Lịch sử học thuyết kinh tế - Pdf 18

Keynes(1884-1946) là một nhà kinh tế họcngười Anh. Thành phố nổi
tiếng là "lí thuyết chung về việc làm năng suấtvà tiền tệ" (1936) đặc
điểm chủ yếu của học thuyết Keynes.
- Kịch liệt phê phán c/s kinh tế của chủ nghĩa bảothủ. Ông không
đồng ý với quan điểm của trường phái "cổ điển và tân cổđiển" về sự
cân bằng kinh tế dựa trên cơ sở tự điều tiết của thị trường.Theo ông,
muốn có cân bằng Nhà nước phải can thiệp vào kinh tế.
- Vấn đề quan trọng nhất, nguy hiểm nhất là khốilượng thất nghiệp
và việc làm. Vị trí trung tâm trong học thuyết của ông là líthuyết
"việc làm". Trong đó kể đến lí thuyết kinh tế vĩ mô, về hệthống điều
tiết của đường Nhà nước, ông biểu hiện lợi ích và là công trình
củachủ nghĩa tư bản Nhà nước.
- Theo ông, việc phân tích phải bắt nguồn từ nhữngtổng lượng lớn để
nghiên cứu mối hệ giữa các tổng lượng và khuyênh hướng
chuyểnbiến của chúng để tìm ra khuynh hướng, công cụ tác động
vào những khuynh hướngviệc làm luôn thay đổi tổng lượng.
Mô hìnhkinh tế của ông gồm ba đại lượng:
+ Đại lượng xuất phát : không biến đổi hoặc biếnđổi chậm. Đó là
những nguồn v/c tlsx, mức độ trang bị kĩ thuật , trình độc huyên
môn hoá của chủ nghĩa, cơ cấu của chế độ xã hội .
+ Đại lượng khả biến độc lập: là những khuynhhướng tâm lí (tiết
kiệm, tiêu dùng, đầu tư )nhóm này là cơ sở hoạt động củamô hình,
là đòn bẩy cho sự họat động của các tổ chức kinh tế.
+Đại lượng khả biến phụ thuộc : cụ thể hoá tìnhtrạng của nền kinh
tế (số lượng quốc gia, thu nhập quốc dân) => R=C+S
Q= C+I => I=S
R=Q
- Lí thuyết của Keynesđánh giá cao vai trò củatiêu dùng và trao đổi,
coi tác dụng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà nhà kinhtế học phải
giải quyết. Theo ông,cùng với sự tăng lên của việc làm thì cũng cósự
tăng lên của thu nhập và do đó có sự tăng lên của tiêu dùng và do

- Trong một thời gian dài, lí thuyết Keynes được vận dụng rộng rãi,
tuy nhiênnó cũng thể hiện số hạn chế:
+ Mục đích của lí thuyết Keynes là chống khủng hoảng và thất
nghiệp. Song,trong những năm thực hiện lí thuyết này thì cứ 4 năm
lại có một lần chấn độngkinh tế.
+Nạn thất nghiệp ở các nước tư bản không được khắc phục mà có
xu hướng giatăng. Tư tưởng "Lạm phát có điều tiết" của Keynes góp
phần làm tăngsự trầm trọng của lạm phát, một căn bệnh nan giải
của nền kinh tế hiện đại.
+ Công cụ lãi suất điều tiết đầu tư cũng không có hiệu quả và nhiều
khi còn cótác động ngược lại.
+ Nắm được nhu cầu xã hội hoá đòi hỏi sự can thiệp Nhà nước vào
kinh tế, Keynesđưa ra lí thuyết chủ nghĩa tư bản được điều tiết.
Song, khi đánh giá cao vaitrò Nhà nước, ông lại bỏ qua vai trò của tư
tưởng tự do của bàn tay vô hình,của cân bằng tổng quát .
=> Điều đó làm gia tăng xu hướng phê phán lí thuyết kinh tế
Keynes.
Trách 2
Vào những năm 30 của thế kỷ 20,
khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp diễn
ra thường xuyên và nghiêm trọng tại
các nền kinh tế Tây Âu và Hoa Kỳ.
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới
1929-1933 cho thấy học thuyết "tự
điều tiết" của trường phái cổ điển và cổ
điển mới thiếu xác đáng. Lý thuyết "bàn tay vô hình" của A. Smith,
học thuyết "cân bằng tổng quát" của L. Walras cũng không phát huy
được hiệu quả và bảo đảm nền kinh tế phát triển khỏe mạnh. Đồng
thời, sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất đòi hỏi Nhà
nước can thiệp nhiều hơn vào nền kinh tế. Đây chính là các cơ sở

