skkn một số biện pháp nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1 - Pdf 37

THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết
cho học sinh lớp 1”.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Dạy Tập viết, Luyện viết cho học sinh lớp 1.
3. Tác giả:
Họ và tên:

Nguyễn Thị Yến

Nữ

Ngày tháng/năm sinh: 25 tháng 8 năm 1975
Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
Chức vụ: Tổ trưởng tổ chuyên môn lớp 1
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Lê Lợi
Điện thoại: 01699 714 696
4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Tổ chuyên môn lớp 1, trường Tiểu học Lê LợiChí Linh- Hải Dương.
5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Tổ chuyên môn lớp 1, trường Tiểu học
Lê Lợi- Chí Linh- Hải Dương.
Địa chỉ: xã Lê Lợi- Chí Linh- Hải Dương. Điện thoại: 03203593106
6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Mỗi phòng học được trang bị máy tính, máy chiếu phục vụ cho các tiết
dạy giáo án điện tử.
- Áp dụng với tất cả giáo viên, học sinh lớp 1 trong các giờ học Tập viết,
Luyện viết.
7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: năm học 2014-2015.
TÁC GIẢ

XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG
SÁNG KIẾN


trường tôi công tác. Từ những kinh nghiệm của nhiều năm giảng dạy và thông qua
nghiên cứu đọc tài liệu về phương pháp dạy học, cách đánh giá học sinh theo thông
tư 30, tôi mạnh dạn đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho
học sinh lớp 1.
2


- Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến:
Sáng kiến nhằm khắc phục những hạn chế, khó khăn về tâm lí của học sinh
lớp 1 trong giờ học viết chữ. Trước đây, những giờ học này thường khô khan, đơn
điệu, học sinh có tâm lí mệt mỏi, viết cho xong bài. Tôi đã đưa ra một số biện pháp
để giúp cho giờ học viết trở nên nhẹ nhàng, cuốn hút học sinh. Từ đó góp phần
nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh.
- Khả năng áp dụng của sáng kiến
Sáng kiến mang tính khả thi cao do những biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng chữ viết cho học sinh lớp 1 mà tôi đưa ra hoàn toàn phù hợp với thực tế,
năng lực, trình độ, tâm lí và nét đặc thù của học sinh lớp đầu cấp tiểu học.
- Lợi ích thiết thực của sáng kiến
Qua quá trình áp dụng sáng kiến, chất lượng chữ viết của học sinh lớp tôi
được nâng lên rõ rệt, học sinh hào hứng đón chờ giờ học tập viết, các em tích cực,
say sưa tập viết. Giờ học tập viết, luyện viết trở nên nhẹ nhàng, hiệu quả.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến:
Sau khi nghiên cứu và áp dụng một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng
chữ viết cho học sinh lớp 1, tôi thấy tiết học viết của học sinh lớp tôi trở hào hứng,
nhẹ nhàng. Các em tích cực luyện tập để phát huy hết khả năng viết chữ của mình.
Chữ viết của học sinh đã đúng mẫu, đúng cỡ chữ, đảm bảo khoảng cách và tốc độ
viết. Tất cả học sinh trong lớp cầm bút đúng và ngồi viết đúng tư thế. Tôi cảm thấy
an tâm phấn khởi hơn đối với chất lượng chữ viết của học sinh lớp mình.
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng sáng kiến:
- Nhà trường trang bị máy tính, máy chiếu phục vụ cho tiết dạy giáo án điện

cùng với gương mặt rạng rỡ, sáng ngời khi tiết học tập viết, luyện viết- đó là
nhờ tia sáng của lòng tin, của sự hứng thú .
1.3. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
Là giáo viên trực tiếp dạy lớp 1, tôi nhận thấy:
- Viết chữ không đơn giản đối với học sinh lớp 1, nó đòi hỏi người học
phải khéo léo, cẩn thận, các cơ quan giác quan phải tập trung cao. Điều này
hoàn toàn mâu thuẫn với sự phát triển tâm lý của các em: Học sinh lớp 1 hiếu
4


