học, trung học cơ sở. trung học phổ thông
- Các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường
xuyên, trung tâm giáo dục từ xa, các trung tâm đào tạo khác
- Các trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề
- Các trường Đại học, Cao đẳng, Học viện.
Như vậy, các trường đại học công lập nằm trong hệ thống các đơn vị sự
nghiệp có thu thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Do vây, trường đại học công lập
vừa mang những đặc điểm chung của đơn vị sự nghiệp có thu, vừa mang những
đặc điểm riêng về các hoạt động chính cũng như cơ cấu tổ chức do đặc thù của lĩnh
vực hoạt động quy định, Các đơn vị này có trách nhiệm đào tạo và nghiên cứu
khoa học, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật,
nghiệp vụ và quản lý, phù hợp với quy mô phát triển của quốc gia, có trình độ
Trong quá trình đổi mới cơ chế tài chính, việc phân định rõ các loại hình
đơn vị hành chính sự nghiệp là rất quan trọng nhằm mục đích để nâng cao hiệu quả
hoạt động của đơn vị, kiện toàn bộ máy, nâng cao quyền tự chủ tự chịu trách
nhiệm về biên chế và tài chính của các đơn vị.
12
2.1.2. Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp [2;Trg 6:12]
Chức năng chủ yếu của đơn vị hành chính sự nghiệp là thực hiện các
nhiệm vụ, các chỉ tiêu được nhà nước giao. Để thực hiện chức năng này hàng
năm Nhà nước phải cấp nguồn kinh phí từ NSNN, một số đơn vị sự nghiệp tự
đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động hoặc một phần chi phí hoạt động thì Nhà
nước không phải cấp hoặc chỉ cấp một phần kinh phí từ NSNN. Hoạt động
NSNN là một khâu quan trọng nhất của tài chính nhà nước, nhờ quỹ NSNN mà
Nhà nước không những có đủ các phương tiện tài chính để duy trì sự tồn tại
hoạt động bình thường của mình mà còn đảm bảo cho Nhà nước thực hiện tốt
các chức năng, nhiệm vụ mà xã hội giao phó. Do đó, Nhà nước phải có cơ chế
quản lý tài chính đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp để hoạt động của các
đơn vị đạt hiệu quả, hoàn thành nhiệm vụ.
Kinh phí của đơn vị sự nghiệp gồm 2 phần:
- Kinh phí giao tự chủ: Để đảm bảo hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ
được cấp có thẩm quyền giao bao gồm: kinh phí NSNN cấp chi thường xuyên (trừ
các đơn vị thuộc nhóm I) và các khoản thu sự nghiệp được để lại để theo chế độ
quy định.
- Kinh phí không giao tự chủ: Các nguồn kinh phí không thường xuyên do
NSNN cấp để thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp:
- Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xác định nhiệm
vụ,
xây dựng kế hoạch và tổ chức hoạt động.
- Tự chủ về bộ máy tổ chức: được thành lập mới, sáp nhập, giải thể các tổ
chức sự nghiệp trực thuộc.
+ Đối với nhóm I: được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người
lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị không khống chế mức tối đa, sau
khi đã thực hiện trích lập Quỹ Phát triển hoạt động sự nghiệp tối thiểu 25% chênh
lệch thu – chi.
+ Đối với nhóm II: được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho
người lao động, nhưng tối đa không quá 3 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ
trong năm do Nhà nước quy định, sau khi đã thực hiện trích lập Quỹ Phát triển
hoạt động sự nghiệp tối thiểu 25% chênh lệch thu – chi.
+ Đối với nhóm III: được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của
người lao động, nhưng tối đa không quá 2 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ do
Nhà nước quy định.
