1. Chủ Nghĩa Trọng Thương ở Anh, Pháp
a. Chủ Nghĩa Trọng Thương ở Anh:
• Giai đoạn 1: Từ TK XV đến giữa TK XVI: Chủ nghĩa tiền tệ (Đại biểu William Staford)
- Nội dung chủ yếu được phản ánh ở bảng cân đối tiền tệ nội dung muốn tăng lượng tiền
cho nhà nước thì phải giữ tiền ở lại trong nước. Để thực hiện nội dung này họ thực hiện
chính sách:
+ Hạn chế tối đa nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài
+ Quy định tỷ giá hối đoái bắt buộc.
+ Lập hàng rào thuế quan để bảo vệ hàng hóa trong nước.
+ Cấm trả cho ngưới nước ngoài lượng tiền lớn hơn mức quy định của nhà nước.
+ Bắt thương nhân nước ngoài đến buôn bán ở nước họ phải mua hế số tiền bán hàng
Quan điểm của những người trọng thương trong giai đoạn này đã kìm hãm sự phát triển của
ngoại thương. Giai đoạn này là giai đoạn tích lũy tiền tệ của CNTB với khuynh hướng chung là
biện pháp hành chính (tức là có sự can thiệp của nhà nước đối với kinh tế).
• Giai đoạn 2: Bảng cân đối thương mại (Thomas Mun).
Nội dung chủ yếu: Đánh giá cao vai trò của tiền tệ, là nội dung thực sự của của cải quốc
gia, là tiêu chuẩn để phân biệt sự giàu có giữa các quốc gia. Họ cho rằng, tiền là sợi dây
tiêu chuẩn trong cạnh tranh, tiền mạnh hơn sắt thép. Quốc gia muốn giàu có thì con đường
duy nhất là phát triển thương mại, “Thương mại là hòn đá thử vàng đối với sự phồn thịnh
của quốc gia. Không có phép lạ nào khác để kiếm tiền ngoài thương mại. Trong thương
mại, chủ yếu là phát triển ngoại thương, nhiệm vụ chủ yếu của ngoại thương là xuất siêu.
Họ đưa ra chính sách:
+ Chỉ xuất khẩu thành phẩm chứ không xuất khẩu nguyên vật liệu và chỉ xuất khẩu những
thành phẩm có giá trị lớn.
+ Thực hiện thương mại trung gian: đem tiền ra nước ngoài mua rẻ ở nước này, bán đắt ở
nước khác.
+ Sử dụng hàng rào thuế quan để kiểm soát nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu.
+ Đối với nhập khẩu tán thành nhập khẩu với quy mô lớn các nguyên liệu để chế biến đem
xuất khẩu.
+ Đối với tích trữ tiền: Cho xuất khẩu tiền để buôn bán, đẩy mạnh lưu thông tiền tệ vì đồng
tiền vận động mới sinh lời, do đó lên án việc tích trữ tiền.
dân phải bán hàng với bất cứ giá nào khi đã đưa nông sản ra thị trường.
Nhận xét: Ba giải pháp đầu nhằm tăng lao động trong nông nghiệp. Giải pháp 4 làm cho nông
nghiệp giảm sút, công nghiệp không phát triển được. Những chính sách này đã làm cho côn
nghiệp nước Pháp chậm hơn các nuơcs Tây Âu 50 năm. Muốn vực nền kinh tế pháp lên thì
phải phát triển nông nghiệp.
Nhận xét chung về chủ nghĩa trọng thương:
Tư tường kinh tế chủ yếu:
+ Đánh giá cao vai trò của tiền tệ, coi tiền là nội dung thực sự của của cải quốc gia, là
tiêu chuẩn để phân biệt sự giàu có giữa các quốc gia. Vì vậy mục đích trong các chính sách của
quốc gia là bằng mọi cách để tăng lượng tiền cho quốc gia mình.
+ Cong đường duy nhất để quốc gia giàu có là phát triển thương mại đặc biệt là ngoại
thương.
+ Coi lợi nhuận thương nghiệp vừa là động lực, vừa là mục đích của người kinh doanh.
Họ đề cao vai trò của thương nghiệp, hạ thấp nông nghiệp, công nghiệp.
+ Đánh giá cao vai trò của nhà nước trong phát triển thương mại.
+ Tư tưởng mang ít tính lý luận, tức chưa thừa nhận quy luật kinh tế khách quan.
Đánh giá:
+ Họ kêu gọi sự tích lũy bằng tiền phù hợp với sự ra đời của phương thức sản xuất
CNTB.
+ Họ coi lợi nhuận thương nghiệp vừa là động lực vừa là mục đích của người kinh
doanh đó là cơ sở của lý thuyết về cơ chế thị trường, “bàn tay vô hình” và tư tưởng sự can thiệp
của Nhà nước vào kinh tế cũng là cơ sở lý thuyết về vai trò kinh tế của Nhà nước của kinh tế
học hiện đại.
