Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm - Pdf 27

Phân tích bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm
I . ĐẶT VẤN ĐỀ .
Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người
Mỗi một con người ai cũng có một quê hương. Và Hoàng Cầm cũng vậy, mảnh đất
ăn sâu vào máu thịt ông là miền đất Kinh Bắc bên kia sông Đuống. Nhớ về quê hương
là nhớ về những gì sâu nặng nhất trong tâm hồn và trong đáy sâu của cảm xúc đó nhà
thơ cho ra đời “Bên kia sông Đuống”.
Bài thơ ra đời khi quê hương Kinh Bắc của ông rơi vào tay giặc Pháp. Nỗi đau xót
khi nghe tin quê hương ngập chìm khói lửa chiến tranh trĩu nặng tâm hồn ông .Đứng
bên này Sông Đuống, mảnh đất tự do, hướng về quê hương bên kia Sông Đuống, mảnh
đất bị giặc chiếm đóng với bao nỗi niềm và xót xa trong tâm trạng. Một dòng sông mà
giờ đây đôi bờ cách biệt .
II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .
Dòng thơ đầu tiên mở ra tác phẩm là một tiếng gọi cất lên từ sâu thẳm trái tim đau
đớn của nhà thơ, đồng thời cũng là một lời an ủi:
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
“Em” ở đây là một nhân vật phiếm chỉ. Tuy nhiên, có phần chắc chắn đó là một cô
gái cùng quê bên kia sông Đuống với nhà thơ. Trong thơ Hoàng Cầm ta thường gặp
một nhân vật em như vậy, bởi đó là cái cớ để nhà thơ bộc lộ xúc cảm của mình một
cách chân thành nhất .
Và lời an ủi đưa em về sông Đuống thực chất chỉ diến ra trong hoài niệm của nhà
thơ. Trong niềm hoài niệm đó, hình ảnh trung tâm là con sông quê hương với bờ cát
trắng phẳng lì chảy từ quá khứ xa xôi về hiện tại, hiện lên trong tâm trí nhà thơ như
một dòng sáng lấp lánh và trù phú hai bên bờ những mầu xanh bạt ngàn của những bãi
mía, nương dâu:
Sông Đuống trôi đi

tượng thật ngoài đời, nhà thơ đã lay động sâu xa tình cảm của những con người vốn
gắn bó máu thịt với truyền thống văn hóa hàng ngàn đời của quê hương Kinh Bắc.
Không chỉ có vậy, hình ảnh quê hương Kinh Bắc còn được gợi lên với những đền
chùa cổ kính, những hội hè đình đám thể hiện khát vọng một cuộc sống hạnh phúc,
bình yên của nhân dân. Vậy mà giấc mộng bình yên mấy trăm năm ấy giờ đây tan vỡ.
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt quần nâu
Bây giờ đi đâu về đâu
Những con người mang một phần linh hồn của quê hương xứ sở ấy giờ đây trở nên
bơ vơ, tan tác. Cũng không còn nữa những hội hè đông vui, nhôn nhịp. Chỉ còn tiếng
chuông chùa văng vẳng từ thuở bình yên xa xưa vọng về càng làm tăng thêm sự hoang
vắng của quê hương như tiếng thở than nuối tiếc một thời yên ấm.
Vùng quê Kinh Bắc còn được gợi lên bằng cảnh lao động nhộn nhịp, buôn bán
đông vui, sầm uất. Trong tâm trí nhà thơ, hình ảnh những cô gái Kinh Bắc dăng tơ dệt
lụa, buôn bán tảo tần hiện lên với những nét xinh tươi, dịu dàng, duyên dáng và biết
bao tình tứ.
Ai về bên kia sông Đuống
Có nhớ từng khuôn mặt búp sen
Những cô hàng xén răng đen
Cười như mùa thu tỏa nắng
Nhưng giờ đây cũng tan tác chia lìa, không biết đi đâu, về đâu.
Trong niềm tiếc thương không nguôi những người, những cảnh vật của quê hương,
Hoàng Cầm đã dành tình cảm sâu nặng nhất cho người mẹ già và em nhỏ. Người mẹ
già nua, còm cõi vốn đã vất vả trong thời bình lại càng khốn khổ hơn khi quân giặc tới.
Kinh Bắc vốn là đất lành giờ đây bỗng hóa thành đất dữ. Chẳng những con người
không sống được yên ổn mà cả những cánh cò cũng táo tác, hốt hoảng không chốn
nương thân.
Có con cò trắng bay vùn vụt
Lướt ngang dòng sông Đuống về đâu

một vùng đất trù phú, hữu tình với biết bao di tích lịch sử, đền đài, miếu mạo, biết bao
những sinh hoạt, những truyền thống văn hóa lâu đời: Hội Gióng, hội Lim Bài thơ
Bên km sông Đuống là một kết tinh nghệ thuật tiêu biểu của nhà thơ.
Mỗi khổ thơ trong bài thơ đều được mở đầu bằng hình ảnh dòng sông Đuống – một
sinh thể hữu hình tiềm ẩn sức sống, văn hóa, tâm hồn Kinh Bắc, tạo cho bài thơ như
một bản giao hưởng trầm hùng thấm đượm chất trữ tình, cảm hứng ấy được bộc lộ khá
rõ ngay từ mở đầu bài thơ, khi người con của quê hương đứng ở "Bên này" nhìn về
Bên kia sông Đuống:
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về Bên kia sông Đuống
Bài thơ mở đầu thật tự nhiên, câu thơ vừa như lời gọi vừa như một lời an ủi, vỗ về.
Hai câu thơ chủ yếu sử dụng toàn thanh bằng, tạo ra được độ mênh mang, dàn trải
trong cảm xúc. Nó làm cho bài thơ nhẹ nhàng, như ru như hát gợi dậy trong lòng người
bao nỗi niềm bâng khuâng. Tác giả trò chuyện tâm tình với người em gái Kinh Bắc hay
cũng chính là giãi bày lòng mình, an ủi em cũng chính là an ủi mình, đó chỉ là cái cớ để
bộc lộ cảm xúc của tác giả. Sông Đuống là điểm đến trong tâm tưởng của Hoàng cầm.
Ngay cả lời an ủi người em gái cũng hướng về dòng sông đầy kỉ niệm ấy.
Rõ ràng hình ảnh sông Đuống là một ám ảnh trong ký ức của Hoàng Cầm về quê
hương Kinh Bắc. Sau khi giới thiệu, nhà thơ tiếp tục làm rõ bức tranh toàn cảnh của
dòng sông này:
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì
“Ngày xưa cát trắng phẳng lì" giống như một câu thơ bản lề. Từ "ngày xưa” làm
cho thời gian hiện tại như bị đẩy lùi về quá khứ, người ta ngỡ như bắt gặp đâu đó thế
giới cổ tích huyền diệu. Câu thơ ắp đầy hoài niệm bâng khuâng. Hình ảnh Kinh Bắc
thanh bình phẳng lặng còn được gợi tả khá tài tình qua "cát trắng phẳng lì" – chỉ cần
gợi ra một chi tiết mà giúp người đọc nhận ra thần thái của cả bức tranh. Ở đây, hình
ảnh sông Đuống được miêu tả cụ thể, đẹp đẽ, sống động, nó giống như một chinh thể

"sao xót xa" ẩn chứa đầy tâm trạng đớn đau, mà nhớ, tiếc nuối xót xa. Chữ "sao" như
xoáy vào lòng người đọc một nỗi nhức nhối, đau đáu, khôn nguôi, xưa là thanh bình
đẹp đẽ, nay là đau đớn chia lìa. Ở đây nỗi đau đã lên đến tột cùng và được cụ thể hóa
như là có thể cảm giác được quê hương như là một phần máu thịt, bởi thế quê hương bị
chia cắt cũng giống như con người mất đi một phần cơ thể mình. "Như rụng bàn tay –
một hình ảnh so sánh thật tự nhiên, giản dị nhưng rất sâu sắc đã tiếp thêm tình yêu nỗi
nhớ khôn nguôi của Hoàng Cầm đối với mảnh đất Kinh Bắc. Nỗi nhớ này là điểm xuất
phát, sự bùng nổ cho cảm hứng về quê hương Kinh Bắc tuôn chảy dào dạt trong mạch
thơ của ông. Đoạn thơ thứ hai trong bài thơ là một điệp khúc giàu sức gợi hình tượng:
Bèn kia sông Đuống
Quê hương ta lúa nếp thơm nồng
Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong
Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp
Bằng nhữg câu thơ trên, nhà thơ đã khái quát được nét vẽ đẹp nhất, sống động và
điển hình nhất bức tranh làng quê Kinh Bắc. Một bức tranh đầy màu sắc, ánh sáng và
hương vị. Lời giới thiệu "quê hương ta lúa nếp thơm nồng" hết sức mộc mạc, nó như
một nét vẽ bình dị, quen thuộc của làng quê Việt Nam gợi dậy bao ám ảnh trong lòng
người đọc về một quê hương thanh bình yên ả. Những bức tranh Đông Hồ là hình ảnh
đặc trưng của quê hương Kinh Bắc thể hiện được bản sắc văn hóa tinh hoa của con
người trên từng nét vẽ. Đó là sự kết tinh vẻ đẹp tài hoa trong cuộc sống tinh thần người
Kinh Bắc. Những bức tranh Đông Hồ do những nghệ sĩ dân gian sáng tác bao gồm
những đề tài quen thuộc phản ánh tâm tư khát vọng trong sáng lãng mạn và không kém
phần dí dỏm của người liên doanh: đám cưới chuột, đàn lợn, hứng dừa, đánh ghen…
chúng được vẽ trên giấy dó, giấy điệp, vẽ bằng chất liệu cỏ cây, hoa lá, đất cát quê
hương. Như vậy nét tươi trong của tranh Đông Hồ không chỉ gợi ra cái tươi tắn trong
trẻo mà còn chứa nét đẹp rạng ngời tinh khôi. Chữ "sáng bừng" được dùng khá độc đáo,
nó không còn là tính từ mà đã được sử dụng như một động từ không chỉ để chỉ ánh
sáng mà còn khẳng định sức sống kỳ diệu của dân tộc. "Màu dân tộc" trở thành một ẩn
dụ độc đáo của Hoàng cầm, qua đó thể hiện niềm kiêu hãnh của nhà thơ về bản sắc văn
hóa của dân tộc mình. Bởi quê hương xiết bao yêu dấu, tự hào sống trọn trong trái tim

sống động:
Ai về Bên kia sông Đuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thơi
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
Gửi về may áo cho ai
Chuông chùa văng vẳng nay người ở đâu
Ở đây ta bắt gặp một phong tục đẹp đẽ vùng Kinh Bắc. Tấm the đen gửi về may áo.
Nó không chỉ là nét vẽ truyền thống mà con là hành động gửi thương gửi nhớ của con
người, qua đó thể hiện niềm trân trọng yêu mến sâu sắc của tác giả với con người Kinh
Bắc. Các địa danh Thiên Thai, Bút Tháp, Lang Tài được gợi nhắc đã thể hiện niềm
kiêu hãnh và tự hào sâu sắc của nhà thơ về vẻ đẹp quê hương mình. Mặt khác các địa
danh này lại đi liền với các từ có ý nghĩa định vị về mặt không gian là "trên", "trong",
"giữa". Nhà thơ Hoàng cầm đã mở ra trước mắt người đọc một không gian rộng lớn
mênh mông, không gian của "mộng bình yên" đẹp đẽ, thơ mộng. Thêm nữa có một nét
vẽ cổ điển của âm thanh tiếng chuông chùa văng vẳng lại như điểm nhịp cho cuộc sống
yên ả, bình dị của Kinh Bắc. Hình ảnh con người Kinh Bắc được phác họa bằng những
câu thơ cụ thể:
Những nàng môi cắn chỉ quết trầu
Những cụ già phơ phơ tóc trắng
Những em sột soạt áo nâu
Chỉ bằng vài nét phác họa, Hoàng cầm đã dựng nên trước mắt người đọc từng bức
chân dung cụ thể của con người Kinh Bắc, họ đều rạng ngời với vẻ đẹp truyền thống,
những người thiếu nữ, có vẻ đảm đang tháo vát, nhũng cụ già phúc hậu, những em nhỏ
ngây thơ tinh nghịch. Rõ ràng ở đây ta thấy niềm yêu mến sâu sắc của tác giả. Những
nỗi ám ảnh trong Hoàng cầm sâu sắc nhất có lẽ là hình ảnh người con gái Kinh Bắc.
Ông đã dùng những câu thơ đẹp nhất, tài hoa nhất để gợi tả họ:

"hoen" được sử dụng rất hay, "hoen" không chỉ là sương thấm vào giấy mà như thấm
cả giọt nước mắt, mồ hôi của mẹ. Đi liền với hình ảnh người mẹ là tội ác của kẻ thù:
Chợt lũ quỷ mắt xanh trừng trợn
Khua giầy đinh đạp gãy quán gầy teo
Xì xồ cướp bóc
Tan phiên chợ nghèo
Tác giả gọi kẻ thù là "lũ quỷ mắt xanh" – một hình ảnh ẩn dụ chỉ tội ác tàn bạo và
dã man của kẻ thù, từ láy "trừng trợn" không chỉ gợi dáng vẻ nạt nộ, dọa dẫm của kẻ
thù mà con góp phần lột tả sống động chân dung của kẻ khát máu, quân cướp bóc.
Không những thế, chữ "chợt" chỉ gót giày quân xâm lược đột ngột, bất ngờ, không gian
thanh bình bỗng chốc bị phá vỡ. Tác giả sử dụng những từ mạnh mang sắc thái biểu
cảm cao "khua" "đạp", "xì xồ", "tan", "gầy teo" diễn tả những hành động dã man liên
tiếp của kẻ thù những tội ác chồng chất. Hình ảnh con người hàng xóm, quê hương như
bị thu hẹp lai dưới gót giày tàn bạo của quân xâm lược. Qua đó ta thấy tội ác kẻ thù
càng tăng, niềm căm thù càng trở nên mạnh mẽ, nỗi đau càng trở nên sâu thẳm. Tột
cùng nỗi đau thương trong tâm hồn thi sĩ được đúc kết, gửi gắm qua hai câu thơ lục bát
đầy xúc động:
Lá đa lác đác trước lều
Vài ba vét máu loang chiều mùa đông
Không gian hoang sơ hiu quạnh được gọi tả với vài chiếc lá đa thưa thớt, một chiều
mùa đông nhuộm đỏ: đỏ của mầu máu, đỏ của ráng chiều. Câu thơ có khả năng gây ấn
tượng cực mạnh đối với người đọc. Câu “lá đa lác đác trước lều” gợi âm điệu buồn tẻ,
rời rạc, điểm nhịp cho không gian vắng vẻ, thưa thớt, hiu quạnh của làng quê Việt Nam
trong những ngày tháng kẻ tù xâm lược các từ “vài ba”, “loang” được sử dụng rất đắt
giúp người đọc cảm nhận được từng vết máu đang loang dần, từng chứt từng chút vào
cảnh vật cũng như vào con người. Mùa đông vốn ảm đạm, thời gian chiều mùa dông
càng khắc sâu thêm sự ảm đạm ấy. Câu thơ đã gọi tả sực khốc liệt của chiến tranh.
Những vết máu của chiến tranh thấm đỏ khung trời hay ráng chiều nhuộm đỏ. Tất cả
đều gợi sự bi thương tang tóc. Như vậy, hai câu thơ tả ít mà gợi nhiều, nó không chỉ
đánh thức người đọc niềm căm thù sôi sục quân xâm lược mà con gợi dậy một nỗi đau


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status