độ chuyên môn hóa của người lao động, cơ cấu của thể chế kinh tế.
2) Đại lượng khả biến độc lập. Đó là những khuynh hướng tâm lý
như khuynh hướng tiêu dùng, khuynh hướng tiết kiệm, ưa chuộng
tiền mặt Nhóm này là cơ sở hoạt động của mô hình, là đòn bẩy
đảm bảo cho sự hoạt động của tổ chức kinh tế.
3) Đại lượng khả biến phụ thuộc. Đại lượng này cụ thể hóa tình trạng
nền kinh tế như khối lượng việc làm, thu nhập quốc dân tính bằng
đơn vị tiền công. Đó là các tiêu chí quan trọng cấu thành nền kinh tế.
Các đại lượng này thay đổi theo sự tác động của các biến cố độc lập.
Giữa các đại lượng khả biến độc lập và khả biến phụ thuộc có mỗi
liên hệ với nhau. Nếu ký hiệu C là tiêu dùng, I là đầu tư, S là tiết
kiệm, R là thu nhập và Q là giá trị sản lượng hiện tại thì:
R = Q = C + I (1)
S = R - C (2)
Từ hai phương trình (1) và (2) suy ra đầu tư bằng tiết kiệm (I = S).
J. M. Keynes cho rằng việc điều tiết vĩ mô nhằm giải quyết việc làm,
tăng thu nhập đòi hỏi phải khuyến khích tăng đầu tư và giảm tiết
kiệm. Có như vậy, mới giải quyết được tình trạng khủng hoảng và
thất nghiệp.
Cũng như các đại biểu của trường phái cổ điển mới, phương pháp
nghiên cứu của J. M. Keynes dựa trên cơ sở tâm lý chủ quan. Song,
chỗ khác nhau là, trước đây các nhà kinh tế học của trường phái cổ
điển mới dựa vào tâm lý cá biệt, còn Keynes dựa vào tâm lý xã hội.
Trong lý thuyết của ông, phạm trù khuynh hướng tiêu dùng, tiết kiệm
được xem là phạm trù tâm lý chung của toàn xã hội.
Lý thuyết Keynes đánh giá cao vai trò của tiêu dùng và trao đổi.
Keynes coi tiêu dùng và trao đổi là nhiệm vụ số một mà kinh tế học
phải giải quyết. Theo ông, cùng với sự tăng lên của việc làm, thì cũng
phải có sự tăng lên của thu nhập, do đó, có sự tăng lên của tiêu
dùng. Nhưng mức tăng tiêu dùng chậm hơn mức tăng thu nhập, nên

trong việc quản lý nền kinh tế.
Chu kỳ kinh tế hay cơ chế quản lý cũ chưa hoàn toàn mất đi
vào những năm 1930. Nhưng nền kinh tế suy kém do giai
đoạn suy sụp tài chính lớn vào năm 1929 bắt nguồn từ cơn
khủng hoảng kinh tế, chu kỳ này đã đi xuống và không phát
triển lên được nữa. Và nó vẫn giữ nguyên như thế. Suy sụp
tài chính này đã làm cho nền kinh tế suy thoái, và vẫn chưa
có biện pháp nào phục hồi.
Những nhà kinh tế cổ điển thời đó chỉ có thể đưa ra những
giải pháp lỗi thời không hiệu quả. Những nhà kinh tế như
Lionel Robbins tiếp tục kiến nghị giải pháp giảm lương khi
lao động gia tăng. Nhưng những cơ chế thị trường - bao gồm
cả những cơ chế của thị trường lao động - mà những nhà
kinh tế rất tin tưởng nay đã không còn hoạt động nữa. Họ
thi hành biện pháp giảm lương, nhưng thay vì nền kinh tế
phục hồi và phát triển thì nó càng bị khủng hoảng trầm
trọng hơn.
Điều này không chỉ đúng với nền kinh tế của Mỹ mà còn đối
với nhiều nước khác nữa, nó cũng đúng với các mối quan hệ
kinh tế giữa chúng với nhau. Sự sụp đổ của các cơ chế tăng
trưởng nội tại là bắt nguồn từ sự sụp đổ của các cơ chế điều
chỉnh kinh tế thế giới. Thay vì có thể giúp giải quyết được
những vấn đề suy thoái thì chế độ kim bảng vị lại làm cho
tình trạng suy thoái từ nước này sang nước khác diễn ra
nhanh hơn. Tình trạng thâm hụt mậu dịch đã làm nổi bật lên
mối quan hệ mâu thuẫn giữa một bên là việc phát hành tiền
(mức cung tiền) (do phải xuất vàng trả cho phần nhập siêu)
và một bên là áp lực hạ giá (bao gồm cả tiền lương), từ đó
mâu thuẫn này càng làm cho nhà sản xuất cắt giảm sản
lượng và công nhân. Nạn thất nghiệp gia tăng vùn vụt.

bị thất nghiệp, trong tình hình như vậy thì hầu như những ai
đang có việc đều chấp nhận mức lương thấp, từ mức lương
thấp này, giai cấp tư sản có thể hạ chi phí, tăng cao lợi
nhuận, cũng như giúp họ có nhiều kỳ vọng lạc quan hơn và
mở rộng đầu tư. Thế trong cuộc đại suy thoái này tỷ lệ thất
nghiệp cũng rất cao, mức lương lại giảm - nhưng điều này lại
không đủ kích thích mở rộng đầu tư. Tại sao như vậy? Nếu
bạn trở lại lịch sử thực tiễn một tí, thì bạn sẽ hiểu ngay. Đây
chính là giai đoạn mà công nhân huởng ứng thành lập công
đoàn theo mô hình của Taylor-Ford. Họ đấu tranh từ nhận
thức công nhân, từ sự đồng lòng tập thể, đòi tăng lương và
phúc lợi xã hội từ nhà nước - còn gọi là thù lao thất nghiệp.
Frederick Taylor chịu trách nhiệm phân chia công việc của
người công nhân thành những loại công việc đơn giản và
không đòi hỏi kỹ năng tay nghề, còn Henry Ford thì chịu
trách nhiệm tổ chức những công việc đó thành một dây
chuyền sản xuất, những công này thường làm cho công
nhân thấy nhàm chán, bị hạn chế, cảm thấy đây là một công
việc đơn điệu và chỉ là một phần nhỏ trong tổng thể cả dây
chuyền (có một bộ phim nói về loại công việc thế này ảnh
hưởng đến công nhân - bộ Modern Time do Charlie Chapline
thủ diễn, bạn không nên bỏ qua)
Khi áp dụng loại hình công việc này đã dẫn đến cả lực lượng
lao động suy giảm tay nghề và tạo lợi thế cho những công
đoàn thủ công lớp già - những công đoàn chủ yếu dựa vào
tay nghề là chính. Điều này có nghĩa là những công đoàn thủ
công thuộc Liên Đoàn Lao Động của Mỹ này (AFL - American
Federation of Labor) không còn thích hợp với thế hệ công
nhân sản xuất mới nữa. "Những người công nhân sản xuất
hàng loạt" - người ta vẫn thường gọi họ như thế - đã phát

