Đề cương lịch sử Đảng - Pdf 27

Đề cương lịch sử Đảng
Câu 1: Phân tích các phong trào yêu nước Việt Nam cuối
thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Ý nghĩa của các phong trào đó
đối với sự ra đời của Đảng cộng sán Việt Nam.
Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ
thống trị rất tàn bạo, và phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta.
Xã hội VN có những biên đổi to lớn: Từ chế độ phong kiến chuyển sang
thuộc địa nửa phong kiến. Hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong xã hội ngày
càng gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc Pháp
xâm lược và giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với bọn địa chủ, phong
kiến tay sai- chỗ dựa của thực dân Pháp. Trước hoàn cảnh ấy, rất nhiều
phong trào đấu tranh yêu nước đã nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau.
Mặc dù bị thất bại nhưng các phong trào đã để lại ý nghĩa sâu sắc, thúc đấy
quá trình ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, với tinh thần yêu nước sâu sắc, nhân
dân ta đã đứng dậy đấu tranh chông thực dân pháp và bọn tay sai phản động.
Các cuộc đấu tranh này diễn ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau.
Một là: Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và
tư sản.
Phong trào Cần Vương (1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang
do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã dẫy lên một phong trào
chống Pháp rộng lớn ở Bắc và Trung kỳ. Tuy nhiên cuối cùng bị thất bại. Sự
thất bại của Phong tào Cần vương đã chuwngsn tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng
phong kiến trong việc giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc.
Phong trào đấu tranh của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh:Phan Bội
Châu chủ trương dựa vào bên ngoài để đánh Pháp, giành độc lập dân tộc,
phương pháo tiến hành là bạo động. Ông lập ta Duy tân hội, Việt Nam
quang phục hội, tổ chức phong tào Đông du.
Phan Châu Trinh với khuynh hướng cải cách, chủ trương ỷ Pháp cầu tiến bộ,
phát động một cuộc duy tân để nhằm đưa dất nước ngày một phát triên, dần
dần thoát ra khỏi ách thống trị cử người Pháp.

Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhưng cũng
chưa có một hệ thống tổ chức thống nhất.
Ngày 9/2/1930, Việt Nam quốc dân Đảng phát động cuộc khởi nghĩa Yên
Bái nhưng nhanh chóng bị dập tắt.

Nhìn chung, các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở
Việt Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia
với những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần
chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì
2
giai cấp tư sản Việt Nam nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ sức
lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
Mặc dù thất bại nhưng các phong trào yêu nước theo khuynh hướng
dân chủ tư sản đã góp phần cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân
ta, đặc biệt góp phần thúc đẩy những nhà yêu nước, nhất là lớp thanh niên trí
thức có khuynh hướng dân chủ tư sản chọn lựa một con đường mới, một giải
Hai là: Phong trào yêu nước theo khuynh hướng vô sản
Nguyễn Aí Quốc tìm đường giải phóng dân tộc:
Trước yêu cầu của cách mạng, ngày 5- 6-1911, Nguyễn Ái Quốc đã
lên đường sang các nước phương Tây, nơi có khoa học- kỹ thuật phát triển
và những tư tưởng dân chủ tự do, xem “nước Pháp và các nước phương Tây
làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào mình’’.
Trong những ngày hoạt động cách mạng sôi nổi đó, cuộc Cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ làm chấn động toàn cầu. Người hướng
đến ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười và chịu ảnh hưởng sâu sắc tư
tưởng của cuộc cách mạng vĩ đại đó.
Tháng 7- 1920, nguyễn Ái Quốc đọc được bản “Sơ thảo lần thứ nhất
Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lênin. Người tìm thấy trong
Luận cương lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam.
Tháng 12-1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp ở

niên( tháng 6/1925), hạt nhân là “Cộng sản đoàn”. Cơ quan ngôn luận của
Hội là tuần báo Thanh niên. Từ năm 1925-1927, Người mở nhiều lớp huấn
luyện chính trị tại Quảng Châu, đào tạo cán bộ cho cách mạng Việt Nam.
Sau các khoá học một số được chọn đi học ở trường Đại học Phương Đông
của Quốc tế Cộng sản, phần đông được đưa về nước hoạt động. Đây là sự
chuẩn bị có ý nghĩa quyết định về mặt tổ chức cho sự ra đời Đảng Cộng sản
Việt Nam.
Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu
được xuất bản thành sách với tên gọi là “Đường kách mệnh”. Trong tác
phẩm này, Nguyễn Ái Quốc vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến
lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam:
Trước tiên, Người chỉ rõ các cuộc cách mạng tư sản là không triệt để,
chỉ có cách mạng tháng 10 Nga là triệt để nhất. Vì thế, cách mạng Việt Nam
cần phải đi theo con đường cách mạng của học thuyết Mac- lenin thì mới
thành công.
Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam:Cách mạng Việt Nam
trước hết phải làm dân tộc cách mệnh, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, dành
độc lập tự do, đồng thời tiến lên làm giai cấp cách mệnh, đánh đuổi tư bản
nhằm giải phóng quần chúng nhân dân lao động.
Lực lượng cách mạng: Gồm “ sĩ, nông, công, thương”, trong đó, công-
công là chủ cách mênhj, là gốc cách mệnh, còn học trò, nhà buôn, điền chủ
nhỏ chỉ là “bầu bạn của cách mạng”.
Phương pháp cách mạng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì
vậy, phải động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng vùng lên đánh đuổi kẻ
thù.”
Vấn đề đoàn kết quốc tế : Nguyễn Ái Quốc xác định, Cách mạng Việt
Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới cần được sự giúp đỡ của quốc tế
nhưng không được ỷ lại mà phải chủ động, tự cường.
Sự lãnh đạo của Đảng: Cách mạng muốn thắng lợi “ trước hết phải có
Đảng cách mệnh. Đảng có vững, cách mệnh mới thành công”.

Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Tân Việt cách mạng Đảng cũng có sự
chuyển biến mạnh mẽ.
Sự ra đời của Đông Dương cộng sản Đảng (6-1929) và An Nam cộng
sản Đảng (8-1929) tác động mạnh mẽ đến sự phân hoá trong Tân Việt,
những đảng viên tiên tiến đã tách ra thành lập các chi bộ cộng sản. Tháng 9-
1929, họ lập ra Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Như vậy, chưa đầy 4 tháng, ở Việt Nam đã có 3 tổ chức cộng sản ra
đời, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam. Nó chững
tỏ hệ tư tưởng cộng sản đã giành được ưu thế trong phong trào yêu nước dân
tộc. Sự kiện này cũng chỉ ra rằng, những điều kiện để thành lập Đảng đã
hoàn toàn chín muồi trong phạm vi cả nước. Yêu cầu của cách mạng nước ta
là phải hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập một Đảng cộng sản thống
nhất.
Y nghĩa: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh của
các tầng lớp nhân dân ta diễn ra sôi nổi, theo nhiều khuynh hướng khac
5
nhau: Phong kiến, tư sản... mặc dù bị thất bại nhưng đã để lại ý nghĩa lịch sử
to lớn: góp phần cỗ vũ tinh thần yêu nước của nhân dân ta, là những đòn
đánh chí mạng vào kẻ thù và bọn tay sai phản động, có tác dụng làm nền
tảng để thúc đẩy các phong trào đấu tranh theo khuynh hướng mới ra đời:
khuynh hướng vô sản.
Với sự hoạt động tích cực của Nguyễn Aí Quốc, cùng các phong trào yêu
nước đấu tranh theo khuynh hướng vô sản, với sự ra đời của 3 tổ chức Đảng
đã thúc đẩy sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam. Đó thực chất là sự chuẩn
bị về tổ chức, chính trị cho sự thành lập Đảng.
Với sự chín muồi về điều kiện, tổ chức, chính trị, ngày 3/2/1930, Đảng cộng
sản Việt Nam ra đời. Sự ra đời của Đảng là sự kết hợp của chủ nghĩa Mac-
leenin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Do đó, có thể nói, sự
phát triển của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX có ý
nghĩa quyết định trực tiếp đối với sự ra đời của Đảng cộng dản Việt Nam.

của cách mạng tháng 10 đã soi sáng con đường của Nguyến ái quốc.
Từ khi đọc bản sơ thảo lần thứ nhất luận cương về “Những vấn đề về
dân tộc và thuộc địa” của LêNin, Người đã tìm ra con đường cách mạng vô
sản. người khẳng định “ Muốn cứu nước , giải phóng dân tộc ko có con
đường nào khác ngoài con đường cách mạng Vô sản ”
Từ đó, Người tích cực hoạt động, truyền bá những tư tưởng của cách mạng
vô sản vào Việt Nam bằng nhiều hình thức khác nhau: Viết bai cho các báo
Người cùng khổ, Nhân đạo, Đời sống công nhân. Người viết một số tác
phẩm, đặc biệt Bản án chế độ thực dân Pháp, tố cáo tội ác của thực dân Phap
và tay sai, kêu gọi sự đoàn kết, đấu tranh của các tầng lớp nhân dân..
Đầu năm 1927, những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại Quảng Châu
được xuất bản thành sách với tên gọi là “Đường kách mệnh”. Trong tác
phẩm này, Nguyễn Ái Quốc vạch ra những phương hướng cơ bản về chiến
lược và sách lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam:
Trước tiên, Người chỉ rõ các cuộc cách mạng tư sản là không triệt để,
chỉ có cách mạng tháng 10 Nga là triệt để nhất. Vì thế, cách mạng Việt Nam
cần phải đi theo con đường cách mạng của học thuyết Mac- lenin thì mới
thành công.
Tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam:Cách mạng Việt Nam
trước hết phải làm dân tộc cách mệnh, nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, dành
độc lập tự do, đồng thời tiến lên làm giai cấp cách mệnh, đánh đuổi tư bản
nhằm giải phóng quần chúng nhân dân lao động.
Lực lượng cách mạng: Gồm “ sĩ, nông, công, thương”, trong đó, công-
công là chủ cách mênhj, là gốc cách mệnh, còn học trò, nhà buôn, điền chủ
nhỏ chỉ là “bầu bạn của cách mạng”.
Phương pháp cách mạng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Vì
vậy, phải động viên, tổ chức và lãnh đạo quần chúng vùng lên đánh đuổi kẻ
thù.”
Vấn đề đoàn kết quốc tế : Nguyễn Ái Quốc xác định, Cách mạng Việt
Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới cần được sự giúp đỡ của quốc tế

liên với CNXH, mở ra thời đại mới: Thời đại HCM. Những thành tựu to lớn
này đạt được là nhờ sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Bởi vậy, có ý
kiến cho rằng “Sự ra đời của Đảng cộng sản việt nam(3/2/1930) đã chấm dứt
thời kì khủng hoàng của cách mạng VN”.
Từ năm 1858, thực dân Pháp xâm lược và từng bước thiết lập chế độ
thống trị rất tàn bạo, và phản động của chủ nghĩa thực dân trên đất nước
ta.Xã hội VN có những biên đổi to lớn: Từ chế độ phong kiến chuyển sang
thuộc địa nửa phong kiến. Hai mâu thuẫn cơ bản, chủ yếu trong xã hội ngày
càng gay gắt. Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc ta với đế quốc Pháp
xâm lược và giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với bọn địa chủ, phong
kiến tay sai- chỗ dựa của thực dân Pháp.
8
Nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và bọn phong kiến tay sai là
không tách rời nhau. Đó là yêu cầu của cách mạng VN. Với truyền thống
yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã liên tiếp đứng lên chống thực dân pháp
xâm lược và bọn phong kiến tay sai ở khắp mọi nơi dưới sự lãnh đạo của các
sĩ phu và các nhà yêu nước đương thời theo nhiều khuynh hướng khác nhau.
Song các phong trào đấu tranh đó đều bị thất bại. Nguyên nhân chủ yếu là
chưa tìm được con đường cứu nước đúng đắn, chưa có một lực lượng xã hội,
một giai cấp tiên tiến và một tổ chức cách mạng chặt chẽ đủ sức lãnh đạo
phong trào. Cách mạng Việt Nam đứng trước sự bế twacs và khủng hoảng
về đường lối.
Giua lúc đó, Nguyễn Aí Quốc – người con ưu tú của dân tộc Việt
Nam ra đi tìm đường cứu nước. Sau 10 năm bôn ba khắp năm châu bốn bể,
Người đã bắt gặp được chủ nghĩa Mác- Leenin và tìm được con đường cứu
nước đúng đắn. Người nói: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có
con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Đây là bước ngoặt
đánh dấu sự chuyển biến quyết định mở đường cho thắng lợi của cách mạng
giải phóng dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Aí Quốc đã truyền bá chủ nghĩa Mác- leenin về Việt Nam,

cấp vô sản trở thành giai cấp lãnh đạo cách mạng.
Đảng giúp cho cách mạng VN trở thành một bộ phận của cách mạng
thế giới. Đảng đã tạo nên sự thống nhất về tư tưởng chính trị và hành độg
của cách mạng ở nước ta.
Qua cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, ta thấy Đảng đã lãnh đaọ
phong trào cách mạng giải quyết tình trạng khủng hoảng về cách mạng ở
VN.
Như vậy có thể nói, Đảng ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng lãnh
đạo cách mạng nước ta kéo dài hàng mấy chục năm trời. Từ đây cách mạng
Việt Nam đã có một chính đảng chân chính duy nhất lãnh đạo, chính đảng
của giai cấp công nhân. Đó là nhân tố đầu tiên quyết định mọi thắng lợi của
cách mạng Việt Nam. Đảng đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn
cảnh cụ thể của nước ta để đề ra đường lối đúng đắn, đưa cách mạng nước ta
tiến lên giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vì vậy, Đảng ra đời đã
mở ra giai đoạn thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. Chính vì vậy, có thể
khẳng định, Đảng ra đời là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt
Nam.
Câu 4: Phân tích vai trò quyết định của lãnh tụ Nguyễn
Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.
Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp của chủ nghĩa Mac-
lenin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sự ra đời của Đảng là
kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ của nhân dân ta, dân tộc ta,
trong đó phải kể đến công lao to lớn của Nguyến Aí Quốc. Vai trò của
Nguyễn Aí Quốc đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam được thể
hiện qua việc truyền bá tư tưởng, chuẩn bị về chính trị, tổ chức cho sự ra đời
của Đảng.
Vai trò quyết định của Nguyễn Aí Quốc đối với sự thành lập Đảng được
thể hiện qua việc:
Một là: Nguyễn ái Quốc chuẩn bị về tư tưởng cho việc thành lập Đảng:
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối

cách mạng, đó là học thuyết của chủ nghĩa Mac- lenin, phải biết vận dụng
đúng đắn học thuyết đó vào hoàn cảnh cụ thể của Việt nam.
Hệ thống quan điểm đó được truyền vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về
tư tưởng và chính trị cho việc thành lập Đảng.
Hai là: Nguyễn Aí Quốc chuẩn bị về tổ chức cho việc thành lập
Đảng.
Giữa tháng 12 nǎm 1924, Nguyễn ái Quốc đã từ Liên Xô đến Quảng
Châu (Trung Quốc) để hoạt động, xây dựng phong trào và đào tạo cán bộ
cách mạng cho một số nước ở Đông Nam á. Tại đây, Người đã cùng với các
nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc, Triều Tiên, ấn Độ, Thái Lan,
Inđônêxia, Malaixia, v.v..sáng lập ra “Hôi liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở á
– Đông” để thống nhất hành động chống chủ nghĩa thực dân.
11
Tháng 6 nǎm 1925, Nguyễn ái Quốc thành lập “Hội Việt Nam cách mạng
thanh niên”, nòng cốt là “cộng sản đoàn” để trực tiếp truyền bá chủ nghĩa
Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bi điều kiện cho việc thành lập chính
đảng của giai cấp vô sản Việt Nam. Người đã trực tiếp mở nhiều lớp huấn
luyện, đào tạo được hơn 200 cán bộ cách mạng. Trong số này, nhiều người
được chọn đi học trường Đai học phương Đông ở Liên Xô, một số được cử
Vào học quân sự ở trường Hoàng Phố (Trung Quốc). Còn phần lớn đưa về
nước hoạt động. Người cho ra tờ báo “Thanh niên” làm cơ quan tuyên
truyền của Hội.
Hệ thống quan điểm, lý luận về con đường cách mạng của Nguyễn Aí
Quốc trở thành tư tưởng cách mạng hướng đạo phong trào dân tộc và các tổ
chức chính trị theo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn tới sự ra đời của
các tổ chức cộng sản Việt Nam, đó là: Đông Dương cộng sản Đảng
( 6/1929), An Nam cộng sản Đảng( mùa thu năm 1929), Đông Dương cộng
sản liên đoàn ( 1/1930).
Từ ngày 3 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930, hội nghị thành lập Đảng đã
được họp tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc, dưới sự chủ trì của

Về nhiệm vụ của cách mạng: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa pháp và phong
kiến , làm cho đất nước VN hoàn toàn độc lập , lập chính phủ công _ nông-
binh và tổ chức quân đội công nông. Cụ thể:
Về Kinh tế: thủ tiêu các thứ quốc trái , tich thu toàn bộ sản nghiệp lớn
(công nghiệp, vận tải ) của đế quốc và giao cho chính phủ công- nông- binh
quản lí, tịch thu toàn bộ ruộng đất của bọn đế quốc giao cho dân nghèo ,bỏ
sưu thuế cho dân nghèo, mở mang công nghiệp, nông nghiệp,thi hành luật
ngày làm 8h.
Về văn hoá- xã hội: Dân chúng được tự do tổ chức các lễ hội, thực
hiệnnam nữ bình quyền, Phổ thông giáo dục theo hướng công- nông hoá .
Về cơ bản, các nhiệm vụ trên bao hàm cả nội dung dân tộc và dân chủ,
chống đế quốc và chống phong kiến, nhưng nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế
quốc và tay sai phản động, giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Về lực lượng cách mạng:
Lực lượng để lãnh đạo và đánh đổ bọn đế quốc và phong kiến trước hết là
công- nông.
Ngoài công- nông, Đảng phải lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông.
Phải trung lập phú nông, trung- tiểu địa chủ và tư sản Việt Nam. Bộ phận
nào rõ mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ.
Về phương pháp cách mạng: Đánh đổ đế quốc, phong kiến giành chính
quyền phải bằng phương pháp bạo lực cách mạng.
Về quan hệ cách mạng VN với thế giới : cách mạng VN là một bộ phận
của cách mạng thế giới . Phải thực hiện liên minh với các dân tộc bị áp bức
và đoàn kết quốc tế .
Về lãnh đạo cách mạng : Sự lãnh đạoc của Đảng là nhân tố quyết định
thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Thứ hai là Luận cương chính trị tháng 10_1930 do Trần Phú soạn thảo:
Về xác định tính chất và mâu thuẫn của xã hội Việt Nam , đó là mâu
thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc, trong đó nhấn mạnh mâu thuẫn giai
cấp.

