CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỮ VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 2”
Quảng Bình, tháng 02 năm 2019
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHỮ VIẾT
CHO HỌC SINH LỚP 2”
Họ và tên:
Nguyễn Thị Thương
Chức vụ:
Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Thủy
Quảng Bình, tháng 02 năm 2019
1. Phần mở đầu
cái đẹp ngày càng cao, viết chữ đẹp là điều đang được mọi người quan tâm và đã
gặt hái được nhiều thành công đáng kể. Đặc biệt phong trào "Vở sạch, chữ đẹp"
đang được các ban ngành, nhà trường, phụ huynh và học sinh quan tâm.
Trẻ em đến trường được học đọc, học viết. Sung sướng biết bao khi các bậc
làm cha làm mẹ được nhìn thấy con em mình tròn môi đọc từng tiếng và nắn nót
viết từng nét chữ thật đẹp.
Nếu như tập đọc giúp trẻ đọc thông, thì tập viết giúp trẻ viết thạo. Đọc
thông mở đường cho viết thạo, viết thạo sẽ giúp trẻ ghi nhanh, ghi rõ ràng những
điều thầy giảng và những điều trẻ nghĩ. Nhìn trang vở tập viết với những dòng chữ
đều tăm tắp, không bị giây mực, quăn mép, lòng ta dấy lên niềm vui, ta như được
củng cố thêm niềm tin vào tương lai của con trẻ. Nhưng muốn viết thạo, trẻ phải
gắng công khổ luyện dưới sự chăm sóc tận tình của các thầy cô giáo.
Nhưng giờ đây, chúng ta đang ở trong một thời đại mới, thời đại công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thời đại thông tin bùng nổ, mọi người thường
ngồi với chiếc máy vi tính của mình để soạn thảo một văn bản thay vì cầm bút viết
từng nét chữ trên từng trang giấy. Việc rèn chữ viết của mọi người đang dần bị
chìm vào quên lãng.
Đối với tôi, là một giáo viên dạy lớp 2 thì việc dạy học sinh viết chữ đẹp là
điều không dễ dàng và đòi hỏi người giáo viên cần có những kĩ năng và phương
pháp phù hợp bởi đối với học sinh lớp 2 nhất là lúc đầu năm học, mặc dù các em
đã được làm quen với việc viết chữ ở lớp 1 nhưng việc tập trung để viết chữ đúng
và đẹp là rất khó khăn bởi trình độ nhận thức của các em còn hạn chế, chưa chú ý
vào việc tập viết, các em viết nhanh, viết ẩu và viết sai rất nhiều, sai về độ cao, về
khoảng cách, về cấu tạo các con chữ... Thế nên cần có những biện pháp phù hợp
giúp các em học sinh lớp 2 rèn viết chữ đúng và đẹp hơn góp phần nâng cao chất
lượng học tập.
Là một giáo viên dạy lớp 2 tôi luôn trăn trở, tự hỏi làm thế nào để giúp cho
các em học sinh lớp 2 có thể viết đúng, viết đẹp. Với những lí do trên mà tôi chọn
một tình trạng đáng báo động. Hiện nay, học sinh lựa chọn đủ các loại bút để viết
nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chữ viết. Vẫn còn nhiều học sinh viết
chữ chưa đúng mẫu, chưa đúng độ cao các con chữ, kỷ thuật nối nét chưa đúng,
thế chữ không ổn định, viết sai các nét khuyết trên và nét khuyết dưới. Nhiều em
viết các chữ viết hoa chưa đúng độ cao, độ rộng, hình dạng con chữ. Ít có học sinh
có ý thức và chăm chỉ luyện viết thêm ở nhà. Mặt khác, chữ viết của một số giáo
viên chưa đúng quy định cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc rèn chữ viết của học
sinh. Mỗi thầy, cô giáo được xem như là một tấm gương phản chiếu để học sinh
soi rọi vào đó. Học sinh tiểu học là lứa tuổi hay “bắt chước” giáo viên viết như
thế nào thì học sinh viết như thế đó, đặc biệt là các lớp đầu cấp.