động, thích chơi hơn là học, thích hoạt động mà không thích bị gò ép theo
khuôn mẫu. Hơn nữa, cơ tay các em còn yếu, khả năng tập trung chưa cao,
chóng mệt mỏi.
- Những giờ học viết thường khô khan, đơn điệu, không tạo được sự hấp
dẫn đối với các em.
Thấy rõ được những khó khăn trên trong việc rèn chữ viết cho học sinh
lớp 1 nên tôi đã quyết định chọn đề tài này với mục đích đưa ra một số biện
pháp góp phần tạo hứng thú, tạo niềm tin cho các em trong giờ học viết, giúp
các em có không khí giờ học vui vẻ, thoải mái, không còn đơn điệu, mệt mỏi.
Đồng thời, bản thân giáo viên sẽ thích dạy các tiết học có liên quan đến tập
viết, luyện viết cho học sinh. Từ đó sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng
chữ viết cho các em.
2. Cơ sở lí luận của vấn đề:
2.1. Đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 1:
Học sinh lớp 1 là lứa tuổi đầu tiên cắp sách tới trường để tham gia những
hoạt động học tập theo chương trình giáo dục tiểu học. Ở lứa tuổi này, các em
dễ bị cuốn hút bởi những điều mới lạ nhưng đồng thời cũng rất chóng chán.
Những vấn đề khó hiểu khiến các em dễ phân tán, mất tập trung. Do sự chi
phối của đặc điểm tâm sinh lí, học sinh lớp 1 có đặc điểm nhận thức và đặc
điểm về ngôn ngữ thiên về trực quan, cụ thể. Các kiến thức trừu tượng sẽ trở

- Kĩ năng: Học sinh phải viết được chữ ghi âm (chữ ghi vần), tiếng, từ và
câu ứng dụng đảm bảo các yêu cầu: đúng quy trình các nét, chữ cái, liên kết các
chữ cái tạo thành chữ ghi tiếng theo yêu cầu liền mạch. Viết thẳng hàng, đúng
dòng kẻ. Ngoài ra, học sinh còn được rèn thêm những kĩ năng như: tư thế ngồi
viết, cách cầm bút, để vở hay di chuyển tay, vở như thế nào cho hợp lý khi viết
bài.
3. Thực trạng của vấn đề:
3.1. Về phía giáo viên:
Nhiều năm gần đây, việc dạy chữ viết cho học sinh đã được coi trọng và
được quan tâm đúng mức. Mỗi năm học, hầu hết các nhà trường đều tổ chức
chấm vở sạch chữ đẹp nhằm đánh giá chất lượng chữ viết của học sinh. Đã có
những nhà giáo tâm huyết với việc rèn chữ cho học sinh. Bên cạnh đó vẫn còn
có một số ít giáo viên còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu dạy tập
6


viết, luyện viết: viết chưa đúng mẫu, việc chuẩn bị đồ dùng dạy học qua loa,
chiếu lệ. Khi lên lớp, giáo viên truyền thụ một cách máy móc, không linh hoạt,
sáng tạo, chưa tạo hứng thú cho học sinh khi học viết, chưa chú ý giúp đỡ, uốn
nắn kịp thời cho học sinh, nhận xét bài viết của học sinh chưa chú ý tới động
viên, khích lệ làm cho giờ học viết trở nên nhàm chán, mệt mỏi.
3.2. Về phía học sinh:
Đối với học sinh lớp 1, hoạt động viết chiếm rất nhiều thời gian, học sinh
chóng mệt mỏi. Nếu giáo viên không tâm huyết với việc rèn chữ cho học sinh
thì các tiết học viết sẽ bị xem nhẹ. Học sinh thường có tâm lí viết cho xong.
Các em viết thường không được nắn nót, không đúng quy cách, kích cỡ,
khoảng cách giữa các chữ không đều. Hiện tượng viết sai nét, sai chữ, hở nét,
thừa nét, thiếu nét, thiếu dấu hoặc dấu đánh không đúng vị trí diễn ra thường
xuyên.
Để nắm rõ hơn thực trạng học giờ tập viết, luyện viết của học sinh lớp 1,

80.4
10
19.6
sát, tôi nhận thấy bài viết của học sinh mắc rất

nhiều lỗi khác nhau như viết nguệch ngoạc, không đúng kích cỡ, khoảng cách
giữa các chữ không đều, viết sai âm, thừa nét, thiếu nét, thiếu dấu hoặc dấu
đánh không đúng vị trí.
Qua kết quả thống kê trên có thể thấy chất lượng bài viết của học sinh
chưa cao, còn 19.6 % bài chưa hoàn thành. Trong đó, số học sinh hoàn thành
tốt ở cả hai lớp đều rất thấp. Lớp 1D: 3 em= 13.6%; Lớp 1B: 4 em =13.7%.
Ngoài khảo sát mức độ hoàn thành và chưa hoàn thành bài viết, tôi còn
khảo sát thái độ, hứng thú của học sinh trong giờ tập viết.
7