Đặc điểm hoạt động tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu: Hoạt động tài
14
chính của các trường đều phải căn cứ vào Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16
tháng 01 năm 2002 về chế độ tài chính áp dụng cho các đơn vị sự nghiệp có thu và
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 về quy định quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài
chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, các Thông tư, Nghị định, hướng dẫn khác
có liên quan. Hoạt động tài chính của các Trường Đại học công lập tự chủ tài
chính có đặc điểm như sau:
Nguồn thu: nguồn tài chính được hình thành do Ngân sách Nhà nước
cấp và các nguồn thu hợp pháp khác được để lại đơn vị. Nguồn tài chính
của các trường đại học công lập bao gồm: Nguồn tài chính từ ngân sách
Nhà nước cấp, từ học phí, lệ phí đóng góp của người học, tư thu nhập của
các hoạt động nghiên cứu khoa học, tư vấn sản xuất kinh doanh, liên kết
đào tạo trong và ngoài nước, các khoản thu dịch vụ khác của đơn vị sự
nghiệp và nguồn tài chính tài trợ, nguồn vay của các tổ chức, các cá nhân
trong và ngoài nước.
Hiện nay, các đơn vị hành chính sự nghiệp áp dụng một trong hai cơ chế
quản lý tài chính đó là cơ chế quản lý tài chính theo dự toán năm và cơ chế tự
đơn vị hành chính sự nghiệp gồm:
Thứ nhất, nguồn kinh phí cấp phát từ NSNN để thực hiện nhiệm vụ chuyên
môn của đơn vị. Đây là nguồn thu rất quan trọng đối với các đơn vị hành chính sự
nghiệp, nhất là đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có nguồn thu
thấp hoặc không có nguồn thu, các tổ chức đoàn thể. Bao gồm:
NSNN cấp một phần kinh phí hoạt động thường xuyên của các trường đại
học được NSNN đảm bảo;
Kinh phí thực hiện các dự án, đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, cấp
trường, chương trình mục tiêu quốc gia, đào tạo theo hiệp định giữa Chính phủ
Việt Nam và các nước, các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Vốn cấp cho đầu tư xây dựng cơ bản;
Vốn cấp tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ
hoạt động đào tạo và nghiên cứu theo dự án và kế hoạch hằng năm;
Vốn đối ứng do các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Các nguồn ngân sách và nguồn thu hợp pháp khác.
Thứ hai, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: nguồn thu này chủ yếu có ở các
đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động hoặc tự đảm bảo một phần
chi phí hoạt động. Theo chủ trương của Nhà nước tăng cường cơ chế tự chủ, tự
chịu trách nhiệm cho các đơn vị. Bao gồm:
Nguồn thu từ học phí, các loại phí, lệ phí đóng góp của người học.
16
Nguồn thu từ học phí, lệ phí tuyển sinh do người học đóng góp là nguồn thu
được coi như NSNN được để lại bổ sung vào kinh phí hoạt động của Nhà
trường theo quy định;
Thu từ hoạt động cung ứng dịch vụ, bồi dưỡng, đào tạo ngắn hạn, tư vấn
nghiên cứu khoa học, thu từ các hệ đào tạo liên kết trong nước và nước ngoài
thuộc loại hình đào tạo dịch vụ. Mức thu các hoạt động này do thủ trưởng đơn vị
quyết định, theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy cho đầu tư phát
triển cho các hoạt động của các chương trình đào tạo;
Các nguồn thu sự nghiệp khác theo quy định của pháp luật.
Chi cho các hoạt động dịch vụ (kể cả chi thực hiện nghĩa vụ với ngân sách
nhà nước, trích khấu hao TSCĐ theo quy định, chi trả vốn góp, trả lãi tiền vay
theo quy định của pháp luật);
Thứ hai, chi không thường xuyên bao gồm:
Chi thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học;
Chi thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
Thực hiện nhiệm vụ do nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát,
nhiệm vụ khác);
Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo
quy định;
Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);
Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn TSCĐ
thực hiện các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Chi thực hiện các dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
Chi cho các hoạt động liên doanh, liên kết;
Các khoản chi khác theo quy định.
