ĐỀ TÀI LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ "HỆ THỐNG LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI " - TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  LUẬT doc - Pdf 12

ĐỀ TÀI
LỊCH SỬ HỌC THUYẾT KINH TẾ
HỆ THỐNG LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI
LỚP K11403
Giảng viên: TS Nguyễn Tấn Phát
Thành viên nhóm 4: MSSV
1. Lê Ngọc Ánh. K114030370
2. Trương Ngọc Hà. K114030385
3. Bùi Thị Xuân Hồng. K114030392
4. Nguyễn Ái Phương Loan. K114030401
5. Võ Đặng Hồng Nhung. K114030416
6. Phan Thị Hiền Trang. K114030446
7. A Thị Hà Vi. K114030453
8. Trần Thị Lê Vin. K114030455
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ − LUẬT
MÔN LỊCH SỬ CÁC HỌC THUYẾT KINH TẾ

Năm học: 2012 − 2013
Năm học: 2012 − 2013
ĐỀ TÀI
HỆ THỐNG LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI
I. LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI CỦA ADAM SMITH.
A. Smith đã thực hiện một bước tiến so với phái Trọng Nông khi phân chia các
giai cấp trong xã hội tư sản nhằm phân tích các thu nhập của các giai cấp. Ông
phân chia thành 3 giai cấp cơ bản gắn với quyền sở hữu tư liệu sản xuất và thu
nhập:
1. Giai cấp công nhân : Thu nhập là tiền lương.
2. Giai cấp các nhà tư bản (bao gồm tư bản công nghiệp, nông nghiệp và
thương nghiệp) : Thu nhập là lợi nhuận.
3. Giai cấp chủ đất : Thu nhập là địa tô.
Ông cũng là người đầu tiên phân biệt sự khác nhau giữa các tầng lớp trong xã

Adam Smith có công khi tìm ra xu hướng bình quân hóa tỷ suất lợi nhuận
trong các ngành khác nhau trên cơ sở của tự do cạnh tranh và mối quan hệ giữa tỷ
suất lợi nhuận và khối lượng tư bản đầu tư. Tư bản đấu tư càng nhiều thì tỷ suất lợi
nhuận càng giảm. Như vậy, chủ nghĩa tư bản càng phát triển, tư bản càng được đầu
tư thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm. Đây là xu hướng có tính quy luật trong chủ
nghĩa tư bản, nhưng cách lý giải nguyên nhân của A. Smith chưa thỏa đáng. Theo
K. Marx, do cấu tạo hữu cơ của tư bản có xu huống tăng lên nên tỷ suất lợi nhuận
mới có xu huống giảm xuống.
3. Về địa tô:
Lý luận địa tô của A. Smith cũng có nhiều mâu thuẫn như lý luận về lợi
nhuận và còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Trọng nông.
Địa tô là 1 phần của sản phẩm lao động, giống như lợi nhuận. Theo ông, địa
tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm của lao động và lợi nhuận là khoản
khấu trừ thứ 2. Như vậy, ông đã thấy được bản chất bóc lột của địa tô.
Nhưng khi giả thích vì sao có địa tô thì ông cho rằng trong nông nghiệp có
địa tô vì lg nông nghiệp có năng suất cao hơn trong các ngành khác. Thu nhập
trong công nghiệp được chia thành tiền lương và lợi nhuận còn trong nông nghiệp
thì bao gồm tiền lương, lợi nhuận và địa tô. A. Smith cho rằng sản phẩm nông
3
nghiệp được bán ra không theo giá cả thị trường mà theo giá cả lũng đoạn do cầu
lớn hơn cung.
Đồng thời, ông lại cho rằng địa tô là kết quả tác động của tự nhiên, là khoản
trả cho sự phục vụ đất. Với quan niệm này, bản chất của địa tô là không bóc lột.
Điều này cho thấy ông muốn nói về địa tô chênh lệch I mặc dù chưa phân tích một
cách chi tiết về nó.
Adam Smith đã sia lầm khi phủ định địa tô tuyệt đối, tức địa tô mà người
kinh doanh trên bất cứ loại ruộng đất nào cũng phải trả cho chủ đất. Theo ông, kinh
doanh trên ruộng đất mà phải nộp địa tô là trái với quy luật giá trị. Do Smith chưa
thấy được sự khác nhau giữa giá trị và giá cả sản xuất nên dẫn đến sai lầm này.
 Lý luận phân phối của Adam Smith có nhiều tiến bộ, tuy còn những mâu thuẫn