Những xung đột này đã làm cho mức lương giảm trầm trọng.
Nói cách khác, mức lương cũng có thể gia tăng nhưng thậm
chí trong trường hợp tỷ lệ thất nghiệp rất cao, thì mức lương
này cho dù có giảm tới đâu cũng không thể khôi phục lại lợi
nhuận. Do đó ta không thể dùng những chiến lượt kinh tế lỗi
thời trong tình trạng kinh tế suy sụp như thế này để giải
quyết các vấn đề giữa kinh doanh và công nhân cũng như để
đạt được mức tiêu thụ thặng dư.
Nhắc lại một lần nữa , đây là một thời kỳ lịch sử có ý nghĩa.
Đây chính là lúc viễn cảnh cả hệ thống kinh tế xã hội tương
lai vẫn còn là một ẩn số. Những giải pháp cổ hủ không thể
áp dụng được nữa và do đó phải tìm những giải pháp mới
nếu không nền kinh tế-xã hội có thể suy sụp hoặc có thể xãy
ra một cuộc cách mạng. Đây là giai đoạn khủng hoảng tại
Mỹ và tình trạng này cũng diễn ra tương tự ở nhiều khu vực
khác trên thế giới.
Giai đoạn khủng hoảng này đã bắt đầu từ một thập kỷ trước
đó. Ở Liên Xô (cũ) vào năm 1917 sau cuộc nội chiến cũng
như những biến động kinh tế-xã hội trầm trọng thì đã nổ ra
một cuộc cách mạng. Ở Đông Âu cũng đã có một thời kỳ
khủng hoảng có lẽ là nghiêm trọng nhất, mà những biến
động của cuộc khủng hoảng này có liên đới với Cách Mạng
Đức năm 1918-1919.
Tuỳ vào tình hình chính trị kinh tế, lịch sử của mỗi nước mà
các nhà lãnh đạo của các nước đã có những giải pháp khác
nhau để đối phó với thử thách này. Stalin cố gắng giải quyết
vấn đề gia tăng thặng dư thông qua lực lượng lao động bị ép
buộc của Gulag, dùng lực lượng quân đội đàn áp, thi hành
chính sách tập thể hoá nông dân (thu gom hoa màu của họ).
Vào khoảng giữa cuộc khủng hoảng nổ ra tại nước Cộng Hoà

vấn đề mà các giáo sư kinh tế lớn đã lờ đi. Hơn thế nữa, ông
đặc biệt tinh thông tiếng bản xứ của mình, có thể hiểu và sử
dụng ngôn từ một cách chính xác. Tài năng của ông có được
không chỉ bằng trí thông minh của bản thân mà còn bắt đầu
từ cả một kho kiến thức lịch sử nhân loại rộng lớn và những
tri thức về nhiều nền văn hoá đa dạng của các quốc gia,
chúng đã cung cấp cho ông một cái nhìn tổng thể về chủ
nghĩa tư bản hiện đại.
Giữa Veblen và Marx có nhiều điểm tương đồng, nhưng giữa
họ cũng có một số khác biệt đáng kể; Veblen không phải là
người theo chủ nghĩa Marx. Chúng ta có thể thấy cả sự
giống và khác giữa họ trong chính những tác phẩm của họ.
Như chúng ta đã biết, Marx phân biệt giữa đặc tính xa
lánh[1] công việc của công nhân dưới chế độ tư bản và năng
lực làm việc của họ khi xã hội thoát khỏi sự thống trị của tư
bản - ngay cả trong quá khứ hay tương lai. Trong quyển
"Tay Nghề Công Nhân Và Sự Chán Ghét Công Việc Của Họ"
(1899), Veblen bắt đầu nói từ mối ác cảm đối với công việc
vốn rất phổ biến trong những người công nhân mà ông cho
rằng nó đã xãy ra vào đầu thế kỷ này ở Mỹ. Công nhân chán
ghét công việc của họ và những giai cấp bề trên thì tự cho
mình là những người thống trị và ép buộc họ phải làm việc -
dù cho có sự mâu thuẫn giữa họ như thế nào đi nửa. Nhưng
trong khi Marx nhận thấy rằng sự chán ghét đó bắt nguồn từ
đặc tính xa lánh công việc thì Veblen cho rằng theo cảm
nhận của ông, thì chính "bản năng tay nghề" của công nhân
xuyên suốt trong lịch sử nhân loại đã bị thay thế bởi tính
thực dụng nhằm giúp họ có thể bình ổn cuộc sống. Trong
thời tư bản đầy tính cạnh tranh nhau thì bằng chứng cho
tính thực dụng đó được thể hiện bằng tiền bạc thay vì như

nhận tư tưởng này của họ, một tư tưởng quy định ra những
nguyên tắc cho đời sống của xã hội hiện hành của giai cấp
thấp đối với giai cấp cao hơn, và hướng họ sống theo cái tư
tưởng đó. Nhưng trong truờng hợp họ thất bại, họ đã phải
đau khổ vì mất đi cái danh vọng của họ và cả lòng tự trọng
của mình, họ phải thay đổi sao cho phù hợp với những quy
tắc xã hội, ít nhất cũng là về mặt hình thức.
Cơ sở tạo ra danh vọng trong bất kỳ một xã hội công nghiệp
có tổ chức cao nào đi chăng nữa chính là sức mạnh về tiền
tài; và những phương tiện để phô bày sức mạnh ấy, và qua
đó đạt được danh vọng, chính là sự nhàn rỗi và tiêu thụ
hàng hoá đáng gây chú ý."
Mặc dù Veblen nhạo báng kinh miệt tầng lớp tư sản (và
những ai cố tranh đua với họ), nhưng sau cùng ông cũng
cảm thương cho họ. Bởi do ông xem họ như những kẽ ăn
bám chỉ được cái vẻ hào nhoáng bên ngoài nhưng rất vô
dụng, những kẽ chỉ biết thu lợi từ những công việc của người
khác và rốt cuộc gì thì vị trí ưu tiên của họ trong xã hội cũng
sẽ bị người khác thay thế. Và ai sẽ thay thế họ? Câu trả lời
là: không phải là giai cấp lao động theo chủ nghĩa Marx, mà
chính là những người mà những giá trị và hành vi của họ
được thay đổi cho phù hợp để trở thành một lực lượng cơ
bản điều hành và có trách nhiệm với sự phát triển của xã
hội: "quy trình máy móc". Trong chương 4 quyển "Lý Thuyết
về Doanh Nghiệp" (1904), Veblen có giải thích rõ về "quy
trình" này và ông cho nó là ngành cơ học rất đơn giản:
"Bất cứ nơi nào mà sự khéo tay, những phương pháp dựa
vào thực nghiệm, hay những tình huống ngẫu nhiên được
thay thế bằng một quy trình hợp lý dựa trên hệ thống kiến
thức của công nhân, thì nơi đó ta có thể tìm thấy ngành cơ

"Những tính cách thô lỗ man rợ của lòng trung thành và chủ
nghĩa ái quốc diễn ra xuyên suốt trong những triều đại bốc
lột con người và củng cố quyền lực, và những tính cách từ
thời xa xưa này không mất đi. Trong những xã hội hiện đại
ngày nay, những ai mà trái tim của họ vẫn đập cùng nhịp
với thị trường thới giới, thì họ thể hiện lòng nhiệt thành của
mình bằng cách mở rộng ngành thương mại dưới tư cách là
những nhà doanh nghiệp quốc dân. Nhưng một khi chính
sách kinh doanh mang tính hiếu chiến được thiết lập ra vì
mục đích kinh doanh, thì lòng trung thành dần chuyển từ
những ích lợi kinh tế sang ích lợi của triều đại và sự hiếu
chiến đó, ví dụ từ những bằng chứng lịch sử như chủ nghĩa
đế quốc Đức và Anh. Hậu quả sau cùng là làm hồi sinh lại sự
oán hận của những người yêu nước xa xưa và lòng trung
thành đối với triều đại mà bỏ qua những ích lợi về kinh tế.
Điều này dễ dàng thực hiện khi những người kinh doanh chịu
hi sinh phần lợi nhuận của mình cho nhu cầu về đời sống
chính trị cao hơn này"
Do vậy, Veblen nhận thấy rằng kinh doanh bị tấn công dồn
dập bởi cả hai, một bên là cải cách "những quy trình máy
móc" không ngừng, quy trình mà dẫn đến sự sụp đổ của
những nhà tư bản và được thay thế bằng đội ngũ những cá
nhân ưu tú như các nhà khoa học (điển hình như Saint-
Simon), còn một bên là những hành vi suy thoái có từ thời
xa xưa đuợc giữ lại từ xưa để đat được những mục tiêu riêng
của nó. Trong những bài viết sau này của ông, cũng giống
như Heilbroner đã từng đề cập, Veblen cho rằng khoa học và
kỹ thuật và những người phụ trách chúng rốt cuộc rồi cũng
sẽ chiến thắng.
KEYNES:

và tiền, gọi tắt là The General Theory. Trong đó, cũng như bao nhiêu
nhà kinh tế khác cùng thời, Keynes cố gắng tìm hiểu và giải thích
nguyên nhân nào gây ra sự trì trệ kinh tế toàn cầu vào thập niên
1930s (the Great Depression). Ông nhấn mạnh các yếu tố đưa đến sự
trì trệ, đặc biệt tổng chi của quốc gia hơi thấp để tạo công ăn việc làm
đầy đủ trong thời gian này. Ông đề nghị gia tăng chi tiêu của chính phủ là cách hữu hiệu nhất để gia tăng
tổng chi tiêu và phục hồi công ăn việc làm trên toàn nước. Kể từ khi lý thuyết Keynes đưa ra, kinh tế không
còn được nhìn như trước, mà được phân loại thành kinh tế vĩ mô (macro-economics) và kinh tế vi mô
(micro-economics). Đặc điểm của trường phái kinh tế Keynes là nhấn mạnh vai trò của chính phủ: Chính
phủ phải bảo đảm mức tổng cầu (aggregate demand) của nền kinh tế quốc gia đủ cao để tránh tình trạng
suy thoái; chính phủ phải có sẵn chính sách tiền tệ và tài chánh để có thể dùng khi cần trong việc thay đổi
mức tổng cầu. Nói chung, chính phủ nên chủ động sử dụng các chính sách này để duy trì mức tổng cầu
hầu giữ nền kinh tế ở nguyên mức sản lượng đúng với tiềm năng của nó.
Milton Friedman
Nhà kinh tế thứ hai của thế kỷ là Milton Friedman, người được giải Nobel
kinh tế năm 1976, vừa mới qua đời ngày 16 tháng 11 vừa qua. Tuy
Friedman là người mạnh mẽ nhất chống đối lại các thuyết của Keynes, ông
đã từng tuyên bố một câu để đời: "Chúng ta bây giờ đều thuộc trường phái
Keynes(ian)". Nói cách khác, Friedman ghi nhận những đóng góp nền tảng của Keynes trong kinh tế, nhất
là hiệu quả ứng dụng của nó trong việc lãnh đạo và quản lý nền kinh tế quốc gia, nhưng không phải những
gì Keynes đưa ra đều đúng. Nó chỉ hợp lý vào thập niên 1950s và 1960s, nhưng đến thập niên 1970s và
1980s, khi nạn lạm phát hoành hành khắp thế giới (the Great Inflation), đặc biệt do khủng hoảng dầu lửa ,
làm vật giá leo thang, thì lý thuyết kinh tế vĩ mô của trường phái Keynes không còn hoàn toàn thích hợp để
giải thích và giải quyết các vấn đề kinh tế lớn đang xuất hiện. Friedman là người đứng đầu trường phái "tiền
tệ" (Monetarists), mạnh mẽ chỉ trích một số luận điểm căn bản của trường phái Keynes, đặc biệt 2 ý kiến
chính là: 1) nền kinh tế có thể tự nhiên rơi vào trạng thái cân bằng là sản lượng thấp - thất nghiệp cao (low
output - high unemployment); 2) vai trò của chính phủ là tạo môi trường để trường hợp này không xảy ra.
Phái tiền tệ, tức Friedman, quay ngược luận điểm này lại để biện luận. Phái này cho rằng lý do của sự suy
thoái kinh tế là do chính sách tồi tệ của chính phủ, chứ không phải tự nhiên nó xảy ra. Thí dụ, đối với sự trì
trệ kinh tế của thập niên 1930s, nó xảy ra vì chính sách tiền tệ sai lầm của chính phủ. Mà nếu chính sách

diện cho [quan điểm] thị trường tự do chắc chắn đã giúp thúc đẩy quá trình này, cả ở Mỹ và trên thế giới. Ở
bất kỳ phương diện nào - chủ nghĩa bảo hộ đối đầu với tự do thương mại; các quy định đối đầu với sự bãi
bỏ quy định, tiền lương thiết lập qua sự thương lượng tập thể giữa công đoàn và người sử dụng lao động
và mức lương tối thiếu do chính phủ quy định đối đầu với mức lương do thị trường thiết lập - thế giới đã vận
động trên một con đường dài theo hướng mà Friedman vạch ra.Và thậm chí còn ấn tượng hơn cả những
thành quả mà ông đạt được trong việc thay đổi các chính sách thực tế, ông đã thay đổi cả những quan niệm
truyền thống: hầu hết những người có thế lực đã quay sang nghĩ theo lối tư duy của Friedman, tin như một
sự hiển nhiên rằng sự thay đổi chính sách kinh tế mà ông thúc đẩy đã có tác dụng tốt. Nhưng có đúng là
như vậy?
Xét trước hết hiệu quả kinh tế vĩ mô của kinh tế Mỹ. Chúng ta có dữ liệu thu nhập thực – là thu nhập đã
được điều chỉnh nhằm loại bỏ ảnh hưởng của lạm phát - của các gia đình Mỹ từ năm 1947 đến 2005. Trong
nửa đầu của 58 năm liên tục, từ năm 1947 đến năm 1976, Milton Friedman là một tiếng kêu trong sa mạc,
những ý tưởng của ông bị các nhà ra chính sách bỏ qua. Nhưng nền kinh tế, với tất cả những sự không
hiệu quả mà ông chỉ trích, đã cải thiện đầy ấn tượng mức sống của hầu hết người dân Mỹ: thu nhập thực
trung vị (median income) tăng gấp đôi. Ngược lại, giai đoạn từ năm 1976 là giai đoạn mà những ý kiến của
Friedman ngày càng được chấp nhận. Dù vẫn còn đó vô khối sự can thiệp của chính phủ mà ông vẫn phàn
nàn, các chính sách thị trường tự do đã trở nên phổ biến hơn trong thời gian này là điều không ai nghi ngờ.
Tuy vậy tỷ lệ tăng trưởng mức sống lại ít mạnh mẽ hơn giai đoạn trước: thu nhập thực trung vị năm 2005
chỉ cao hơn 23% so với năm 1976.
Lý do có một phần là do thế hệ hậu chiến thứ hai đã tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp hơn thế hệ thứ
nhất - một thực tế có thể gây ngạc nhiên với những người cho rằng khuynh hướng ngả về thị trường tự do
sản xuất ra lợi tức kinh tế lớn hơn. Nhưng nguyên nhân khác quan trọng hơn gây ra sự tăng chậm hơn về
mức sống gia đình là sự bất bình đẳng kinh tế tăng nhanh không ngờ: trong lúc thế hệ hậu chiến thứ nhất
thu nhập tăng đều khắp dân cư thì từ cuối những năm 1970 thu nhập trung vị - tức là mức thu nhập của một
gia đình điển hình, tăng chỉ bằng 1/3 tốc độ tăng thu nhập bình quân - bao gồm mức thu nhập cao vọt của
một nhóm thiểu số nhỏ tại đỉnh.
Điều này dẫn đến một vấn đề thú vị. Milton Friedman thường quả quyết với những thính giả của ông rằng
không cần phải có những thể chế đặc biệt, như lương tối thiểu và nghiệp đoàn, nhằm mục đích đảm bảo
cho những người công nhân được chia sẻ lợi nhuận từ tăng trưởng kinh tế. Vào năm 1976 ông nói với độc
giả Newsweek rằng những câu chuyện cổ tích về tai họa gây ra do những tên đại tư bản kẻ cướp là chuyện