Kết quả như sau:
Thích thú khi
học tập viết
SL
%
1D
22
7
31.8
1B
29
10
34.5
Tổng 51

luyện viết do nhiều nguyên nhân khác nhau: giờ học buồn tẻ, mỏi tay, mỏi mắt,
bút gãy ngòi, thiếu bảng con và giẻ lau, ngồi viết gò bó, hay bị cô giáo chê, ….
Vì vậy, tôi cho rằng việc chuẩn bị tốt về tâm lí cho học sinh, về đồ dùng
dạy học và sử dụng phương pháp, hình thức tổ chức phong phú, cuốn hút học
sinh sẽ tạo nên hiệu quả của mỗi giờ học viết.
Qua kinh nghiệm từ những ngày đầu đứng lớp, bản thân luôn học hỏi
đồng nghiệp về chuyên môn, cách rèn chữ cho học sinh. Đến năm học này, tôi
luôn trăn trở và tự nhận thấy mình cần làm như thế nào để nâng cao chất lượng
chữ viết cho học sinh trong lớp mình phụ trách và những biện pháp đó có thể
giúp gì cho đồng nghiệp trong việc rèn chữ cho học sinh.
Từ những thực trạng trên giúp đã giúp tôi mạnh dạn đề ra một số biện
pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1.
4. Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh lớp 1:
4.1. Thu hút sự chú ý của học sinh bằng đồ dùng trực quan:
* Thứ nhất: Tôi sử dụng đồ dùng trực quan trong phần giới thiệu bài.
Khác với phương pháp trước đây, ở phương pháp thử nghiệm này, tôi không
viết trước bài lên bảng mà cho học sinh quan sát các hình ảnh trực quan để gợi
chữ ghi âm, chữ ghi vần, tiếng, từ ứng dụng (đưa hình ảnh đó lên máy).
Ví dụ 1: Khi dạy Tập viết Bài 12 (tập 1): i, a, bi, cá. Tôi lần lượt đưa ra 2
hình ảnh sau cho học sinh quan sát:

8


Hình 1

Hình 2
Giáo viên dùng hệ thống câu hỏi để gợi mở, dẫn dắt học sinh đến chữ ghi âm,
tiếng sẽ học trong bài đó. Cụ thể:
+Quan sát hai bức tranh, con thấy gì?

tiếng trên màn hình (sử dụng giáo án điện tử) kết hợp thuyết minh những điểm
cần lưu ý: điểm đặt bút, dừng bút, nét nối, … giúp học sinh nắm được quy trình
viết. Điều đó, giúp các em tiếp cận với chữ ghi âm, chữ ghi vần, tiếng hoặc từ
sẽ viết một cách chính xác, rõ ràng hơn về khoảng cách, cấu tạo, độ cao, chiều
rộng cũng như hào hứng hơn trong khi học.
Trình tự thực hiện:
- Giáo viên giới thiệu chữ mẫu (trên màn -HS quan sát chữ mẫu
hình) yêu cầu học quan sát, nhận xét về cấu - Nêu nhận xét
tạo, độ cao, độ rộng các con chữ, …
- Giới thiệu quy trình viết chữ trên màn
hình.

- HS theo dõi quy trình viết.

Ví dục: Bài 93: oan, oăn, giàn khoan, tóc xoăn

1

1

4 3
2

1

2

34

1

Phương pháp mới
Thu hút sự chú ý của HS bằng

bảng lớp (bảng phụ), gọi 1 - 2 học phương pháp trực quan. Ví dụ khi giới
sinh đọc toàn bộ bài đã viết trên thiệu viết chữ n.
bảng. Với cách giới thiệu như vậy, - Giáo viên đưa lên màn hình hai nét
tôi nhận thấy:

chữ: nét móc xuôi và nét móc hai đầu.

+ Ưu điểm: Giảm việc làm cho giáo - Giáo viên đặt câu hỏi: trên màn hình
viên.

có hai nét gì?

+ Hạn chế: Vì biết bài viết trước nên - Hai nét này có thể tạo thành chữ gì?
học sinh phân tán, ít tập trung.