Thực tế qua giảng dạy ở lớp tôi chủ nhiệm, tôi nhận thấy vẫn còn nhiều học
sinh viết chữ chưa đẹp, chưa đúng mẫu, thế chữ không ổn định, viết sai chính tả
ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của các môn học khác. Cụ thể, kết
quả khảo sát kỹ năng viết sau 4 tuần học ở lớp tôi giảng dạy như sau:
Tổng
số HS
34
HS viết chữ
đẹp, đúng
mẫu
HS viết chữ
chưa đúng mẫu,
sai lỗi chính tả
HS viết thế
chữ không ổn
định
11,8
30
88,2
25
73,5
30
88,2
28
82,4
2.2 Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 rèn chữ viết đúng, viết đẹp
Chữ viết có tầm quan trọng đặc biệt ở bậc tiểu học, học sinh phải dùng chữ
viết để học tập và là phương tiện giao tiếp. Vì vậy, chữ viết không những có quan
hệ mật thiết tới chất lượng học tập ở các môn học khác mà còn góp phần rèn luyện
một trong những kĩ năng hàng đầu của việc học môn Tiếng Việt trong trường tiểu
học - đó là kỹ năng viết chữ. Nếu học sinh viết đúng, đẹp, rõ ràng, đảm bảo tốc độ
quy định thì học sinh có điều kiện để ghi chép bài học tốt, nhờ vậy mà kết quả học
tập tốt hơn, ngược lại viết xấu sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập của
các em. Chữ viết mang tính thực hành cao, ngoài việc học sinh nắm được các kiến
thức cơ bản của việc viết chữ và kỹ thuật viết thì rèn viết chữ đẹp là một yêu cầu
cũng hết sức quan trọng và cần thiết, vì vậy chúng ta cần chú ý rèn cho học sinh
những kiến thức cơ bản về cách viết các con chữ hoa như con chữ H cao 5 ô li,
gồm có 2 nét: nét 1 là sự kết hợp giữa nét cong trái và nét lượn ngang, nét 2: là sự
kết hợp của 3 nét: khuyết trên, khuyết dưới và nét móc ngược phải, nét 3: nét
thẳng đứng.
Ngoài ra giáo viên cần hướng dẫn cho các em biết được điểm đặt bút, dừng
bút đúng cách để hoàn thành viết một con chữ và xác định cách rê bút, lia bút. Rê
bút là nhắc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo đường nét viết trước
hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên. Từ rê được hiểu theo nghĩa di
chuyển chậm đều đều, liên tục trên bề mặt, do đó giữa đầu bút và mặt giấy không
có khoảng cách.
Lia bút là chuyển dịch đầu bút từ điểm dừng này qua điểm dừng khác,
không chạm vào mặt giấy. Từ lia xuất phát từ nghĩa ném hoặc đưa ngang thật
nhanh. Vì vậy khi lia bút ta phải nhắc đầu bút lên để đưa nhanh sang điểm khác,
tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy.
Cần cung cấp cho học sinh đầy đủ về mẫu chữ - mẫu chữ cái viết thường cỡ
chữ vừa: Các chữ cái được viết với độ cao 2,5 đơn vị (ô li): b, l, h, k, g, y. Các chữ
cái được viết với độ cao 2 đơn vị (ô li): d, đ, q, p. Các chữ cái được viết với độ cao
1,5 đơn vị (ô li): t. Các chữ cái được viết với độ cao 1,25 đơn vị (ô li): r, s. Các
chữ cái còn lại được viết với độ cao 1 đơn vị (ô li): o, ô, ơ, a, ă, â, u, ư, i, c, e, ê, n,
m. Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh 0,5 đơn vị (ô li).
Với mẫu chữ cái viết hoa: Các chữ cái được viết với độ cao 5 đơn vị (ô li).
Còn mẫu chữ số được viết với độ cao 2 đơn vị (ô li).
Giáo viên cần lưu ý khi dạy viết ứng dụng các chữ ghi tiếng có chữ cái viết
hoa đứng đầu (tên riêng, chữ viết hoa đầu câu...), cần hướng dẫn học sinh cách
viết tạo sự liên kết bằng nối nét hoặc để khoảng cách hợp lí giữa chữ cái viết hoa
và chữ cái viết thường.
Cụ thể: Có 17 chữ cái viết hoa A, Ă, Â, G, H, K, L, M, Q, R, U, Ư, Y (kiểu
1), A, M, N, Q (kiểu 2) có điểm dừng bút hướng tới chữ viết thường kế tiếp như
Hà Nội, Quỳnh Trâm...
Có 17 chữ cái viết hoa B, C, D, Đ, E, Ê, I, N, O, Ô, P, S, T, V, X (kiểu 1), V
viết trong vở Tập viết. Để thực hành luyện viết đạt kết quả tốt, học sinh cần có ý
thức chuẩn bị và sử dụng có hiệu quả một số đồ dùng học tập thiết yếu sau:
Thứ nhất: bảng con màu đen (hoặc xanh đậm), bề mặt có độ nhám vừa phải,
dòng kẻ ô rõ ràng, đều đặn dễ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh viết phấn. Bảng
con là công cụ thực hành tiện lợi và hiệu quả đối với học sinh, có tác dụng tích cực
trong quá trình dạy tập viết ở tiểu học. Loại bảng viết bằng phấn và loại bảng viết
bằng bút dạ có những mặt ưu và một số hạn chế nhất định khi sử dụng, song tác
dụng của chúng đối với rèn kĩ năng viết cho học sinh là rất quan trọng.
Thứ hai: Phấn trắng có chất lượng tốt sẽ làm nổi rõ hình chữ trên bảng. Nếu
viết bút dạ thì bút phải cầm vừa tay, đầu bút nhỏ, ra mực đều mới viết được rõ
ràng.
Thứ ba: Khăn lau sạch, có độ ẩm vừa phải, dễ cầm tay sẽ giúp cho việc xóa
bảng hợp vệ sinh và không ảnh hưởng đến chữ viết.
Thứ tư: Vở tập viết phải đúng mẫu theo quy định của Bộ Giáo dục. Học
sinh phải giữ vở sạch sẽ, bao bìa kính ở ngoài, có ghi tên, lớp rõ ràng. Khi sử dụng
vở tập viết thì học sinh lưu ý không được làm dơ, bẩn, trình bày chữ viết sạch sẽ,
đẹp, khoa học, không bôi xóa lung tung.
Thứ năm: Bút, với bút mực thì phải sử dụng bút không nhạt quá, cũng
không đậm quá. Với bút máy thì phải chọn bút máy chuẩn, ngòi mềm, đầu bút
thanh, vừa tay cầm và chuẩn bị mỗi bạn một lọ mực, một cái khăn và một cái bìa
kê tập. Khi viết bút mực giáo viên cần lưu ý cho học sinh viết cẩn thận, không để
mực dây ra tập, quần áo, không được viết nhanh, viết ẩu, viết ngoáy.
b. Hướng dẫn học sinh tư thế ngồi viết, cách cầm phấn, cầm bút
Quá trình hình thành kĩ năng viết chữ trải qua hai giai đoạn:
Giai đoạn nhận biết, hiểu về chữ viết thông qua hoạt động của các giác quan
mắt, tai và hoạt động của vùng ngôn ngữ trong bộ não.
Giai đoạn điều khiển vận động (cơ, xương bàn tay), thường có hiện tượng
"lan tỏa", dễ ảnh hưởng tới một số bộ phận khác trong cơ thể (ví dụ: miệng méo,
c. Hướng dẫn học sinh viết đúng, viết đẹp
* Củng cố cho học sinh những kiến thức căn bản của cách viết:
Vào đầu năm học giáo viên đã củng cố kiến thức cơ bản về độ cao, độ rộng,
khoảng cách các con chữ và chữ, các quy tắc đặt dấu thanh, cách cầm phấn, cầm
bút, tư thế ngồi viết để học sinh nắm chắc nhằm tạo cho các em những thói quen
tốt trong việc rèn viết chữ.