Xác định
mấu thuẫn
cơ bản
Mâu thuẫn dân tộc: Mâu thuẫn
giữa toàn thể dân tộc ta với thực
dân Pháp.
Mâu thuẫn gai cấp
Nhiệm vụ
quan trọng
hàng đầu
Chống đế quốc Chống phong kiến( phản phong)
14
Lực lượng
cách mạng
Toàn thể nhân dân: Công-
nông- binh, tiểu tư sản, trí thức,
trung nông… trong đó công-
nông là nòng cốt.
Công-nông, trong đó, giai cấp
công nhân là lực lượng lãnh đạo.
Sở dĩ có những đăc điểm khác nhau trên là do Luận cương chưa nhận
thức đúng đặc điểm xã hội thuộc địa , nửa phong kiến đồng thời do nhận
thức giáo điều và lại chịu ảnh hưởng khuynh hướng “ tả “ của Quốc tế Cộng
sản.
Câu 6: Hãy chứng minh rằng quá trình chỉ đạo chiến
lược cách mạng Việt Nam của Đảng cộng sản Việt Nam
giai đoạn 1930 – 1945 mang tính năng động, sáng tạo,
nhanh chóng và kịp thời.
Ngày 3/2/1930, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời. Sự ra đời của Đảng là kết
quả của cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ của nhân dân ta. Kể từ khi ra đời

chống đế quốc,chiến tranh, ủng hộ Liên Xô
Giai đoạn 2: 1936-1939:
Để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933, giới cầm
quyền một số nước tư bản đã đưa đất nước vào con đường phát xít hóa. Chủ
nghĩa phát xít là lực lượng phản động nhất, soovanh nhất, đế quốc chủ nghĩa
nhất của chủ nghĩa tư bản.Tập đoàn phát xít Nhật-Đức- Ý đã liên kết với
nhau thành “trục” ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Nguy cơ chiến tranh đang
cận kề, đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế.
Trước tình hình đó, tháng 7/1936, Ban chấp hành trung ương Đảng đã họp
lần thứ II, xác định đường lối và phương pháp đấu tranh trong giai đoạn mới.
Kẻ thù chủ yếu của nhân dân Đông Dương lúc này là bọn phản động thuộc
địa.
Nhiệm vụ của cách mạng: Đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa,
chống phát xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.
Khẩu hiệu đấu tranh: “ Tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình”.
Tổ chức: Thành lập mặt trận dân tộc phản đế Đông Dương.
Phương pháp đấu tranh: Công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp.
Với sự chuyển hướng đúng đắn trên đây, Đảng đã lãnh đạo phong trào dân
chủ, dân sinh 1936-1939 giành được nhiều kết quả to lớn, có ý nghĩa sâu
sắc. Sự chuyển hướng chỉ đạo này hoàn toàn phù hợp với tình hình mới của
thực tiễn lịch sử nước ta lúc bấy giờ.
Thời kỳ 1939- 1941:
Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới thứ 2 đã ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp
đến Đông Dương.Thực dân Pháp đàn áp khốc kiệt phong trào cách mạng do
Đảng lãnh đạo, đồng thời ban bố lệnh tổng động viên, ra sức bắt người, cướp
của để cung ứng cho cuộc chiến tranh của bọn chúng. Chiến tranh đã đặt
nước ta trước tình hình mới. Sự vơ vét, bóc lột, khủng bố của bọn đế quốc
trong chiến tranh đã đẩy mau tình thế tới một thời điểm mà giai cấp thống trị
không thể thống trị như cũ, giai cấp bị trị cũng không thể sống như cũ được.
Chiến tranh đã đặt nhiệm vụ đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai

Nguyễn Aí Quốc đã quyết định về nước, trực tiếp lãnh đạo cuộc cách
mạng.Tháng 5/1941, Người chủ trì Hội nghị trung ương lần thứ VIII. Nội
dung của hội nghị bao gồm:
Hội nghị nhận định: Sau khi Đức đánh vào Liên Xo thì chúng sẽ bị tiêu diệt,
cách mạng nhiều nước sẽ thành công, một loạt nước XHCN ra đời.
Xác định cuộc cách mạng trước mắt là cách mạng giải phóng dân tộc, các
lực lượng cách mạng tập trung vào phát xít Nhật và thực dân Pháp.
Phát triển và hoàn chỉnh các nghị quyết năm 1939, 1940 của trung ương về
vấn đề giải phóng dân tộc, chủ trương giải phóng dân tộc trong khuôn khổ
mỗi nước Đông Dương, lập Việt Nam độc lập đồng minh.
Chủ trương giúp đỡ Lào và Campuchia xây dựng mặt trận, tiến tới tha hf lập
mặt trận thông nhất toàn thể Đông Dương.
17
Với những nội dung quan trọng của Hội nghị, đã xác định được những vấn
đề cơ bản, trước mắt của cách mạng Đông Dương. Đường lối giương cao
ngọn cờ giải phóng dân tộc ,nhận thức giải phóng dân tộc lên hàng đầu
Thời cơ chín muồi, Đảng ta đã đề ra chủ trương phát động tổng khởi nghĩa
giành chính quyền
Đảng phát động cao trào kháng Nhật cứu nước và đẩy mạnh khởi
nghĩa từng phần. Đêm 9_4_1945 Nhật đảo chính Pháp độc quyền Đông
Dương. Quân Pháp đầu hàng Nhật. Ban thường vụ TW Đảng lập tức họp hội
nghị mở rộng tại làng Đình Bảng (Từ Sơn _Bắc Ninh) và ngày 12_3_1945
ra bản chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau hành động của chúng ta”.
Nội dung chỉ thị bao gồm:
Xác định kẻ thù chính, trước mắt của nhân dân Đông Dương lúc này là phát
xít Nhật, thay khẩu hiệu: “Đánh đuổi pháp- Nhật” thành khẩu hiệu “ Đánh
đuổi phát xít Nhật” và đưa ra khẩu hiệu thành lập chính quyền cách mạng
của Đông Dương.
Phát động cao trao kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ, làm tiền đề cho cuộc
tổng khởi nghĩa.

yêu chuộng tự do ,hoà bình , đoàn kết chặt chẽ toàn dân thực hiện toàn dân
kháng chiến …phải tự cấp tự túc về mọi mặt.
Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: đoàn kết toàn dân , thực
hiện , quân trí dân nhất trí, động viên nhân lực , vật lực, tài lực thực hiện
toàn dân kháng chiến, trường kì kháng chiến . Giành quyền độc lập bảo toàn
lãnh thổ, thống ngất Trung Nam Bắc. Củng cố chế độ cộng hoà dân
chủ….tăng gia sản xuất thực hiện kinh tế tự túc.
Phương châm tiến hành kháng chiến : Tiến hành cuộc chiến tranh
nhân dân, thực hiện kháng chiến toàn dân , toàn diện, lâu dài ,dựa vào sức
mình là chính.
Kháng chiến toàn dân: Cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc chiến
tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc, đánh giặc bằng bất cứ vú khí gì có trong
tay, đánh giặc ở bất cúa nơi nào chúng tới. Kháng chiến toàn dân xuất phát
từ sự so sánh lực lượng giữa ta và đich, và xuất phát từ chân lý: cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng.
Kháng chiến toàn diện: Kháng chiến trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị,
kinh tế, văn hóa…trong đó quân sự là mặt trận hàng đầu, nhằm tạo sức mạnh
tổng hợp để chiến thắng kẻ thù.
Kháng chiến trường kỳ: Đánh lâu dài là vừa đánh vừa giứu gìn lực lượng,
bồi dưỡng và phát triển lực lượng, đồng thời làm tiêu hao và tiêu diệt lực
lượng địch. Qúa trình đó từng bước làm thay đổi so sánh tương quan lực
lượng giữa ta và địch theo hướng ngày càng có lợi cho ta, đánh bại từng âm
mưu và kế hoạch quân sự địch, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Tự lực cánh sinh: Dựa vào sức mình là chính: Do cuộc kháng chiến nhằm
mang lại độc lập cho dân tộc ta, tự do cho nhân dân ta nên trước tiên phải
dựa vào sức mình là chính nhằm phát huy tối đa nội lực của đất nước, sức
mạnh của dân tộc. Bên cạnh đó, chúng ta phải có những biện pháp tranh thủ
sự ủng hộ của quốc tế để tăng cường sức mạnh về vật chất và tinh thần cho
cuộc kháng chiến.
19


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status