+ Trong tư tưởng kinh tế của họ mới chỉ thấy được mà lại quá nhấn mạnh vai trò của
lưu thông, trao đổi mà không thấy được vai trò của sản xuất, nghĩa là: Tư tưởng của họ mới chỉ
xem xét tới hiện tượng bề ngoài chưa đi sâu vào bản chất bên trong của quan hệ sản xuất xã
hội.
2. Học thuyết tái sản xuất của Quesnay.
Để phân tích biểu kinh tế Quesnay đưa ra những giả định sau:
+ Nghiên cứu tái sản xuất giản đơn.
Như vậy có thể tiếp tục quá trình tái sản xuất giảm đơn.
Những nhận xét rút ra từ nghiên cứu về kinh tế của Quesnay:
Công lao:
- Đưa ra các giả định cơ bản là đúng.
- Đã phân tích được tổng sản phẩm xã hội của 2 mặt: giá trị và hiện vật thấy được sự vận
động của sản phẩm kết hợp với sự vận động của tiền
- Tuân theo quy luật đúng: tiền bỏ vào lưu thông lại trở về điểm xuất phát của nó
Hạn chế: Chưa thấy được cơ sở của tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp, thậm chí tái sản
xuất giản đơn trong công nghiệp khó mà thực hiện được. Đánh giá sai vai trò của sản xuất công
nghiệp
3. Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith
- Xuất phát điển nghiên cứu kinh tế của Adam Smith là bắt đầu từ con người kinh tế. Ông cho
rằng: Trao đổi là đặc tính vốn có của con người, trao đổi tồn tại vĩnh viễn cũng như con người
tồn tại vĩnh viễn, khi trao đổi con người chỉ biết tư lợi, vì tư lợi và làm theo tư lợi. Nhưng khi
tư lợi và làm theo tư lợi lại có “bàn tay vô hình” buộc con người kinh tế đồng thời thực hiện
những nhiệm vụ ngoài ý định của họ mà đôi khi còn thực hiện tốt hơn khi họ có ý định làm
việc đó. Đó là vì lợi ích xã hội.
- Theo Adam Smith “bàn tay vô hình” đó là các quy luật kinh tế khách quan, hoạt động một cách
tự phát chi phối sự hoạt động của con người kinh tế. Adam Smith quan niệm: Hệ thống các quy
luật kinh tế khách quan là một trật tự tự nhiên. Để cho các quy luật kinh tế hoạt động ông cho
rằng cần có các điều kiện:
+ Tồn tại và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa.
+ Nền kinh tế dựa trên cơ sở tự do kinh tế.
+ Quan hệ giữa người với người là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế.
Ông cho rằng chỉ có nền kinh tế TBCN mới có đủ 3 điều kiện này thì trong nền kinh tế
TBCN mới có các quy luật kinh tế hoạt động. Ông còn phê phán chế độ phong kiến và ca ngợi
chế độ TBCN. Và ông chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào kinh tế. Theo ông: “Xã hội
bình thường là xã hội không cần có sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế đó là xã hội TBCN.
Còn xã hội không bình thường là sản phẩm của sự độc đoán, sự cưỡng bức kinh tế, đó là xã hội
phong kiến”.
1
). Ông đã thấy được giá trị
hàng hóa gồm: C + v + m. Nhưng ông chỉ mới thấy được C
1
: Giá trị của tư bản cố định mà
không thấy được C
2
: một phần giá trị tư bản lưu động. Ông cũng không biết được giá trị nhà
xưởng, máy móc chuyển sang giá trị sản phẩm như thế nào. Vì ông không biết được tính chất
2 mặt của lao động sản xuất hàng hóa là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
5. Lý thuyết giá cả của Marshall
Theo ông, giá cả là quan hệ số lượng mà trong đó hàng hóa và tiền tệ được trao đổi với
nhau. Lý luận của ông là sự tổng hợp các lý thuyết: chi phí sản xuất, cung cầu, “ích lợi giới
hạn”.
Theo ông, thị trường là tổng thể những người có quan hệ mua – bán, hay là nơi gặp gỡ
của cung – cầu. Ông cho rằng, một mặt trong điều kiện cạnh tranh hoàn toàn thì cung cầu phụ
thuộc vào giá cả. Mặt khác, cơ chế thị trường tác động làm cho giá cả phù hợp với cung – cầu.
Ông đưa ra khái niệm giá cung và giá cầu:
Giá cả
Số lượng
Giá Cầu
D
Giá cả
Số lượng
Giá Cung
S
+ Giá cung là giá mà người sản xuất có thể tiếp tục sản xuất ở mức đương thời. Giá cung được
quyết định bởi chi phí sản xuất. Chi phí sản xuất bao gồm chi phí ban đầu và chi phí phụ thêm.