- Sau khi học sinh trả lời, giáo viên đưa
chữ mẫu n lên bảng - học sinh đọc "n"
+ Ưu điểm: Với phương pháp này, giáo
viên không chỉ củng cố các nét cơ bản
mà ngay từ đầu đã xác định được trọng
tâm của kiến thức thông qua việc giúp
11


học sinh tự phát hiện cấu tạo của con
chữ.
* Trong phần hướng dẫn học sinh viết:

+ Cách viết chữ n như thế nào?

nhau (chữ bị gầy).
+ GV hỏi: Viết như vậy có được không?
+ Tại sao (so sánh với chữ mẫu)
Giáo viên coi đó là những tình huống
cần cho học sinh tự nhận xét, so sánh
với chữ mẫu để học sinh thấy khoảng
cách hợp lí giữa hai nét. Từ đó đi tới
thống nhất một cách viết đúng.
- Khi hướng dẫn quy trình viết: giáo
viên đưa ra chữ mẫu, cho HS quan sát
lại quy trình viết chữ trên màn hình và
cuối cùng HS viết bảng con.

Sau đó giáo viên vừa viết chữ vừa - Học sinh được thực hành viết ngay chữ
hướng dẫn cách viết. Quy trình này vừa học trên bảng con. Như vậy học
được thực hiện tương tự với chữ m, sinh sẽ tránh tất cả các trường hợp sai
12


và tiếng ứng dụng. Sau đó học sinh khi đã được nêu ở trên.
thực hành viết.

- Giáo viên hướng dẫn HS nhận xét

- Khi giáo viên vừa viết vừa hướng bảng con, GV chữa bằng phấn màu (nếu
dẫn đơn điệu sẽ hạn chế trong việc HS viết sai hoặc viết chưa đẹp).
bao quát lớp, còn học sinh ngồi


dễ bao quát lớp, nhận xét, giúp đỡ kịp thời cho học sinh và kiểm soát được kết
quả học tập của lớp. Nhờ vậy giờ học trôi đi rất nhẹ nhàng và đạt hiệu quả cao
hơn.

13


4.3. Kích thích sự phát triển ở học sinh, tạo lòng tự tin cho các em khi
học viết.
Tôi nhận thấy ở bất kỳ môn học nào cũng vậy, học sinh sẽ tích cực học
hơn, chủ động hơn trong quá trình nhận thức khi các em không còn mặc cảm
với chính mình. Thầy cô giáo chính là người sẽ giúp các em bằng cách: Tôn
trọng sự tự phát hiện ở học sinh để gây lòng tự tin. Tự tin để các em không chỉ
viết đúng mà cần phải viết nhanh, viết đẹp.
Trong giờ học viết, khi học sinh phân tích cấu tạo chữ, hay quan sát mẫu
để khái quát quy trình viết, sau khi nghe học sinh trả lời, dù học sinh yếu nhất
tôi cũng cố "nhặt nhạnh" những ưu điểm rất nhỏ để kịp thời động viên. Tôi thấy
học sinh được động viên bao giờ cũng hứng thú học hơn và đó chính là động
lực thúc giục các em mạnh dạn, tiếp tục tìm tòi và sáng tạo.
Ví dụ:
- Khi cho học sinh ghép các nét cơ bản để tạo ra chữ cái: Đây là thao tác
dễ thực hiện nhưng lại chứa đựng kiến thức trọng tâm (nhận biết cấu tạo chữ).
Do đó, tôi thường dành yêu cầu này cho học sinh nhận thức chậm hơn so với
các bạn hoặc những học sinh có sức tập trung kém. Mục đích là để trẻ thực hiện
được yêu cầu. Bên cạnh với lời khen của giáo viên, của các bạn, các em tự tin
hơn ở chính mình, yêu thích môn học hơn.
- Khi luyện viết bảng con: học sinh viết xong, giáo viên chọn một bài
đẹp nhất và 2 đến 3 bài cần sửa để hướng dẫn học sinh trong lớp quan sát, tìm
lỗi sai của bạn bằng các gợi ý sau:
+ Con hãy chọn bài nào con cho là đẹp nhất.

giờ học, kết quả chữ viết của các em tốt hơn. Về phía phụ huynh học sinh thì
cảm thấy yên tâm khi con được giáo viên hướng dẫn viết chữ, được sửa nét một
cách tỉ mỉ. Đồng thời từ những nhận xét của giáo viên, các bậc phụ huynh biết
cách kết hợp cùng giáo viên khắc phục những sai sót về chữ viết của con em
mình trong khi hướng dẫn con tự học ở nhà.
4.4. Rèn cho học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, để vở đúng trong khi
viết:
Trong tất cả các giờ học và đặc biệt là trong giờ tập viết, GV rất cần
quan tâm, chú ý đến tư thế ngồi của học sinh khi viết.
- Tư thế ngồi viết: Lưng thẳng, không tì ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt
cách vở 25 – 30cm; cầm bút tay phải, tay trái tì nhẹ lên mép vở để giữ trang vở
không bị xê dịch; hai chân để song song, thoải mái.
- Cách cầm bút: Học sinh cầm bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ và
ngón giữa) với độ chắc vừa phải (không cầm bút chặt quá hay lỏng quá). Khi
viết, dùng ba ngón tay di chuyển bút nhẹ nhàng, từ trái sang phải, cán bút
nghiêng về bên phải, cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo, mềm mại,
thoải mái.
- Cách để vở, xê dịch vở khi viết: Khi viết chữ đứng, học sinh cần để vở
ngay ngắn trước mặt. Nếu tập viết chữ nghiêng, tự chọn cần để vở hơi nghiêng
sao cho mép vở phía dưới cùng với mép bàn tạo thành một góc khoảng 15 độ.
- Cách trình bày bài: Học sinh nhìn và viết đúng theo mẫu trong vở tập
viết; viết theo yêu cầu được giáo viên hướng dẫn, tránh viết dở dang chữ ghi
16


tiếng hoặc viết chòi ra mép vở không có dòng kẻ li; khi viết sai chữ, không
được tẩy xoá mà cần để cách một khoảng ngắn rồi viết lại.
Trong khi học sinh viết, giáo viên luôn để ý, nhắc nhở các em ngồi viết,
cầm bút sao cho đúng. Giáo viên có thể đến tận nơi những em nào chưa ngồi
đúng tư thế hoặc cầm bút chưa đúng, cho học sinh quan sát hình ảnh bạn ngồi

loại bút yêu cầu: nhẹ, chắc chắn, ngòi bút trơn để học sinh dễ viết và viết không
bị mỏi tay.
- Về mực thì quy định cả lớp dùng chung loại mực là Cửu Long xanh
đen. Yêu cầu học sinh phải bơm mực đầy đủ ở nhà trước khi đến lớp.
Việc chuẩn bị đầy đủ các đồ dùng học tập như trên sẽ giúp cho giờ học
được thuận lợi, cả giáo viên và học sinh không bị chi phối vào việc gọt bút, sửa
bút hay bơm mực, … Điều đó giúp cho việc thực hành viết chữ của học sinh
trôi chảy, đạt kết quả tốt.
4.6. Kết hợp với cha mẹ học sinh và tổ chức tốt các phong trào thi đua:
Đặc điểm của học sinh lớp 1 là nhanh quên, vì vậy việc rèn luyện viết chữ
đúng, đẹp cần được làm thường xuyên và liên tục ở mọi nơi, mọi lúc. Bên cạnh
sự rèn rũa của thầy cô ở lớp, việc cha mẹ giúp đỡ con rèn chữ ở nhà là rất quan
trọng Vì vậy, trong các buổi họp hoặc gặp gỡ với phụ huynh, tôi đã trao đổi rất kĩ
tầm quan trọng của việc rèn chữ cho học sinh lớp 1 và phổ biến cách dạy các con
ở nhà cho thống nhất với giáo viên ở lớp. Tôi phát tới từng phụ huynh tờ hướng
dẫn rèn chữ và yêu cầu chữ viết cần đạt để cha mẹ học sinh có cách dạy thống
nhất với giáo viên.
Mặt khác, tôi luôn chú ý bồi dưỡng lòng say mê và quyết tâm rèn chữ
viết cho học sinh thông qua các phong trào thi đua theo tuần, theo chủ điểm và
kết hợp với hội cha mẹ học sinh khen thưởng, động viên kịp thời những học
sinh viết đẹp hoặc viết có tiến bộ.
Ví dụ: Mỗi tuần vào tiết sinh hoạt lớp, tôi thường dành khoảng 5-10 phút
để tổng kết đánh giá việc rèn chữ, giữ vở của học sinh trong tuần và phát
thưởng.
Ngoài việc phát động thi đua trong học sinh, tôi còn giới thiệu các bài
viết đẹp của học sinh trong các buổi họp phụ huynh để cha mẹ học sinh tham
khảo và cùng thi đua rèn luyện chữ viết cho con em mình.

18


22
29
51

Hoàn thành
SL
%
20
90.9
28
96.6
48
94.1

Chưa hoàn thành
SL
%
2
9.1
1
3.4
3
5.9

Qua kết quả thống kê trên cho thấy chất lượng bài viết của học sinh lớp
tôi đã tiến bộ rõ rệt, chỉ còn 1 bài chưa hoàn thành là do học sinh đó sức khỏe
yếu, nhận thức chậm so với các bạn trong lớp. Trong khi đó, số học sinh hoàn
19




12

54.5

6

27.3

4

18.2

29

23

79.3

6

20.7

0

0

51

35

20


-Học sinh được trang bị đầy đủ vở tập viết, bảng con, bút chì, bút mực,
…. Và có ý thức luôn luôn cố gắng luyện viết chữ đúng, đẹp.

21


KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Từ thực trạng học sinh lớp 1 không hào hứng trong giờ học tập viết, các
em chỉ viết đối phó cho xong. Bài viết của học sinh mắc rất nhiều lỗi khác nhau
như viết nguệch ngoạc, không đúng kích cỡ, khoảng cách giữa các chữ không
đều, viết sai âm, thừa nét, thiếu nét, thiếu dấu hoặc dấu đánh không đúng vị trí.
Nhiều giáo viên còn xem nhẹ việc rèn chữ cho học sinh lớp 1: giáo viên viết
chưa đúng mẫu, truyền thụ một cách máy móc, không linh hoạt, sáng tạo, chưa
tạo hứng thú cho học sinh khi học viết, làm cho giờ học viết trở nên nhàm chán,
mệt mỏi. Tôi đã trăn trở suy nghĩ và thấy được việc chuẩn bị tốt về tâm lí cho
học sinh, về đồ dùng dạy học và sử dụng phương pháp dạy học phù hợp đối
tượng, hình thức tổ chức phong phú, cuốn hút học sinh sẽ tạo nên hiệu quả của
mỗi giờ học tập viết, luyện viết
Tôi đã mạnh dạn đề ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ
viết cho học sinh lớp 1, cụ thể như sau:
- Thu hút sự chú ý của học sinh bằng đồ dùng trực quan.
- Lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh trong khâu
giới thiệu bài và hướng dẫn viết cho học sinh.
- Kích thích sự phát triển ở học sinh, tạo lòng tự tin cho các em khi học viết
chữ.
- Rèn cho học sinh tư thế ngồi, cách cầm bút, để vở đúng trong khi viết.

dựa trên nguyên tắc tiếp cận cá thể và phân hoá trong giảng dạy để phát huy
tính tích cực, sáng tạo cho từng học sinh.
- Kiên trì uốn nắn, sửa chữa lỗi cho học sinh, biết chờ đợi sự tiến bộ của trò.
Động viên khích lệ kịp thời sự tiến bộ dù rất nhỏ của học sinh qua các giờ học
về chữ viết, cách trình bày.
- Biết kết hợp sự ủng hộ của cha mẹ học sinh trong việc rèn chữ cho con em họ.
Với nhà trường:
- Bố trí mỗi lớp học không quá đông học sinh (khoảng 25- 30 học sinh) để việc
rèn chữ cho học sinh được thực hiện dễ dàng hơn.
- Mỗi phòng học được trang bị máy tính, máy chiếu phục vụ cho các tiết dạy
giáo án điện tử.
Với lãnh đạo cấp trên:
23


- Nên điều chỉnh lại nội dung vở tập viết, luyện viết sao cho phù hợp với
chương trình mà Bộ Giáo dục quy định: từ tuần 25, nên cho học sinh tập viết
chữ cỡ nhỏ.
- Nâng cao chất lượng vở tập viết: vở tập viết hiện nay giấy quá mỏng, học sinh
viết hay bị nhòe.
- Vở tập viết nên in trên giấy vở 5 ô li để thống nhất với các loại vở khác vì
hiện nay vở tập viết chỉ có 4 dòng kẻ ngang.
Trên đây là toàn bộ những vấn đề tôi đã nghiên cứu và thực hiện tại
Trường nơi tôi công tác. Dù mức độ thành công chưa phải là nhiều nhưng phần
nào cũng giúp tôi làm tốt hơn việc rèn chữ viết cho học sinh lớp 1. Trên cơ sở
đó mà tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề rèn chữ viết cho học sinh các
lớp ở Tiểu học trong quá trình công tác lâu dài để nâng cao năng lực chuyên
môn.
Tuy nhiên do năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên các giải pháp tôi
đưa ra chắc hẳn còn thiếu sót, tôi rất mong được sự góp ý của Hội đồng Khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status