thiểu về mặt sinh lý. Do đó, ông không thể giải thích được sự giảm sút của tiền
lương 1 cách có hệ thống.
+ Vì cho rằng sự gia tăng dân số tự nhiên là nhân tố điều tiết tiền lương, nên
ông không hiểu được tiền lương phụ thuộc vào số công nhân có việc làm và số
công nhân bị thất nghiệp.
2. Về lợi nhuận:
Người công nhân tạo ra giá trị lớn hơn tiền lương của mình, đó là lợi nhuận
của nhà tư bản. Chứng tỏ ông đã thấy được sự bóc lột. Tuy nhiên, ông không thừa
nhận nó bởi vì ở ông không có khái niệm giá trị thặng dư. Ông cho rằng, lợi nhuận
là thu nhập của tư bản công nghiệp nhận được so với tư bản ứng trước.
Ricar do thấy được xu hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận. Nhưng ông giải
thích nguyên nhân cùa khuynh hướng này là xu hướng tăng lên của tiền lương do
độ màu mỡ của đất ngày càng giảm nên giá lương thực tăng cao. Việc lương tăng
là thảm họa kinh tế đối với tích lũy tư bản và kéo tỷ suất lợi nhuận giảm xuống.
Ông không thấy được bản chất của xu hướng đó là do cấu tạo hữu cơ của tư bản
tăng cao. Phải đến Marx mới giải thích được điều này.
3. Về địa tô:
Ông giải thích lý luận về địa tô dựa trên cơ sở lý luận giá trị − lao động.
Ricardo xác định không phải vì địa tô làm cho giá lúa mì đắt lên mà trái lại do giá
lúa mì đắt nên phải trả địa tô.
5
Theo ông, do ruộng đất có hạn, năng suất lại thấp bới độ màu mỡ ngày càng
giảm, “năng suất bất tương xứng” mà nhu cầu lương thực ngày càng tăng cao bởi
dân số tăng nhanh nên cần phải canh tác cả trên ruộng đất xấu. Do đó, giá cả thị
trường của nông sản phẩm sẽ được quyết định bới giá trị nông sản phẩm sản xuất
trên ruộng đất xấu. Chênh lệch gnhững giá trị nông sản phẩm được sản xuất trên
ruộng đất trung bình và tốt với giá trị nông sản phẩm sản xuất trên ruộng đất xấu là
địa tô. Như vậy, ông chỉ thấy địa tô chênh lêch I. Công lao của Ricardo là ông đã
nêu được vai trò của độc quyền sở hữu ruộng đất trong việc chiếm hữu địa tô và sự
tồn tại của địa tô phụ thuộc vào lợi nhuận.