Giáo viên giúp học sinh xác định lại vị trí đường kẻ trong vở học sinh, tọa
độ của các nét chữ, chữ trong khung chữ mẫu
Về cơ bản, hình dạng 29 chữ cái viết thường cỡ chữ vừa có thể chia thành
ba nhóm, có cấu tạo các nét cơ bản gần gũi với nhau. Luyện viết theo từng nhóm
chữ giúp cho kĩ năng viết các nét cơ bản thành thạo, tạo thói quen viết đều nét và
đẹp chữ. Dựa vào mẫu chữ viết trong trường Tiểu học, tùy điều kiện giáo viên có
thể cho học sinh luyện viết theo hai cách:
Ở giai đoạn của việc luyện viết, giáo viên nên chọn loại vở kẻ ô vuông nhỏ
(dòng kẻ 4 ô ly), để dễ xác định chiều cao và bề rộng cho đúng tỉ lệ. Biện pháp
thực hiện chủ yếu là từ dễ đến khó theo từng nhóm chữ:
Nhóm 1: i, u, ư, t, n, , m, v, r: các chữ cái ở nhóm này có chiều cao 1 đơn
vị (ô li), riêng chữ cái r có cao 1, 25 đơn vị (ô li), chữ t cao 1, 5 đơn vị (ô li). Bề
rộng cơ bản của chữ là 3/4 đơn vị (ô li), riêng chữ cái m rộng 1, 5 đơn vị (ô li).
Chữ cái ở nhóm này thường được cấu tạo bởi các nét móc (móc xuôi, móc ngược,
móc hai đầu). Khi luyện viết chữ hai nét móc xuôi và móc hai đầu cần chú trọng
vì chúng khó viết hơn nét móc ngược, 4 chữ cái n, m, v, r cần được luyện tập
nhiều lần để nét viết mềm mại, đẹp mắt.
Nhóm 2: l, b, h, k, y, p: các chữ cái này có chiều cao 2, 5 đơn vị (ô li), riêng
chữ cái p cao 2 đơn vị (ô li), bề rộng cơ bản của chữ là 3/4 đơn vị (ô li). Về cấu
tạo chữ cái ở nhóm này có nét khuyết (khuyết trên, khuyết dưới), có những điểm
gần gũi với chữ cái ở nhóm 1 (nửa dưới của chữ b giống với chữ v, nửa dưới của
luyện cách điều khiển đầu bút để tạo những nét cong đúng mẫu. Trong các chữ ở
nhóm này thì chữ C và chữ E tương đối khó viết nên học sinh cần chú ý quan sát
kĩ khi giáo viên viết mẫu và phải luyện viết nhiều để tạo dáng chữ mềm mại.
Nhóm 4: P, R, B,D, I, K, H, S, L,V: các chữ này đều có nét cơ bản được
biến điệu hoặc có sự kết hợp hài hòa các nét cơ bản trong một nét viết.
Nhóm 5: O, Ô, Ơ, Q, ( A, Q kiểu 2): các chữ hoa ở nhóm này được viết bởi
1 hoặc 2 nét nhưng có nét đòi hỏi viết liền mạch và điều khiển đầu bút theo nhiều
hướng.
Ngoài ra giáo viên cần cho học sinh hiểu rõ các khái niệm cơ bản về dòng,
khoảng cách... Dòng (thể hiện chữ viết) được hiểu theo nghĩa là khoảng để viết
hoặc xếp chữ kế tiếp nhau thành hàng, ví dụ: giấy có kẻ dòng, chấm xuống dòng.
Vở tập viết của học sinh được trình bày theo các ô vuông, có các dòng kẻ ngang.
Mỗi dòng viết gồm 5 dòng kẻ ngang, chia thành 4 li (mỗi li khoảng cách giữa hai
dòng kẻ - 0, 25cm). Mẫu chữ viết trong trường Tiểu học có độ cao tính theo đơn vị
(bằng chiều cao chữ cái ghi nguyên âm), tương ứng với li trong vở Tập viết như
sau: viết theo cỡ chữ nhỏ thì chiều cao chữ cái ghi nguyên âm là 1li, chữ viết theo
cỡ vừa chiều cao chữ cái là 2 li. Từ đó có thể hiểu mẫu chữ cái trong bảng mẫu
chữ do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành được trình bày theo cỡ vừa (chiều cao
chữ cái ghi nguyên âm là 2 li - 1 đơn vị, chữ cái viết thường có chiều cao lớn nhất
là 5 li, hầu hết chữ cái viết hoa có chiều cao 5 li.
* Hướng dẫn học sinh luyện viết:
Đây là khâu rất quan trọng vì nếu chúng ta hướng dẫn kỹ sẽ giúp học sinh
thực hành nhanh và chính xác hơn. Tôi tiến hành luyện viết cho học sinh theo các
bước như sau:
Bước 1: Viết mẫu:
Để tạo được hiệu quả dạy học, giúp học sinh hình dung ra các chữ thường
cũng như chữ hoa một cách sinh động, rõ ràng thì giáo viên cần chuẩn bị những
mẫu chữ viết sẵn có các dòng kẻ sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn lại cách viết để
giúp học sinh khắc sâu hơn. Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát chữ mẫu: nhận
biết về hình dạng, cấu tạo nét, so sánh với chữ cái đã học trước đó. Giáo viên
hay sai, hoàn thành tốt, hoàn thành hay chưa hoàn thành. Sau khi cho học sinh
thực hành viết bảng con và giáo viên đã sửa lỗi thì giáo viên cho học sinh viết bài
vào vở.
Trước khi viết bài giáo viên cho học sinh nhắc lại tư thế ngồi viết, cách cầm
bút để học sinh ngồi đúng và đẹp trong quá trình viết. Trong khi học sinh viết bài,
giáo viên phải theo dõi, quan sát, nhắc nhở học sinh viết đúng và viết đẹp.
Khi dạy từ ngữ ứng dụng, ngoài việc hướng dẫn học sinh viết chữ ghi tiếng,
giáo viên còn phải quan tâm, nhắc nhở các em viết đúng khoảng cách giữa các chữ
đều đặn, hợp lí. Khoảng cách giữa các chữ thường được ước lượng bằng một chữ
cái o viết thường. Giữa các từ ứng dụng, học sinh viết theo điểm đặt bút, dừng bút.
Khi dạy viết câu ứng dụng, giáo viên cần lưu ý về cách viết và đặt dấu câu:
dấu chấm, dấu phẩy, dấu hỏi...
Bước 4: Nhận xét chữa bài:
Việc nhận xét bài của học sinh cũng rất quan trọng, thường căn cứ vào mục
đích, yêu cầu đặt ra cho từng bài học theo chương trình quy định. Qua việc nhận
xét bài, giáo viên cần giúp cho học sinh tự nhận thức được ưu điểm để phát huy,
thấy rõ những thiếu sót để khắc phục, kịp thời phát hiện, động viên những cố
gắng, nổ lực của học sinh khi viết chữ. Giáo viên cần viết lại những chữ học sinh
viết sai để học sinh thấy được cái sai và sửa lại cho đúng và ghi lời nhận xét ngắn
gọn.
Sau mỗi tiết học Tập viết, Chính tả, luyện viết, khi nhận xét bài cho học
sinh, giáo viên cần nhận xét thật tỉ mỉ các nét chữ trong con chữ mà học sinh vừa
viết và phân tích rõ nguyên nhân học sinh viết chưa đúng, chưa đẹp để lần sau học
sinh rút kinh nghiệm cho những lần viết sau.
Qua việc nhận xét bài thường xuyên trên lớp, tôi phát hiện một số học sinh
viết chữ còn chưa đẹp các nét khuyết của các con chữ (l, b, g, h, k), nét móc xuôi
của các con chữ (n, m, p). Tôi tập trung các em thành nhóm theo đối tượng và
hướng dẫn cách viết.
+ Luyện viết ở nhà
Ở trường, thời gian không đủ để các em luyện tập, do đó sau mỗi bài viết
trên lớp tôi thường yêu cầu các em về nhà tự luyện vào vở. Để tránh nhàm chán
cho các em tôi thường cho thêm những bài thơ, bài văn yêu cầu các em viết ở nhà.
Ví dụ: Để giúp các em phân biệt và luyện viết chữ ng – ngh tôi yêu cầu các
em viết:
Dù ai nói ngả nói nghiêng
Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
Sau mỗi bài luyện viết của học sinh, giáo viên thu tập vở của học sinh và
nhận xét bằng bút đỏ, ghi các lỗi học sinh mắc phải để học sinh thấy được những
điểm sai và làm tốt hơn cho những bài viết sau.