sách thả lỏng kinh doanh.
Về một chủ đề được thảo luận trong phạm vi hẹp hơn, một trong những mục tiêu then chốt của Friedman là
xem xét tính chất phản tác dụng và vô ích của hầu hết các qui định (regulation) nhà nước. Trong bản cáo
phó viết về George Stigler, người đã từng cộng tác với ông, Friedman đã chọn tán dương chỉ trích quy định
trong ngành điện lực của Stigler, và lập luận của Stigler rằng những người ra quy định thường đi đến chỗ
phục vụ lợi ích của quy định đó hơn là lợi ích chung. Vậy việc bãi bỏ các quy định đã diễn ra như thế nào?
Việc bãi bỏ quy định về vận chuyển đường bộ và hàng không bắt đầu từ cuối những năm 1970 đã khởi đầu
ổn thỏa. Cả hai trường hợp bãi bỏ quy định, trong khi không làm bất cứ ai hạnh phúc, đã dẫn đến gia tăng
cạnh tranh, giá nói chung thấp hơn, và hiệu quả cao hơn. Việc bãi bỏ quy định về khí đốt tự nhiên cũng là
một thành công.
Nhưng làn sóng lớn tiếp theo về bãi bỏ quy định, trong khu vực điện lực, lại là một câu chuyện khác. Cũng
như cuộc khủng hoảng những năm 1990 ở Nhật Bản đã cho thấy rằng những lo ngại của những nhà kinh tế
theo học thuyết Keynes về tính hiệu quả của chính sách tiền tệ không phải là hoang đường, khủng hoảng
ngành điện lực California năm 2000-2001 – trong đó những công ty điện lực và những nhà kinh doanh năng
lượng đã tạo ra một sự thiếu hụt giả tạo để nâng giá lên - nhắc nhở chúng ta đến khía cạnh thực tế nằm
sau những câu chuyện cổ tích về những ông trùm tư bản chuyên chiếm đoạt và những sự chiếm đoạt của
họ. Trong khi những bang khác không trải qua sự khó khăn như California, bãi bỏ quy định về điện lực trên
đất nước đã làm cho giá cao hơn chứ không thấp hơn, với lợi nhuận lớn bất ngờ cho các công ty điện lực.
Những bang, với bất cứ nguyên nhân nào, không đi theo phong trào bãi bỏ quy định trong những năm
1990, hiện tự coi là mình may mắn. Và may mắn nhất là những thành phố không biết nhờ đâu mà không
nhận được những thông điệp về tai họa do chính phủ gây ra và ưu điểm của khu vực tư nhân, vẫn duy trì
những công ty điện lực có sở hữu công cộng. Tất cả những điều này cho thấy rằng căn cơ nguyên thủy của
quy định về điện lực - những quan sát cho thấy nếu không có quy định, các công ty điện lực sẽ có quá
nhiều sức mạnh độc quyền – vẫn đúng như thuở nào.
Chúng ta có nên kết luận rằng việc bãi bỏ các quy định là một ý tưởng tồi? Không- nó phụ thuộc vào từng
trường hợp cụ thể. Kết luận rằng bãi bỏ các quy định luôn luôn và ở bất cứ đâu là ý tưởng tồi sẽ khuyến
khích một vài lối suy nghĩ chuyên chế mà, có thể cho rằng, đó cũng là thiếu sót vĩ đại nhất của Milton
Friedman.
Trong bài điểm sách năm 1965 về cuốn Lịch sử tiền tệ của Friedman và Schwartz, James Tobin nhà kinh tế
đoạt giải Nobel của đại học Yale có nhẹ nhàng trách móc các tác giả đã đi quá xa. “Xem xét ba mệnh đề

Về lâu dài, những con người vĩ đại được nhớ đến với sức mạnh chứ không phải điểm yếu của họ, và Milton
Friedman thực sự là một con người rất vĩ đại - một con người của sự can đảm trí thức, nhà tư tưởng kinh tế
quan trọng nhất của mọi thời, và có thể là người truyền bá những tư tưởng kinh tế lỗi lạc nhất đến công
chúng từ xưa đến nay. Nhưng cũng rất đúng khi lập luận rằng học thuyết Friedman, cuối cùng, đã đi quá xa,
cả về mặt học thuyết và ứng dụng thực tế. Khi Friedman bắt đầu sự nghiệp của mình như một trí thức của
công chúng, thời gian đã chín muồi cho một cuộc cải cách ngược chống lại chủ nghĩa Keynes và tất cả
những gì đi với nó. Nhưng, tôi cho rằng điều thế giới đang cần là một cuộc cải cách chống lại cuộc cải cách
ngược ấy.
Mặc dầu ông có nhiều tác phẩm viết về thuyết giá cả - học thuyết giải thích giá tác động thế nào đến thị
trường cá nhân - Friedman được coi như là người thiết lập nên chính sách tiền tệ. Thách thức Keynes và
phần lớn những lý thuyết đã được thiết lập trong thời gian đó, Friedman trưng ra bằng chứng phản lại lý
thuyến về số lượng của tiền tệ - lý thuyết này phát biểu rằng giá cả không phụ thuộcvào sức cung
tiền. Trong tác phẩm "Nghiên cứu lý thuyết về số lượng tiền tệ" (Studies in the quantity of money),
xuất bản năm 1956, Friedman nói rằng trong dài hạn, việc tăng cung tiền đẩy giá tăng lên nhưng tác
động rất ít hoặc không ảnh hưởng đến sản phẩm. Trong ngắn hạn, ông phản bác, việc tăng cung tiền
dẫn đến tăng thất nghiệp và sản phẩm, và giảm cung tiền sẽ ảnh hưởng ngược lại.
Giải pháp của Friedman cho vấn đề lạm phát và dao động trong ngắn hạn của thất nghiệp và GNP
thực được gọi là quy luật cung tiền. Nếu Cục dự trữ quốc gia yêu cầu tăng cung tiền cùng tỷ lệ với
mức tăng GNP thực, lạm phát sẽ biến mất. Chính sách tiền tệ của Friedman đã được đặt lên hàng đầu khi
năm 1963, ông và đồng tác giả Anna Schwartz tung ra tác phẩm "Lịch sử tiền tệ của Mỹ, 1867 - 1960"
(Monetary history of the United States, 1867 - 1960). Cuốn sách đã nói rằng Đại suy thoái là kết quả của
những quan điểm không đúng về chính sách tiền tệ của Cục dự trữ quốc gia. Tác giả đã đệ trình những
quan điểm trên qua một bản thảo chưa được in ra, Cục dự trữ quốc gia phản ứng lại trong nội bộ với những
quan điểm phê phán dài dòng. Sự phân hoá trong nội bộ còn thể hiện ở chỗ những thành viên của Cục điều
tra liên bang không công bố tiếp biên bản cuộc họp ra công chúng. Thêm nữa, họ còn nhờ một người chống
lại lịch sử (Elmus R. Wicker) viết một bài với hy vọng sẽ bôi xấu lịch sử tiền tệ.
Mặc dù rất nhiều nhà kinh tế học không đồng ý với ý kiến của Friedman về chính sách tiền tệ, nhưng ông
vẫn có ảnh hưởng nhất định trong nghề nghiệp. Một tiêu chuẩn để đánh giá tác phẩm là ảnh hưởng của nó
làm thay đổi trong cách đối xử của chính sách tiền tệ được viết trong cuốn "Kinh tế học" - một cuốn sách
bán chạy nhất năm đó- của một người ủng hộ học thuyết của Keynes là Paul Samuelson. Trong cuốn xuất

ngưỡng mộ, những phát biểu về chính sách của ông và nhất là hoạt động truyền bá của ông tạo ra nhiều ý
kiến ngược chiều. Và phải nói rằng có vài điều đáng bàn về sự trung thực về mặt tri thức khi ông phát biểu
trước công chúng.
Nhưng hãy tạm đặt sang một bên những điểm còn hồ nghi, và hãy nói về nhà kinh tế lý thuyết Friedman.
Trong gần hai thế kỷ qua, khái niệm Homo economicus (Con người kinh tế) đã chiếm ưu thế trong tư duy
kinh tế học.Con người kinh tế giả thiết biết mình muốn gì; sự ưa thích của anh ta có thể được biểu diễn
toán học thông qua “hàm lợi ích” (utility function). Và những sự lựa chọn của anh ta được dẫn hướng bởi
những tính toán hợp lý về việc làm thế nào tối đa hóa hàm thỏa dụng nói trên: những người tiêu dùng sẽ
phải quyết định chọn giữa đồ ăn khô làm từ ngô (cornflakes) và từ lúa mì (shredded wheat) cũng như nhà
đầu tư sẽ phải quyết định lựa chọn giữa cổ phiếu và trái phiếu, những quyết định đó được giả thiết trên cơ
sở so sánh “lợi ích biên”, hay lợi ích người mua sẽ có thêm được từ việc lấy thêm một lượng nhỏ trong
những khả năng sẵn có.
Thật dễ cười nhạo câu chuyện này. Không ai, ngay cả những nhà kinh tế đoạt giải Nobel, thực tình quyết
định theo cách đó. Tuy vậy, hầu hết các nhà kinh tế - trong đó có cả tôi – vẫn thấy rằng khái niệm Con
người Kinh tế là hữu dụng, với sự chấp nhận rằng anh ta là đại diện lý tưởng cho những gì chúng ta nghĩ
đang diễn ra trong thực tế. Con người có những ưa thích, ngay cả nếu những ưa thích đó thực sự không
thể biểu diễn bằng một hàm lợi ích chính xác; họ thường có những quyết định hợp lý, ngay cả khi họ không
tối đa hóa lợi ích theo nghĩa đen. Bạn có thể thắc mắc, tại sao không biểu diễn con người theo cách họ
hành động trong thế giới thực? Câu trả lời là, sự trừu tượng hóa, sự đơn giản hóa có mục đích là cách duy
nhất chúng ta có thể áp đặt một thứ trật tự tri thức vào sự phức tạp của đời sống kinh tế. Và giả thiết về
hành vi hợp lý là một sự đơn giản hóa đặc biệt hiệu quả.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là nên đi xa đến đâu. Keynes đã không tấn công toàn diện vào Con người
Kinh tế, nhưng ông thường viện đến lý luận về tâm lý hợp lý hơn là phân tích cẩn thận một người ra quyết
định hợp lý sẽ làm gì. Những quyết định kinh doanh do “tâm lý bầy đàn” dẫn hướng, những quyết định của
người tiêu dùng tuân theo xu hướng tâm lý sẽ chi tiêu thêm một phần thu nhập tăng lên chứ không phải tất
cả, điều đình tiền lương dựa trên cảm giác về sự công bằng, vân vân.
Nhưng giảm nhẹ vai trò của khái niệm Con người Kinh tế đến mức đó có thực sự là một ý tưởng hay?
Milton Friedman cho là không khi lập luận trong bài viết “Phương pháp luận kinh tế học thực chứng” vào
năm 1953 rằng không nên đánh giá các lý thuyết kinh tế dựa vào khả năng giải thích hợp lý thực tế bằng
tâm lý học mà phải đánh giá chúng bằng khả năng dự báo được các hành vi. Và hai thành quả vĩ đại nhất