Chi phí ban đầu là chi phí mà doanh nghiệp phải chịu bất kể có hay không có sản lượng. Chi
phí phụ thêm bao gồm chi phí về nguyên liệu, lương công nhân, nó tăng thêm khi gia tăng sản
Sự co giãn của cầu phụ thuộc vào các nhân tố sau đây: Mức giá cả, giá cả của hàng hóa có liên
quan, sức mua của dân cư và nhu cầu mua sắm của dân cư.
Tóm lại: Lý thuyết giá cả của Marshall là cơ sở lý luận của kinh tế học vi mô hiện đại
tỏng phân tích thị trường, cung cầu và giá cả.
Giá cả
Số lượng
Giá Cả cân bằng
6. Lý thuyết về cân bằng tổng quát Leon Wallras.
Theo ông trong cơ cấu nền kinh tế thị trường có ba loại thị trường: Thị trường sản
phẩm, thị trường tư bản, thị trường lao động.
+ Thị trường sản phẩm: Là nơi mua và bán hàng hoá. Tương qua trao đổi giữa các loại hàng
hoá là giá cả.
+ Thị trường tư bản là nơi hỏi và vay tư bản. Lãi suất của tư bản vay là giá của tư bản.
+ Thị trường lao động là nơi thuê mướn công nhân. Tiền công hay tiền lương là giá cả của lao
động.
Ba thị trường này độc lập với nhau song nhờ hoạt động của doanh nghiệp nên có quan
hệ với nhau. Doanh nhân là người sản xuất hàng hoá để bán. Muốn sản xuất, doanh nhân phải
vay vốn trên thị trường tư bản, thuê nhân công trên thị trường lao động. Trên hai thị trường này
doanh nhân được coi là cầu. Sản xuất được hàng hoá doanh nhân phải mang nó đến thị trường
sản phẩm. Ở đây doanh nhân được coi là cung.
Để vay tư bản doanh nhân phải trả lãi suất. Để thuê công nhân doanh nhân phải trả tiền
lương. Lãi xuất và tiền lương gọi là chi phí sản xuất.
Nếu bán giá cao hơn chi phí sản xuất thì doanh nhân có lợi. Doanh nhân có xu hướng
mở rộng sản xuất như thuê thêm công nhân, vay thêm tư bản. Do vậy sức cầu của doanh nhân
tăng lên, điều đó làm cho giá cả tư bản và lao động tăng lên. Song khi có thêm hàng hoá thì
doanh nhân cung trên thị trường nhiều hơn. Do đó giá cả trên thị trường hàng hoá có xu hướng
ngày càng giảm xuống.
Khi giá cả giảm xuống ngang với chi phí sản xuất thì cung và cầu hàng hoá ở trạng thái
cân bằng. Doanh nhân không có lời trong việc sản xuất thêm, nên không thuê thêm nhân công
và vay thêm tư bản nữa. Như vậy giá hàng ổn định làm cho lãi suất và tiền lương ổn định. Cả
Để kích thích cung Laffer đề nghị phải giảm thuế và phải xác định mức thuế tối ưu:
Ông đưa ra mối quan hệ giữa tổng thu nhập về thuế và thuế suất bằng phương trình:
T = t.Y
T: Tổng thu nhập về thuế.
t: Thuế suất tính theo phần trăm (%).
Y: là thu nhập (tiền lương, lợi nhuận, địa tô …
Mối quan hệ giữa thuế suất và thu nhập về thuế được biểu diễn qua đường cong Laffer:
- Nếu t = 0% thì T = 0%.
- Nếu t = 100 % thì T = 0%; Vì các doanh nghiệp sẽ đóng cửa không hoạt động, người lao động
không đi làm nên không thu được thuế.
- Nếu t >0%; thì thu nhập từ thuế tăng dần và đạt cực đại ở T
max
(t = 50%), lúc này quy mô sản
xuất được mở rộng, nguồn thu của ngân sách nhà nước là lớn nhất.
- Nếu t>50%: Cứ tăng thuế thì nguồn thu từ thuế sẽ giảm, vì lúc đó người lao động không muốn
đi làm hoặc hoạt độn sản xuất sẽ dưới dạng kinh tế ngầm.
- Dưới mức T
max
thì ứng với mỗi T
x
thì sẽ có hai mức thuế M
1
và M
2
, so sánh ta thấy M
1
tốt hơn
M
2
vì t
nào; hàng hóa được sản xuất cho ai ?
Do tính chất hạn chế của toàn bộ tài nguyên có thể sản xuất ra hàng hóa, buộc xã hội
chỉ lựa chọn trong số hàng hóa tương đối khan hiếm.