Theo ông, tiền lương phải bằng tất cả giá trị của sản phẩm lao động của công
nhân, mà muốn vậy thì chỉ có trong nền sản xuất nhỏ, nơi mà người chủ tư liệu sản
xuất cũng đồng thời là người trực tiếp lao động sản xuất sản phẩm, ở đó không tồn
tại quan hệ thuê mướn.
2. Về lợi nhuận:
Sismondi cho rằng lợi nhuận là thu nhập của tư bản được lấy ra từ sản phẩm
của lao động của công nhân. Nó là phần bóc lột lao động không công của công
nhân và thuộc về nhà tư bản.
Như vậy, lao động của người công nhân tạo ra của cải chia làm 2 phần: tiền
lương là thu nhập của công nhân, phần còn lại là lợi nhuận của nhà tư bản, là thu
nhập không lao động. Ông đã thấy được bản chất bóc lột của chủ tư liệu sản xuất,
mâu thuẫn giữa thu nhập có lao động với thu nhập không lao động. Theo ông, việc
sử dụng máy móc thiết bị đã làm năng suất lao động tăng lên rất nhiều và phần
thặng dư đặc biệt này bị nhà tư bản chiếm mất.
3. Về địa tô:
Ông cho rằng địa tô là tặng phẩm của tự nhiên. Đây là 1 hạn chế lớn của
Sismondi, bởi vì ông không thấy được bản chất bóc lột của địa chủ (cũng là 1 tầng
lớp không lao động). Tuy nhiên, ông thấy được những người canh tác trên ruộng
đất xấu cũng phải nộp tô, đây là mầm mống của lý luận địa tô tuyệt đối mà trước
ông không 1 tác giả nào thấy được, kể cả Ricardo.
V. LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI CỦA KARL MARX.
7
1. Về tiền lương:
Karl Marx chỉ rõ , công nhân làm việc cho các nhà tư bản trong một thời
gian nào đó , sản xuất ra một lượng hàng hóa nào đó thì nhận được một số tiền trả
công nhất định. Tiền trả công đó chính là tiền lương. Tiền lương không phải là giá
trị hay giá cả của lao động vì lao động không phải là hàng hóa và không phải là đối
tượng mua bán. Cái mà công nhân bán cho nhà tư bản , cái mà nhà tư bản mua của
công nhân là sức lao động. Từ việc giải thích đó , Karl Marx khẳng định bản chất
của tiền lương dưới chủ nghĩa tư bản là giá trị hay giá cả của sức lao động, nhưng

có hai loại địa tô chủ yếu là : địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối.
VI. LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI CỦA JOHN BATES CLARK.
Lý luận phân phối của John B. Clark dựa trên vai trò của các yếu tố sản xuất.
Đối với tư bản thì thu nhập của tư bản sẽ phù hợp với năng suất của tư bản bỏ ra
sau cùng − năng suất cận biên của tư bản.
Theo ông, người lao động nhận tiền lương là sản phẩm giới hạn của lao
động. Nhà tư bản nhận lợi tức dựa trên sản phẩm giới hạn của tư bản. Chủ đất nhận
địa tô bằng với sản phẩm giới hạn của đất đai. Và nhà kinh doanh nhận lợi nhuận
là thặng dư của người sử dụng các yếu tố sản xuất.
Người công nhân cuối cùng là người công nhân giới hạn, sản phẩm của họ là
sản phẩm giới hạn và năng suất lao động của họ là năng suất lao động giới hạn,
quyết định năng suất lao động của những người lao động khác.
Với sự phân phối như vậy , Clark cho rằng sẽ không còn sự bóc lột nữa vì
người công nhân giới hạn đã nhận được sản phẩm đầy đủ do anh ta tạo ra , do đó
anh ta không bị bóc lột. Những người công nhân khác cũng sẽ nhận được tiền
lương theo mức tiền lương của người công nhân giới hạn nên không bị bóc lột.
Nguyên tắc phân phối này của Clark được áp dụng để trả công cho các yếu tố sản
xuất.
Như thế lý luận phân phối của John B. Clark tuy phù hợp với định giá vĩ mô
có tính chất thực tế của bất cứ số lượng nào của các yếu tố sản xuất ở đầu vào.
Nhưng nó vẫn chưa là lý luận phân phối hoàn chỉnh vì đã phủ định bản chất bóc lột
của chủ nghĩa tư bản và cho rằng việc phân phối của cải trong xã hội tư sản rất
công bằng dựa vào “năng lực chịu trách nhiệm” của các nhân tố sản xuất. Người
công nhân và nhà tư bản đều nhận được sản phẩm cận biên tương ứng với năng lực
cận biên của mình. Nó đối đầu với lý luận phân phối của Karl Marx và cho rằng tất
9
cả các thành viên tham gia vào sản xuất với những cống hiến khác nhau và đều thu
về 1 khoản thu nhập phù hợp với cống hiến của mình.
VII. LÝ THUYẾT PHÂN PHỐI CỦA ALFRED MARSHALL.
Marshall đã quan sát quá trình hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status