Paul Samuelson sẽ đặt tên là suy lạm phát (stagflation).
Friedman đi đến kết luận này như thế nào? (Edmund S. Phelps, người đã giành giải Nobel Kinh tế năm
2006, đồng thời và độc lập đã đi đến cùng một kết quả.) Cũng như trong công trình nghiên cứu của ông về
hành vi tiêu dùng, Friedman đã áp dụng ý tưởng về hành vi hợp lý. Ông lập luận rằng, sau một thời kỳ lạm
phát kéo dài, người ta sẽ đưa kỳ vọng về lạm phát trong tương lai vào quyết định của họ, làm vô hiệu hóa
bất kỳ hiệu quả tích cực nào của lạm phát đối với việc làm. Chẳng hạn, một lý do lạm phát có thể dẫn đến
việc làm cao hơn là do thuê nhiều công nhân sẽ trở nên có lợi hơn khi giá tăng nhanh hơn lương lao động.
Nhưng một khi người lao động hiểu rằng sức mua của lương họ sẽ bị giảm vì lạm phát, họ sẽ đòi trước
những thỏa thuận lương cao hơn, để cho lương tăng kịp với giá. Kết quả là, sau khi tình trạng lạm phát diễn
ra một thời gian, nó sẽ không còn đem lại sức tăng việc làm như ban đầu nữa. Thực tế, tỉ lệ thất nghiệp sẽ
tăng lên nếu tình trạng lạm phát diễn ra không như mong đợi.
Vào lúc Friedman và Phelps đưa ra những ý tưởng của họ, Mỹ chưa có nhiều kinh nghiệm về tình trạng lạm
phát kéo dài. Nên điều này thực sự có ý nghĩa dự báo hơn là cố gắng giải thích những gì diễn ra trong quá
khứ. Tuy thế, tình trạng lạm phát dai dẳng những năm 1970 đã kiểm tra giả thiết của Friedman-Phelps.
Đúng thế, tương quan lịch sử giữa lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp bị phá vỡ đúng theo cách mà Friedman và
Phelps dự đoán: vào năm 1970, khi tỉ lệ lạm phát tăng đến hai con số, tỷ lệ thất nghiệp lên cao, còn cao hơn
cả những năm giá cả ổn định của thập niên 1950 và 1960. Cuối cùng lạm phát được kiểm soát vào những
năm 1980, nhưng chỉ sau một thời kỳ nhọc nhằn với tỉ lệ thất nghiệp cực cao, tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy
thoái.
Với việc dự đoán trước tình trạng suy lạm phát, Friedman và Phelps đã đạt được một thành tựu lớn lao của
kinh tế học thời hậu chiến. Thành tựu này, hơn bất kỳ kết quả nào khác, xác nhận địa vị của Milton
Friedman như một nhà kinh tế vĩ đại của các nhà kinh tế, bất kể những gì người ta có thể nghĩ về các vai trò
khác của ông.
Một lưu ý thú vị: cho dẫu Friedman đã đạt được những bước tiến vĩ đại trong kinh tế vĩ mô với việc áp dụng
khái niệm về cá nhân hành động hợp lý, ông cũng biết đâu là điểm dừng. Thập niên 1970, vài nhà kinh tế
đã đẩy những phân tích về lạm phát của Friedman đi xa hơn nữa, lập luận rằng không có sự đánh đổi nào
đáng kể giữa lạm phát và thất nghiệp ngay cả trong ngắn hạn, bởi vì người dân sẽ tiên liệu các hành động
của chính phủ và dùng tiên liệu đó, cũng như kinh nghiệm quá khứ, vào trong việc thiết lập giá và thương
lượng tiền lương. Học thuyết này, được biết đến như “kỳ vọng hợp lý”, lan rộng ra trong giới kinh tế học học
thuật. Nhưng Friedman chưa bao giờ thừa nhận điều này. Ý thức thực tế của ông đã cảnh báo rằng điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status