Mô hình tiêu biểu mà Samuelson lấy ví dụ nghiên cứu là sản xuất bơ và súng.
Khả
năng
Bơ (triệu
kg)
Súng (1000
khẩu)
A 0 15
B 1 14
C 2 12
D 3 9
E 4 5
F 5 0
Trong mô hình này, đường ABCDEF gọi là đường giới hạn khả năng sản xuất. Toàn bộ
nền kinh tế giả sử chỉ phải lựa chọn giữa 2 loại sản phẩm là sản xuất bơ và súng. Với một số
người lao động, tài nguyên, tư bản nhất định nếu sản xuất 5 triệu kg bơ thì không sản xuất
súng. Giữa hai thái cực này có nhiều phương án lựa chọn.
Giới hạn khả năng sản xuất biểu thị sự lựa chọn mà xã hội có thể có.
Từ sự phân tích trên, các nhà kinh tế học đưa ra quan điểm về hiệu quả sử dụng
tài nguyên. Theo họ nền kinh tế có hiệu quả là những điểm nằm trên đường giới hạn khả năng
sản xuất.
Các điểm bên trong đường giới hạn U biểu hiện tài nguyên chưa được sử dụng hết,
công nhân không có việc làm, nhà máy bỏ không, ruộng đất hoang hóa, tiền tệ để rỗi. Điều đó
thể hiện tính thiếu hiệu quả.
Các điểm nằm ngoài đường giới hạn I là không thể có trong điều kiện không có sự biến
đổi nào về nguồn lực: Tài nguyên, lao động, vốn và công nghệ.
Từ đó các nhà kinh tế học cho rằng: Trong khuôn khổ nguồn lực giới hạn, muốn tăng
của thị trường: Quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ … Nói đến cơ
chế thị trường là nói đến các phạm trù kinh tế khách quan: giá trị, giá cả, lợi nhuận, lợi tức, địa
tô, … Trong đó giá cả là phạm trù trọng tâm, là phương tiện phát tín hiệu cho những người
kinh doanh biết: Sản xuất cái gì ? sản xuất bao nhiêu ? sản xuất như thế nào ?.
- Trong kinh tế thị trượng, lợi nhuận vừa là động lực vừa là mục đích của các chủ thể kinh tế.
Cách duy nhất để cạnh tranh được giá cả và thu được lợi nhuận cao là các nhà kinh doanh phải
giảm chi phí tới mức tối thiểu bằng cách áp dụng những công nghệ hiện đại và phương pháp
sản xuất tiên tiến.
- Nền kinh tế thị trường chịu sự điều khiển của hai ông vua: Người tiêu dùng và kỹ thuật. Người
tiêu dùng thống trị thị trường vì họ là người bỏ tiền ra mua hàng hóa do các doanh nghiệp sản
xuất ra. Song kỹ thuật hạn chế người tiêu dùng bởi nền sản xuất không thể vượt quá giới hạn
khả năng sản xuất. Do vậy người tiêu dùng không thể quyết định vấn đề phải sản xuất cái gì ?.
Như vậy nhu cầu phải chịu theo sự cung ứng của người kinh doanh. Vì người sản xuất phải
định giá hàng của mình theo chi phí sản xuất. Nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực nhiều lợi
nhuận hơn. Như vậy thị trường chịu sự chi phối của cả chi phí kinh doanh lẫn quyết định cung
và cầu của người tiêu dùng quy định. Ở đây thị trường đóng vai trò trung gian hòa giải giữa sở
thích của người tiêu dùng và hạn chế kỹ thuật.
- Sự tác động của các quy luật kinh tế khách qun đối với các chủ thẻ kinh tế được thể hiện tập
trung thông qua mối quan hệ cung – cầu và giá cả hàng hóa trên thị trường. Làm cho nền kinh
tế luôn vận hành một cách bình thường. Theo Samuelson, cơ chế thị trường có rất nhiều điểm
tích cực nưng cơ chế thị trường cũng có không ít những khuyết tật như:
+ Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh tự do tất yếu sẽ dẫn tới độc quyền, độc quyền làm
cho cạnh tranh không hoàn hảo gây thiệt hại cho người tiêu dùng và xã hội.
+ Trong cơ chế thị trường nó làm tăng thêm ô nhiễm môi trường mà các doanh nghiệp
lại không phải trả tiền cho sự ô nhiễm đó.
+ Cơ chế thị trường không thể tránh khỏi khủng hoảng, lạm phát, thất nghiệp. Cơ chế
thị trường làm tăng nhanh sự phân hóa giàu – nghèo và cạnh tranh không lành mạnh.
b. Vai trò của chính phủ trong kinh tế thị trường.
Để chống lại những thất bại của thị trường thì Nhà nước phải can thiệp vào kinh tế. Vai trò
kinh tế của nhà nước được thể hiện qua 4 chức năng: