BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 - Pdf 27

1
PHÒNG GIÁO DỤC HUYỆN XUYÊN MỘC
TRƯỜNG TIỂU HỌC XUYÊN MỘC
- *- *- *- *-* - *- o0o - *- *- *-* -* -* -
Chủ đề: RÈN CHỮ VIẾT CHO
HỌC SINH LỚP 1
Năm học 2011 -2012

GV thực hiện: Phạm Thị Bích Ngọc.
Đơn Vị: Trường Tiểu Học Xuyên Mộc .

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.Cơ sở lý luận:
“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam
có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được
hay không đó chính là một phần lớn ở công học tập của các cháu“. Non sông,
đất nước muốn giàu mạnh, sánh vai với bạn bè năm châu là nhờ vào thế hệ
trẻ, những mầm non đất nước hôm nay. Dạy học ví như ta trờng mợt cái cây,
trờng cây và chăm sóc như thế nào để cây lớn nhanh và phát triển tớt. Thì là
cả mợt quá trình vun đắp lâu dài. Và chúng ta những thầy giáo, cơ giáo sẽ
gieo trờng và vun đắp vườn cây thế hệ trẻ, những mầm non của đất nước
mai sau ra sao? Đây quả là mợt việc vơ cùng quan trọng đây là bởn phận,
trách nhiệm của mỡi thầy cơ giáo chúng ta. Trong đó tiểu học là bậc học nền
tảng của nền giáo dục và lớp một là nền móng của bậc tiểu học. Dạy Tiếng
Việt lớp 1 có nhiệm vụ rất lớn lao là bước đầu giúp các em hoà nhập vào
mơi trường học tập , từng bước giúp các em từng bước tiếp nhận tri thức để
các em biết đọc, biết viết, biết vận dụng chữ viết vào học tập. Chữ viết là
cơng cụ cho các em sử dụng suốt đời. Đọc thơng, viết thạo gắn bó mật thiết
với nhau, khơng thể tách rời. Như cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói “Nét chữ -
Nết người”, nhận xét này của người phần nào nói lên tầm quan trọng của

giáo viên chúng ta cần phải quan tâm đến việc rèn chữ viết cho học sinh của
lớp mình. Để giúp các em trở thành những con người phát triển toàn diện
sau này xây dựng đất nước ta ngày một giàu đẹp hơn.
3
III. Giới hạn của đề tài:
Đối tượng học sinh của tôi ở đây là học sinh khối lớp 1. Vì ở lứa tuổi này
là lứa tuổi dễ rèn và dễ tiếp nhận nhất. Ngay từ khi học sinh mới bước vào
lớp 1 thì những nét cơ bản đầu tiên chúng ta cần phải giúp cho các em viết
đúng. Cũng như cái cây muốn nắn là phải uốn khi còn non vậy. Ở đây trong
giới hạn của đề tài tôi xin đưa ra một số biện pháp mà tôi đã thực hiện nhằm
giúp các em viết đúng và viết đẹp.
B . PHẦN NỘI DUNG
I. Thực trạng và những mâu thuẫn:
Để xây dựng được kế hoạch thực hiện nghiên cứu và giải pháp về rèn
chữ viết cho học sinh. Ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát tình
hình thực tế về trình độ viết chữ của lớp. Qua khảo sát tôi nhận thấy các em
gặp rất nhiều khó khăn trong kỹ năng viết chữ, cụ thể là:
- Mẫu chữ viết của các em trong lớp không thống nhất, có những em chưa
biết viết, không xác định được dòng kẻ, ngồi viết không đúng tư thế, hay
đùa nghịch trong lớp, mải chơi.
- Các em chưa xác định được điểm đặt bút , điểm dừng bút khi viết chữ.
- Chưa xác định được khoảng cách giữa các con chữ trong một tiếng,
khoảng cách giữa các tiếng trong một từ.
- Các em viết sai độ cao, thế chữ chưa đúng so với chữ mẫu.
- Khi viết nét nối giữa các chữ có 2 – 3 âm ghép lại (ch, tr, nh, ph, ng, ngh,
gh, gi) chưa đúng, có khi khoảng cách giữa 2 con chữ xa quá hoặc gần quá thành
ra không đẹp.
- Khi viết các em thường hay tẩy xoá tuỳ tiện làm cho vở dơ, chữ viết lại nên chỗ
vừa tẩy cũng không đẹp.
- Mặt khác các em đang chuyển từ hoạt động vui chơi là chính sang hoạt động

viết ở nơi thiếu ánh sáng hoặc cúi đầu sát xuống vở quá, cột sống cong vẹo,
lưng gù, phổi cũng ảnh hưởng…. do tư thế ngồi viết không đúng. Vì vậy khi
hướng dẫn học sinh tập viết giáo viên cần chú ý đến việc phối hợp đồng bộ
các bộ phận cơ thể là một nguyên tắc đặc thù. Khi một học sinh lớp 1 viết,
các bộ phận nó đều căng thẳng, đặc biệt là các ngón tay. Điều này dẫn đến
nhanh mỏi tay để thay đổi không khí giáo viên có thể cho các em thực hiện
một vài động tác thể dục trong lớp hoặc một trò chơi thư giãn.
Nguyên tắc tập viết cho thấy kĩ năng viết của học sinh chỉ thực sự có
được khi có sự phối hợp đồng bộ của các bộ phận cơ thể. Việc đánh giá bài
viết của các em cần phải được kết hợp với việc theo dõi quá trình viết của
học sinh.
3. MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY PHÂN MÔN TẬP VIẾT Ở TIỂU HỌC:
a/Phương pháp trực quan:
* Bài mẫu:
Mẫu chữ viết rất quan trọng, vì thế bảng viết mẫu cần đúng và đẹp. Vì
học sinh tiểu học tiếp thu hình ảnh chữ viết qua mắt nhìn. Khi viết các em
phải tái hiện hình ảnh chữ viết đã tiếp thu được qua mắt nhìn lần đầu để ghi
lại hình ảnh chữ viết đã nhìn được trên mặt bảng, mặt giấy.
Vì vậy nếu chữ mẫu được trình bày với kích thước quá nhỏ hoặc dưới
ánh sáng kém, thì các em rất khó nhìn dẫn đến khó tái hiện. Từ đó nếu trình
bày mẫu chữ trên bảng lớp, giáo viên phải viết to, rõ ràng đúng mẫu, đúng
các nét để học sinh nắm được cấu tạo, kích thước của chữ. Chữ mẫu của
giáo viên viết trên bảng giúp cho học sinh nắm được thứ tự các nét của từng
chữ cái, cách nối các chữ cái trong một tiếng nhằm đảm bảo yêu cầu viết
6
liền mạch, viết nhanh.
Nếu trong bài viết có nhiều chữ cái hoặc nhiều vần khác nhau thì cần
phải có đủ mẫu cho học sinh quan sát để nhận xét sự giống và khác nhau đó.
Ví dụ: khi dạy các em viết l – h ( bài 8 – SGK). Từ mẫu chữ học sinh
nắm được cấu tạo của con chữ, hình dáng, kích thước của chữ. Phân biệt

bảng lớp, tôi thường viết chậm để toàn lớp được nhìn thấy tay cô giáo viết
từng nét, từng nét một cách rõ ràng.
Khi hướng dẫn viết mẫu trên bảng lớp giáo viên phải dùng lời sao cho
phù hợp, dễ hiểu để các em dễ nghe dễ hiểu, chú trọng những nét nối
hướng dẫn tỷ mỷ, chính xác cho học sinh, không nên hướng dẫn dài dòng
gây cho học sinh khó hiểu, không nên hướng dẫn một lần nhiều quá gây rối
mắt cho học sinh.
Đối với học sinh Tiểu học, chữ mẫu phải được cụ thể hóa nhất là đối
với học sinh lớp Một. Khi học sinh được quan sát bài mẫu của cô giáo, các
em lập tức nảy sinh ý định bắt chước, muốn mình viết đẹp được như cô
giáo.
Ngoài chữ mẫu của cô giáo, giáo viên có thể sử dụng những bài viết
đẹp của những học sinh khá, giỏi để làm mẫu cho các em, giúp các em
không những học ở cô, thầy mà còn học ở bạn nữa Đó chính là “Học thầy
không tày học bạn”.Do đó tôi phân công những em viết đẹp ngồi cạnh
những em viết chưa đẹp để giúp đỡ nhau, xây dựng đôi bạn cùng tiến. Hơn
nữa để các em thấy bạn mà muốn viết đẹp được như bạn mà càng ra sức
luyện tập, rèn viết một cách tự giác và có ý thức hơn. Đó mới là điều mà
mỗi giáo viên mong muốn vì khi các em ý thức được cần phải viết chữ đẹp
thì kết quả sẽ tốt hơn nhiều.
Mẫu chữ trong dạy tập viết là chưa đủ, mà chữ mẫu của cô giáo thể
hiện ở mọi nơi, mọi lúc cả khi chấm chữa bài, khi viết bảng cả những môn
8
học khác đối với học sinh cũng phải được viết đúng mẫu. Học sinh lớp 1
rất máy móc, các em bắt chước theo những gì cô làm. Vì thế cô viết sao là
chữ trò như vậy.
Tại sao như vậy ?
Vì trẻ tiểu học luôn coi thầy cô giáo như một tấm gương sáng để các
nhìn vào và noi theo. Nếu thầy cô giáo ẩu, viết cẩu thả khi phê vở cho học
sinh, hoặc viết không đẹp trong những môn học khác, thì chính đã gieo vào

- Cao mấy ô ? Rộng mấy ô?
- Chữ y gồm mấy nét ? Là những nét nào?
- Điểm đặt bút của chữ y giống điểm đặt bút của chữ nào mình đã
học?
- Chữ tr gồm mấy con chữ ghép lại?
- Chiều cao, độ rộng của chữ là mấy ô?
- Nét nối giữa t và r là bao nhiêu?
c/ Phương pháp giảng giải:
Phương pháp này được sử dụng khi hướng dẫn viết cho học sinh. Muốn
hướng dẫn học sinh viết đúng, người giáo viên phải nắm vững cấu tạo, hình dáng,
kích thước và sử dụng chính xác thuật ngữ khi dạy tập viết.
Một số thuật ngữ khi dạy môn Tập viết:
*Đường kẻ và dòng kẻ:
Các chữ cái ghi âm Tập viết đều nằm trong các ô vuông. Các ô vuông
này do các đường kẻ và dòng kẻ cắt nhau tạo thành. Những chữ cái có độ
cao 1 dòng được xác định bằng đường kẻ ngang trên và đường kẻ ngang
dưới.
Các dòng kẻ chia các ô vuông lớn thành các ô vuông nhỏ gọi là dòng kẻ
ngang (dòng ly) hoặc dòng kẻ dọc.
Cách xác định tọa độ của điểm đặt bút và dừng bút phải dựa trên khung
10
chữ làm chuẩn.
* Điểm đặt bút:
Là điểm bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái hay một chữ, điểm
đặt bút có thể đặt trên đường kẻ ngang.
* Điểm dừng bút:
Là vị trí kết thúc của nét chữ. Điểm dừng bút có thể trùng với điểm
đặt bút (chữ O), nhưng đa số kết thúc ở 1/3 đơn vị chiều cao của thân chữ.
Do vậy người giáo viên chỉ dừng một chút để chỉ khái niệm này.
* Khái niệm lia bút:

chỉ làm cho tốc độ viết được nâng lên mà còn đảm bảo tính cân đối và yêu
cầu thẩm mỹ của chữ viết.
d/ Phương pháp luyện tập:
Dân gian ta có câu: “Trăm hay không bằng tay quen” quả đúng như
vậy. Đối với môn Tập viết thì càng đúng hơn.
Đối với trẻ lớp 1 tay còn mềm, yếu, cầm bút các em vẫn sợ rơi, chóng
mỏi mệt thì quá trình rèn chữ của giáo viên phải kiên trì, nhẫn nại, tăng dần
yêu cầu, không đòi hỏi quá khó với các em. Ở lứa tuổi này học sinh thường
có thói quen nắm tay sát ngòi bút và cầm bút quá chặt gây ra căng cơ tê
cứng, làm cho các em cảm thấy mau mỏi tay. Cần rèn cho các em cầm bút
đúng vị trí tự tin và thoải mái.
Cách sử dụng bút cũng là điều đáng quan tâm. Bút tốt các em sẽ viết đẹp
hơn, tự tin hơn và thích viết hơn. Nếu viết bút chì thì ngòi viết cần được gọt
cho sắc nét để khi viết không bị trơn tuột.
Có thể luyện tập bằng nhiều phương tiện.
*Luyện viết bảng con:
12
luyện viết trên bảng con là một quá trình vô cùng quan trọng. Trước
khi viết bài vào vở. Viết bảng con giáo viên dễ quan sát và sửa nét, sửa chữ
giúp các em viết vào vở hoàn chỉnh và đẹp hơn. Để quá trình viết bảng có
hiệu quả và không mất thời gian, đầu năm học tôi thường thống nhất với các
em một loại bảng trong cả lớp để có dòng kẻ giống nhau. Đối với những em
chưa trải quá chương trình học mẫu giáo tôi kẻ bảng và xác định dòng 2 ô
li, dòng 3 ô li và dòng 5 ô li giúp các em dễ viết và viết đúng độ cao của các
con chữ.Với trẻ em lớp 1, viết phấn mềm hơn viết chì, bảng con lại có thể
xóa, lau, sửa nét dễ dàng. Trước khi viết bảng con cần xem xem các em viết
có đúng chiều không. Vì thế cần hướng dẫn các em viết trên không cho
quen chiều con chữ. Sau đó mới cho các em viết vào bảng con. Khi học sinh
luyện viết bảng con giáo viên có thể cầm tay từng em khi học những bài
đầu, sau đó mới thả dần dần cho các em tự viết. Sang học kỳ II, khi viết đã

Trong quá trình học sinh viết kể cả ở bảng con và trong vở tập viết giáo
viên cần theo dõi, quan sát để kịp thời uốn nắn và sửa chữa kịp thời cho các
em. Với nét bút đè nặng và gãy đó là hiện tượng các em bị ức chế trong khi
viết. Cần động viên khuyến khích. Nét bút trôi nhạt là các em có tính cẩu
thả, không chú ý khi viết cần nhắc nhở thường xuyên.
Quá trình tập viết xuyên suốt trong thời gian dài. Vì vậy giáo viên kiên
trì, nhẫn nại nhất là đối với một số em khả năng tiếp thu chậm. Trong những
giờ tập viết giáo viên cần nắm bắt được khả năng viết của từng em một mà
từ đó khuyến khích thêm và nhất là giúp đỡ cho những em còn yếu trong
môn tập viết. Đối với những em này giáo viên cần liên hệ với cha mẹ học
sinh để rèn thêm cho các em ở nhà. Giáo viên nên viết mẫu để các em tập
viết nhiều lần. Cần phải kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để
việc rèn chữ viết ở nhà đạt cũng đạt kết quả như ý muốn.
Trong quá trình viết học sinh thường bộc lộ tâm lý thích nhanh hơn
các bạn, nên viết vội vàng khiến cho nét chữ nghuệch ngoạc. Vì thế giáo
viên cần xem xét đến tốc độ viết của học sinh. Đặc biệt nhắc nhở học sinh
tính cẩn thận, không nên vội vàng mà thiếu nét, thiếu dấu.
14
Ở giữa kì 2 học sinh được viết sang cỡ chữ nhỏ. Lúc này giáo viên càng
phải quan tâm hơn về độ cao của con chữ để các em viết đúng . Vì đây là
mẫu chữ mà các em thể hiện suốt trong thời gian sau này. Do đó giáo viên
càng phải theo sát các em sửa sai từng li, từng tý.
* Luyện tập viết chữ trong những môn học khác:
Không những rèn viết trong quá trình tập viết mà cần rèn viết trong cả
những tiết học khác nữa. Cần tận dụng việc luyện chữ viết trong các bài
học, bài làm ở các môn học khác để học sinh luôn có thói quen viết đúng,
viết đẹp. Đối với lớp 1 mà nói chung cả trong bậc tiểu học. Sự nghiêm khắc
của giáo viên về chất lượng chữ viết ở tất cả các môn học là sự cần thiết. Có
làm được như vậy thì việc luyện tập viết chữ mới được đồng bộ thường
xuyên. Rèn cho các em thói quen viết đẹp và luôn muốn viết đẹp như các

huy hết khả năng của mình, kiến thức được mở rộng, nâng cao dần chuẩn bị
tốt cho việc theo học các lớp cao hơn. Tuy vậy việc áp dụng các phương
pháp rèn viết là không thể thiếu được và thực sự có hiệu quả nếu như mỗi
người giáo viên luôn quan tâm, nhiệt tình trong giảng dạy và chú trọng đến
việc rèn chữ viết cho học sinh của lớp mình.
Nhiều năm lại đây do áp dụng những biện pháp vừa nêu trên mà chữ viết
của lớp tôi phụ trách các em viết đẹp và đúng mẫu hơn. Phong trào rèn chữ
giữ vở cũng được các em hưởng ứng rất nhiệt tình. Cuối mỗi năm học số
lượng học sinh trong lớp tham gia chấm vở sạch, chữ đẹp cấp trường của
lớp tôi cũng nhiều hơn các lớp khác trong khối.
II. Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển:
Để việc rèn chữ viết đạt được kết quả như mong muốn thì 2 yếu tố căn
bản cần chú ý đến là:
+ Sự chuẩn bị của của học sinh.
+ Sự chuẩn bị của người giáo viên.
- Học sinh cần có đủ dụng cụ, đồ dùng học tập đúng qui cách để phục vụ
tốt nhu cầu học tập của bộ môn.
16
- Giáo viên cần nắm các nét cơ bản theo mẫu chữ qui định, nắm vững nội
dung, yêu cầu dạy học của phân môn. Nắm bắt trình độ của từng học sinh
trong lớp mình. Ngoài ra giáo viên cần chuẩn bị nội dung và phương pháp
truyền đạt cho học sinh dễ hiểu. Kiểm tra uốn nắn kịp thời cho từng đối
tượng học sinh. Hơn thế nữa giáo viên cần có đức tính kiên trì, nhẫn nại vì
quá trình rèn chữ viết đòi hỏi thời gian dài rèn luyện và vun đắp.
Và việc không thể thiếu được đó là quá trình chấm chữa bài: Phải chấm
chữa bài thường xuyên. Nắm bắt những lỗi sai sửa cho từng học sinh nếu có
thể hoặc sửa vào tiết học sau và trong những tiết học khác nữa. Khi phê bài
cho học sinh giáo viên cũng cần chú ý đến chữ viết của mình.
Trên đây là một vài kinh nghiệm của cá nhân tôi về phương pháp rèn
luyện chữ viết cho học sinh lớp 1. Bản thân tôi sẽ rút kinh nghiệm và phấn

• Vở tập viết tập 2.
Nhà xuất bản giáo dục
Biên tập: Ngọc Bảo – Phú Bình.
• Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1.
Nhà xuất bản đại học sư phạm 136 - Xuân Thuỷ
Quận Cầu Giấy – Hà Nội.
Biên tập: Việt Hà
• Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học.
Chu kì III ( 2003 – 2007) – Tập 1
Nhà xuất bản giáo dục.
Biên tập: Nguyễn My Lệ
• Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên tiểu học.
Chu kì III ( 2003 – 2007) – Tập 2.
Nhà xuất bản giáo dục.
Biên tập: Ban biên tập sách Tiểu học.

Nhận xét của Hội đồng khoa học
Trường tiểu học Xuyên Mộc
………………………………………………
………………………………………………
19
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………
Nhận xét của Hội đồng khoa học
Phòng Giáo dục Huyện Xuyên Mộc
………………………………………………
………………………………………………


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status