2.2.3 Một số biện pháp hỗ trợ giúp học sinh viết tốt hơn
a. Giáo viên phải là tấm gương cho học sinh học tập về viết chữ đẹp
Để nâng cao chất lượng viết chữ đẹp ở học sinh lớp 2 thì người giáo viên
phải là người viết chuẩn, đẹp và thường xuyên rèn luyện chữ viết. Bởi trong mắt
học sinh thì cô giáo là “thần tượng” là người các em rất xem trọng và được các
em lấy làm mẫu mực nhất. Bởi vậy giáo viên phải là người nắm vững kiến thức về
cấu tạo, đặc điểm chữ viết và các kiểu mẫu chữ và chữ viết của giáo viên phải
đúng, chuẩn và đẹp. Các em sẽ nhìn, quan sát và bắt chước những nét chữ từ đơn
giản đến phức tạp của cô giáo. Nếu giáo viên viết chữ đẹp và có ý thức rèn chữ
viết thì chất lượng chữ viết của lớp đó sẽ cao. Qua quan sát tôi thấy rằng nét chữ
của các lớp khác nhau nhưng trong một lớp thì lại tương đối giống nhau và rất
giống chữ của giáo viên, bởi học sinh lớp 2 rất dễ bắt chước. Do đó giáo viên cần
phải thường xuyên rèn luyện chữ viết để nâng cao chất lượng chữ viết của mình.
Điều mà giáo viên phải làm và làm thường xuyên đó là thể hiện nét chữ của mình
trên bảng lớp mỗi ngày sao cho khoa học, đẹp, đúng mẫu để học sinh học hỏi.
Giáo viên cần viết đúng chính tả, đúng mẫu, rõ ràng và ngay ngắn, cách trình bày
lề bảng, dòng chữ ghi ngày tháng năm, tên môn, tên bài học cần được viết rất mẫu
mực không qua loa và tuyệt đối là không được sai chính tả. Vậy nên đòi hỏi giáo
trường sẽ thông báo tình hình học tập và rèn luyện chữ viết của học sinh qua sổ
liên lạc gia đình để phụ huynh có kế hoạch kèm cặp thêm ở nhà .
Giáo viên cần nâng cao nhận thức cho phụ huynh về tầm quan trọng của
việc viết chữ đẹp để từ đó phụ huynh kết hợp với giáo viên có những biện pháp
phù hợp giúp các em rèn viết chữ tốt hơn.
d. Xây dựng phong trào "Giữ vở sạch - Viết chữ đẹp".
Từ đầu năm học giáo viên cần tiến hành kiểm tra sách vở, đồ dùng học tập
của học sinh, hướng dẫn học sinh dùng loại vở ô ly của công ty Hồng Hà, dùng
loại bút nào để luyện viết, hướng dẫn học sinh cách bọc vở và bảo quản, giữ gìn
sách vở như thế nào trong năm học. Hướng dẫn cho học sinh các tiêu chuẩn cần
phấn đấu để đạt danh hiệu “Vở sạch - Chữ đẹp”. Đồng thời cùng học sinh ra quyết
tâm thực hiện các chỉ tiêu về phong trào rèn chữ viết và giữ gìn sách vở của lớp.
Giáo viên nên lấy những tấm gương của các anh chị lớp trên đạt danh hiệu trong
phong trào “Vở sạch- Chữ đẹp”, cấp trường, cấp huyện để làm gương cho các em
học tập, noi theo.
Ngoài yêu cầu viết đúng, viết đẹp giáo viên cần hướng dẫn cách trình bày ở
vở của học sinh trong từng thể loại bài, cách kẻ vở khi hết bài, hết môn, hết ngày
và hết tuần như thế nào để thống nhất trong cả lớp để tạo một sự đồng đều và đẹp.
Khi phát hiện những học sinh có năng khiếu và viết chữ khá đẹp, giáo viên
phải có định hướng từ đầu là phải luôn chú ý theo dõi, kèm cặp nhắc nhở, hướng
dẫn những cách viết mới, những kiểu chữ hoa, chữ in nghiêng, chữ nét thanh nét
đậm… để học sinh luôn ghi nhớ, cố gắng luyện tập thường xuyên và có hướng
phát huy năng khiếu. Còn những học sinh viết còn yếu thì cần có kế hoạch phụ
đạo, kèm cặp và có kế hoạch bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu, viết đẹp.
Để tạo hiệu quả nhanh thì giáo viên hàng tuần phải kiểm tra và nhận xét,
động viên để học sinh cố gắng hơn ở tuần tiếp theo. Và có phần thưởng, tuyên
dương những học sinh viết chữ đẹp sau mỗi tháng để giúp các em phấn đấu và cố
gắng trong những tháng sau.
những phần thưởng như tập sách, bút hay một hộp bánh để giúp các em có chí
hướng phấn đấu.