Quản lý phân phối chênh lệch thu chi
Hàng năm, căn cứ vào kết quản hoạt động tài chính, sau khi trang trải các
khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác cho ngân sách Nhà nước, chênh
lệch thu lớn hơn chi còn lại các đơn vị sự nghiệp có thu được trích lập: Quỹ dự
phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ Phúc lợi, Quỹ Phát triển hoạt
động sự nghiệp. Phần chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm tài chính của đơn vị
được xác định theo công thức như sau:
Thu sự nghiệp và NSNN cấp Chi thường xuyên
Chênh lệch = chi hoạt động thường xuyên - và chi Nhà nước
thu chi và chi Nhà nước đặt hàng đặt hàng
18
Về thu nhập: cuối kỳ kế toán chênh lệch thu – chi được sử dụng để chi trả
dụng ngân sách.
Công tác quyết toán ngân sách
19
Việc xét duyệt, thẩm định và thông báo quyết định quyết toán năm đối với các
cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thực hiện theo quy định tại Luật Ngân sách
Nhà nước và Thông tư số 01/2007/TT- BTC ngày 02/01/2007 của Bộ tài chính.
- Đối với đơn vị dự toán cấp II: có trách nhiệm xét duyệt và thông báo kết
quả xét duyệt quyết toán năm đối với các đơn vị dự toán cấp dưới trực thuộc.
- Đối với đơn vị dự toán cấp I: có trách nhiệm xét duyệt và thông báo
kết quả xét duyệt quyết toán năm đối với các đơn vị dự toán cấp dưới trực
thuộc.
Riêng đối với quyết toán của các đơn vị dự toán cấp III đã được đơn vị dự
toán cấp II trực thuộc xét duyệt, đơn vị dự toán cấp I có trách nhiệm thẩm định.
-Đối với cơ quan tài chính các cấp:
+ Đối với quyết toán của các đơn vị dự toán cấp I cùng cấp: Cơ quan tài
chính có có trách nhiệm thẩm định và thông báo kết quả thẩm định quyết toán
năm.
Trường hợp đơn vị dự toán cấp I đồng thời là đơn vị sử dụng ngân sách, cơ
quan tài chính thực hiện xét duyệt và thông báo kết quả xét duyệt quyết toán.
+ Đối với quyết toán ngân sách chính quyền địa phương các cấp: Cơ quan
tài chính cấp trên có trách nhiệm thẩm định và thông báo kết quả thẩm định quyết
toán năm đối với quyết toán ngân sách cấp dưới trực thuộc.
Như vậy, quản lý tài chính trong các đơn vị hành chính sự nghiệp có vai trò
rất quan trọng nhằm mục đích kiểm soát tình hình sử dụng nguồn kinh phí mà
Nhà nước cấp đạt hiệu quả, tiết kiệm, chống thất thoát, một số đơn vị thì tự chủ
được về nguồn lực tài chính, tăng các nguồn thu hợp pháp, tiết kiệm các khoản
chi, nâng cao thu nhập cho người lao động.
2.2. Lý luận chung về chứng từ kế toán trong đơn vị sự nghiệp
2.2.1. Khái niệm, bản chất của chứng từ kế toán
Căn cứ Điều 4, Khoản 7, Luật Kế toán: “Chứng từ kế toán là những giấy tờ
Chứng từ kế toán là phương pháp đầu tiên quan trọng của hệ thống phương
pháp hạch toán kế toán. Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến
hoạt động của đơn vị đều phải lập chứng từ kế toán. Chứng từ kế toán được lập
ngay sau khi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh, phản ánh trực tiếp và nguyên
vẹn nghiệp vụ kinh tế, tài chính theo thời gian và địa điểm phát sinh của nó.
Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
sinh. Chứng từ kế toán là phương pháp thông tin và kiểm tra sự phát sinh và đã
hoàn thành của các nghiệp vụ kinh tế, qua đó thông tin và kiểm tra về hình thái
và sự biến động của tường đối tượng kế toán cụ thể. Phương pháp chứng từ được
cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản:
21