2.3. Kết quả:
Qua nghiên cứu và áp dụng các biện pháp rèn luyện chữ viết cho các em tôi
thấy rằng chất lượng chữ viết của học sinh có nhiều tiến bộ rõ rệt. Số lượng học
sinh viết đúng, viết đẹp nhiều hơn, số học sinh viết chưa đúng mẫu giảm xuống.
Không còn học sinh viết không đúng độ cao các con chữ, sai hình thái các con
chữ. Học sinh ít viết sai lỗi chính tả...
Chất lượng phong trào "Giữ vở sạch- Viết chữ đẹp" lớp tôi đúng đầu khối.
Qua hội thi "Viết chữ đẹp" cấp trường lớp tôi đạt giải Nhất tập thể, có 2 em đạt
giải Nhất, 3 em đạt giải Nhì và 3 em đạt giải Ba. Có 2 em được chọn bài đi dự thi
cấp huyện.
Kết quả khảo sát kỹ năng viết tuần 24 ở lớp tôi giảng dạy như sau:
Tổng
số HS
34
HS viết chữ
đẹp, đúng
mẫu
HS viết chữ
chưa đúng mẫu,
sai lỗi chính tả
HS viết thế
chữ không ổn
định
1
2,9
5
14,7
3
8,8
0
0
3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của sáng kiến
Nâng cao chất lượng chữ viết cho học sinh là việc làm hết sức quan trọng
và thiết thực. Rèn cho các em ý thức viết đúng, viết đẹp là rèn cho các em tính cẩn
thận, tỉ mĩ, óc sáng tạo và khiếu thẫm mĩ. Chữ viết đúng, viết đẹp phản ánh tính
nết của các em học sinh. Mỗi giáo viên chúng ta cần phải làm tốt công tác này
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.
Qua thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi đã tuyên truyền, tạo được uy tín,
niềm tin đối với phụ huynh học sinh giúp họ hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc
rèn chữ viết đúng, đẹp. Để từ đó cùng với sự hướng dẫn của giáo viên, phụ huynh
mua các loại vở, đồ dùng học tập đầy đủ, đúng chuẩn để giúp các em rèn chữ viết
phải đúng chuẩn, không để bàn thấp, ghế cao hay ghế quá cao so với bàn... Hệ
thống bóng đèn, cửa sổ phải cung cấp đủ ánh sáng cho học sinh ngồi học để học
sinh có điều kiện thuận lợi trong việc rèn chữ.
Bên cạnh đó, sau mỗi học kỳ nhà trường cần có những chương trình tổ chức
triển lãm các thành quả mà học sinh đã làm được như các bài thi viết chữ đẹp,
những tập vở tiêu biểu để cho các em, các bậc phụ huynh cùng xem và thấy được
những thành quả của con em mình đã ý thức rèn luyện và để học sinh các lớp có
sự thi đua học tập lẫn nhau.
3.3.2. Đối với giáo viên
Giáo viên phải là tấm gương sáng cho các em noi theo từ những việc nhỏ
nhất: tư thế ngồi viết, cách cầm bút, chữ viết bảng, cách trình bày bảng, cách nhận
xét cho học sinh. Và cái cần ở người giáo viên nữa đó là lòng yêu nghề, yêu trẻ, sự
tận tâm, tận tình chỉ dạy cho học sinh. Nắm bắt được những mặt mạnh và mặt yếu
của từng học sinh, từ đó phân nhóm học sinh, lên kế hoạch bồi dưỡng chữ viết
cũng như phụ đạo cho từng nhóm đối tượng học sinh và thường xuyên trau dồi
chữ viết, luyện tập nhiều, không ngừng học hỏi bạn bè, đồng nghiệp để làm phong
phú vốn kiến thức về chữ viết và những kĩ thuật trong rèn viết chữ đẹp.
Trên đây là một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng chữ viết cho học
sinh lớp 2 được thực nghiệm trong quá trình dạy học của tôi. Trong quá trình
nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót nên tôi rất mong nhận được sự
đóng góp ý kiến của đồng nghiệp và cấp trên để đề tài này của tôi được hoàn thiện
hơn.
Trân trọng cảm ơn !