0 B NÔNG NGHIP VÀ PHÁT TRIN NÔNG THÔN
D ÁN
QUAN TRNG PHC V NUÔI TRNG THY SN ch trì: Tổng cục Thủy sản
thc hin:
- Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I, II và III
- Các cơ quan quản lý NTTS tại các tỉnh trọng điểm Thi gian thc hin: Từ năm 2015 đến năm 2020
và PNDBTS miền Bắc
Trung tâm Quốc gia Quan trắc, cảnh báo môi
trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu
vực miền Trung
Trung tâm QGQT, CBMT
và PNDBTS Miền Trung
Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi
trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu
vực Nam Bộ
Trung tâm QGQT, CBMT
và PNDBTS Nam Bộ
Trung tâm Quốc gia Quan trắc cảnh báo môi
trường biển
Trung tâm QGQT CBMT
biển
ii
MC LC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG
THỦY SẢN 1
2. CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG DỰ ÁN 3
3. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN 4
3.1. Mục tiêu chung 4
3.2. Mục tiêu cụ thể 4
4. KINH NGHIỆM QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NTTS CỦA MỘT SỐ QUỐC
GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4
9. KINH PHÍ THỰC HIỆN DỰ ÁN 25
9.1. Nguồn kinh phí để thực hiện dự án 25
10. KẾT QUẢ VÀ SẢN PHẨM CHÍNH CỦA DỰ ÁN 26
1. QUAN
Trong những năm qua, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Việt Nam đã có bước
phát triển mạnh mẽ, thu được những thành tựu to lớn, góp phần giảm nghèo, tạo
thu nhập và việc làm cho một bộ phận lao động, đóng góp tích cực cho kinh tế
nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nói chung.
Hình 1. Sng khai thác và NTTS ca Vit Nam -2013
NTTS được đánh giá là một trong những ngành sản xuất có tốc độ tăng
trưởng rất nhanh (Hình 1). Theo thống kê của Tổng cục Thủy sản, năm 1995, sản
7000
1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013
Sản lượng (nghìn tấn)
Năm
2
loạt khi các yếu tố môi trường bất lợi ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thừa Thiên
Huế, Khánh Hoà và Bà Rịa-Vũng Tàu. Bên cạnh các đối tượng nuôi mặn lợ, bệnh
cá rô phi đã xuất hiện có tính chất dịch trên toàn miền Bắc do vi khuẩn
Streptococcus sp. gây ra vào thời kỳ nắng nóng kéo dài từ tháng 6 - 9.
Bên cạnh tình hình dịch bệnh trong NTTS, vấn đề ô nhiễm nguồn nước
NTTS do nước thải sinh hoạt, nước thải nông nghiệp và nước thải công nghiệp,
cũng như hoạt động NTTS gây ra ô nhiễm và suy thoái đối với môi trường xung
quanh cũng đang là vấn đề bức thiết, đòi hỏi cần được giải quyết.
Những vấn đề trên đây cho thấy việc tăng cường quản lý để kiểm soát môi
trường và dịch bệnh là rất cấp bách. Có thể nói việc quản lý dịch bệnh trong
NTTS phụ thuộc rất lớn vào việc kiếm soát chất lượng môi trường nước. Công
tác quan trắc môi trường vùng nuôi trồng thủy sản cung cấp diễn biến môi trường
vùng nuôi và đưa ra những đề xuất có liên quan giúp cho cơ quan quản lý xây
dựng lịch mùa vụ, có kế hoạch phòng tránh những thiệt hại mà nguyên nhân
chính do ô nhiễm môi trường gây ra để chỉ đạo sản xuất và quản lý NTTS hiệu
quả. Đồng thời, kết quả quan trắc là cơ sở đánh giá tác động của NTTS đến môi
trường xung quanh và đánh giá tác động của môi trường xung quanh đến NTTS,
giúp cho cơ quan quản lý trong việc quy hoạch vùng nuôi trồng thủy sản tại địa
phương và định hướng phát triển ngành thủy sản trong tương lai. Quan trắc môi
trường thường xuyên cũng giúp các cơ quan quản lý nắm được xu hướng diễn
biến môi trường NTTS, là cơ sở để dự báo chất lượng nước. Công tác quan trắc
môi trường còn giúp người nuôi chủ động trong công tác quản lý chất lượng nước
trong ao nuôi và phòng ngừa dịch bệnh có hiệu quả. Do vậy quan trắc môi trường
- Luật Bảo vệ Môi trường của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
số 52/2005/QH 11 ngày 29 tháng 11 năm 2005;
- Quyết định số 16/2007/QĐ-TTg ngày 29/01/2007 của Thủ tướng Chính
phủ Về việc phê duyệt “Quy hoạch tổng thể hệ thống quan trắc tài nguyên và môi
trường quốc gia đến năm 2020”;
- Quyết định số 10/2007/QĐ-BTNMT ngày 5/7/2007 của Bộ trưởng Bộ
Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt
động quan trắc môi trường không khí xung quanh và nước mặt;
- Quyết định 3244/QĐ-BNN-KHCN ngày 02 tháng 12 năm 2010 Phê
duyệt Đề án “Tăng cường năng lực quan trắc môi trường nông nghiệp, nông thôn
giai đoạn 2011 – 2020”;
- Quyết định số 1588/QĐ-BNN-TCCB ngày 09 tháng 7 năm 2013 của Bộ
trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về Phân cấp cho Tổng cục Thủy
lợi, Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản một số nhiệm vụ thuộc thẩm
quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;
- Quyết định 2760/QĐ-BNN-TCTS ngày 22 tháng 11 năm 2013 phê duyệt
Đề án “Tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát
triển bền vững”;
- Quyết định số 1167/QĐ-BNN-TCTS ngày 28/5/2014 ban hành Chương
trình hành động thực hiện Đề án “Tái cơ cấu ngành thủy sản theo hướng nâng cao
giá trị gia tăng và phát triển bền vững”;
- Tờ trình số 2298/Ttr-TCTS-NTTS ngày 28/8/2014 về việc xin chủ trương
xây dựng Dự án “Quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản”;
- Thông báo số 7130/TB-BNN-VP tại Hội nghị giao ban tháng 8 và triển
khai nhiệm vụ tháng 9 năm 2014, ngày 05/9/2014 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn giao cho Tổng cục Thủy sản xây dựng Dự án Quan trắc
môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản;
- Thông tư 32/2014/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 9 năm 2014 về Quy
định hoạt động quan trắc, cảnh báo môi trường ngành nông nghiệp và phát triển
nông thôn;
năng thực hiện việc quan trắc và xử lý môi trường theo yêu cầu của các nhà quản
lý môi trường. Ở Scottland, Cục Bảo vệ Môi trường (SEPA) yêu cầu chủ trại phải
thực hiện việc quan trắc và kinh phí quan trắc tự chi trả. Việc giám sát công tác
quan trắc môi trường (gồm cả việc sử dụng thuốc và hoá chất) do nhiều cơ quan
khác nhau phối hợp và các cơ quan địa phương đóng vai trò quan trọng. Cục
nghề cá Ireland yêu cầu chủ trại có sản lượng hàng năm trên 100 tấn phải có báo
cáo đánh giá hoạt động và giám sát môi trường (Cicin-Sain, 2001).
Một số bang ở Mỹ có những chương trình quan trắc chi tiết cho các khu
vực NTTS trong đó các thông số chất lượng nước, cấu trúc và chức năng của
quần xã sinh vật đáy, tảo, dịch bệnh được giám sát kỹ lưỡng. Ở Thái Lan, hoạt
động quan trắc trong NTTS do Cục nghề cá đảm nhận và có sự phân cấp hoạt
động cho các tỉnh. Hệ thống quan trắc có 218 trạm quan trắc chất lượng nước bao
gồm cả thủy sinh. Hoạt động quan trắc chất lượng nước trong NTTS biển là việc
bắt buộc phải thực hiện theo Luật thuỷ sản (National Offshore Aquaculture Act
of 2000) do một uỷ ban liên ngành gồm các cơ quan của chính phủ (Gerstenfeld
và Biederman, 2002).
5
Cộng đồng châu Âu (EU) yêu cầu các vùng nguyên liệu thân mềm hai
mảnh vỏ nhập khẩu vào thị trường của khối liên minh này phải được quan trắc
thường xuyên.Trong đó, hàm lượng độc tố PSP không được vượt quá 0,08
mg/1kg thịt và độc tố DSP không được quá 0,020 mg/1kg thịt (Cộng đồng EU,
1991). Tại Đan Mạch hệ thống giám sát thủy hải sản có từ rất sớm, riêng vùng
đánh bắt vẹm xanh được chia thành hệ thống gồm nhiều mạng lưới và việc đánh
bắt hải sản sẽ bị cấm trừ khi các mẫu hải sản và nước được kiểm tra từ tuần trước
đó về độc tố và tảo độc nằm trong ngưỡng cho phép.
Năm 2003, với sự ủng hộ kinh phí của chính phủ Nhật Bản, bộ phận Quản
lý nuôi trồng thủy sản của FAO và Cục Bảo tồn thiên nhiên (FIMA) thực hiện đề
án “Nuôi trồng thủy sản bền vững: Các vấn đề được lựa chọn và hướng dẫn” tập
6
phòng ngừa dịch bệnh thủy sản Nam bộ ( QGQT, CBMT và PNDBTS Nam Bộ)
tại Viện 2, Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa
dịch bệnh thủy sản miền Trung (QGQT, CBMT và PNDBTS miền Trung) tại
Viện 3 và Trung tâm Quốc gia quan trắc cảnh báo môi trường biển (QGQT
CBMT biển) tại Viện Nghiên cứu Hải sản, được thiết lập. Đây là cơ sở để tiến
tới hình thành mạng lưới quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh phục vụ
nuôi trồng thuỷ sản. Trung tâm quan trắc của Viện 1 có 8 trạm vùng: Trạm Cát
Bà, Quý Kim, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Sơn La và
Tuyên Quang. Trung tâm quan trắc của Viện 2 có các trạm thu mẫu được phân
chia thành trạm cấp 1 và cấp 2. Trạm cấp 1 là các trạm tối thiểu giúp thu thập các
tài liệu cơ bản để phân tích đánh giá chất lượng nước của một tiểu vùng. Trạm
cấp 2 là các trạm mở rộng theo yêu cầu và điều kiện cho phép. Các địa điểm
chính là Bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười, Sông Tiền, Sông Hậu, Tứ giác Long
Xuyên. Trung tâm quan trắc của Viện 3 thực hiện quan trắc môi trường tại các
tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận. Trung tâm QGQT CBMT biển thuộc Viện
NCHS, tham gia vào trạm quan trắc phân tích môi trường biển quốc gia (trạm
quan trắc biển khơi 5) và phụ trách quan trắc môi trường biển vùng biển khơi
Côn Đảo, Trung và Đông Nam bộ, Tây Nam bộ.
Hoạt động quan trắc môi trường ở một số tỉnh NTTS phát triển mạnh đã
hình thành từ năm 2006, nhưng phải đến năm 2008 khi Bộ Thủy sản sát nhập vào
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thì các Sở Thủy sản được cơ cấu lại và
quy định rõ trong chức năng nhiệm vụ về công tác quan trắc, cảnh báo môi
trường phục vụ NTTS, làm tiền đề cho nhiều địa phương xây dựng hoạt động
quan trắc môi trường. Từ năm 2009 nhiều tỉnh đã thực hiện công tác quan trắc
môi trường phục vụ những đối tượng nuôi trồng thủy sản chủ lực (tôm nước lợ,
nhuyễn thể, cá biển, cá tra…) như: Kiên Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng, TP Hồ
Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Yên, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Hà Tĩnh,
đo những thông số môi trường cơ bản như nhiệt độ, độ mặn, oxi hòa tan… còn lại
đa số tỉnh sử dụng các bộ test nhanh tại hiện trường. Trong các tỉnh điều tra chỉ
có Sóc Trăng, Bình Thuận, Cà Mau, Quảng Nam được đầu tư khá đầy đủ trang
thiết bị, tiếp theo đó là Phú Yên và Bến Tre. Bạc Liêu có sản lượng NTTS đứng
thứ 2 cả nước nhưng công tác quan trắc môi trường chưa được quan tâm đầy đủ
nên thiếu trang thiết bị và hoạt động quan trắc định kỳ.
Trong những năm qua với sự nỗ lực của đội ngũ cán bộ thực hiện công tác
quan trắc môi trường, đã góp phần không nhỏ cho việc cảnh báo sớm những diễn
biến bất lợi về môi trường NTTS đặc biệt là các đối tượng nuôi chủ lực như tôm
sú, cá tra, cá biển, nhuyễn thể đã giúp người dân tránh được không ít những rủi
ro trong sản xuất như có kế hoạch xử lý nước, thu hoạch sớm, thả giống đúng
thời điểm môi trường thuận lợi, tránh lấy nước vào ao nuôi khi môi trường bất
lợi
Tuy nhiên, do NTTS ngày càng phát triển về diện tích và sản lượng nên
với số lượng cán bộ làm công tác quan trắc hiện có đã rất khó khăn để có mặt tại
hiện trường với địa bàn hoạt động rộng khắp. Kinh phí hạn chế nên việc phối hợp
còn chưa mang lại hiệu quả như mong muốn, chưa đảm bảo để các cán bộ được
tham gia nhiều khoá đào tạo nâng cao trình độ năng lực trong nước và nước
8
ngoài. Việc bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu về môi trường, phương pháp lấy
mẫu, xử lý số liệu còn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.
4.2.2. Cơ chế thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường
Đối với các Trung tâm quan trắc thuộc các Viện, nhiệm vụ hàng năm được
tổ chức thực hiện theo kinh phí của Bộ Nông nghiệp và PTNT do Vụ Khoa học
Công nghệ và Môi trường làm đầu mối quản lý. Theo đó, các trung tâm xây dựng
kế hoạch theo dạng đề tài và được Hội đồng Khoa học của các Viện thông qua
sau đó được Hội đồng Khoa học của Bộ xét duyệt. Sau mỗi năm thực hiện hoạt
động quan trắc theo đề cương đã được phê duyệt, các trung tâm quan trắc tiến
môi trường khu vực nuôi tôm nước lợ nhiều nhất. Theo báo cáo khảo sát thì 60%
các tỉnh chỉ quan trắc vùng nuôi tôm nước lợ. Một số tỉnh trọng điểm nuôi cá tra
có quan trắc môi trường như Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh. Nhuyễn thể, cá
biển, rô phi và tôm hùm được quan trắc với mức độ và tần suất thấp hơn rất
nhiều.
Thông số quan trắc được chia làm 3 nhóm gồm thủy lý, thủy hóa và thủy
sinh. Các Trung tâm quan trắc rất nhiều thông số như: Nhiệt độ, oxy, pH, thế oxy
- hóa khử, độ mặn, độ trong, CO
2
, độ cứng, độ kiềm, PO
4
-
, NH
3
, NH
4
+
, NO
2
,
NO
3
, H
2
S nhu cầu ôxy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD), sắt tổng số,
tổng N, tổng P, Chloropyll-a, dư lượng váng dầu, chì, cadmium, đồng, thủy ngân,
asen, kẽm, thực vật phù du, tảo độc hại, động vật phù du và động vật đáy, thành
phần cơ giới, hô hấp đất, pH đất, thế ôxy hóa-khử, tổng N đáy, tổng P đáy, tổng
C đáy, tổng lưu huỳnh, tổng sắt trong đất, nấm trong đất và vi khuẩn vibrio…
Tuy nhiên gần đây các Trung tâm đã giảm thông số quan trắc do thiếu kinh phí
, NO
2
, H
2
S, nhu cầu ôxy hóa học (COD). Có tỉnh chỉ
quan trắc nhiệt độ, oxy hòa tan, pH, độ mặn, độ trong, độ kiềm.
Tần suất quan trắc định kỳ của các địa phương cũng khác nhau tập trung
vào các tháng mùa vụ sản xuất chính trong năm. Sóc Trăng và Huế có tần suất
quan trắc 1 lần/ tuần, Kiên Giang, Tiền Giang, TP Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng
Tàu, Phú Yên, Thanh Hóa có tần suất quan trắc 2 lần/ tháng. Nhiều địa phương
khác quan trắc 1 lần/ tháng nhưng có những địa phương quan trắc 2 tháng - 3
tháng/ lần tập trung vào mùa vụ nuôi như Hải Dương, Hà Nội. Thậm chí có
những tỉnh chỉ quan trắc khi vùng nuôi xảy ra dịch bệnh như Bạc Liêu, Nghệ An,
Cần Thơ…
4.2.4. Xử lý và phổ biến thông tin quan trắc
Số liệu quan trắc được xử lý bằng cách đối chiếu với các tiêu chuẩn ngành
(TCN), tiêu chuẩn quốc gia (TCQG) cho từng đối tượng nuôi hay loại hình thủy
vực tương ứng. Tuy nhiên hiện nay mới chỉ có TCQG cho chất lượng nước nuôi
10
cá tra và tôm nước lợ, các đối tượng nuôi nước ngọt khác sử dụng TCQG về quan
trắc môi trường nước mặt lục địa (QCVN 08/2008/BTNMT), các đối tượng nuôi
nước mặn khác sử dụng TCQG về chất lượng nước ven bờ (QCVN
10/2008/BTNMT) nên không đúng hoàn toàn đối với yêu cầu chất lượng nước
cho NTTS.
Trong quá trình thực hiện quan trắc, các Trung tâm quan trắc gửi báo cáo
định kỳ hàng quý lên Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Các bản tin quan
trắc được gửi cho người nuôi; vùng nuôi và cơ quan quản lý NTTS của địa
phương, Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Tổng cục Thủy sản. Các bộ
Cơ sở vật chất trang thiết bị tham gia vào hoạt động quan trắc ở các Trung
tâm đã được xây dựng và nâng cấp từ nhiều nguồn, dự án khác nhau. Nhân lực
thực hiện quan trắc ở các Trung tâm được bổ sung, được tập huấn, đào tạo để đáp
ứng nhu cầu quan trắc.
Một số địa phương đã xây dựng được phòng thí nghiệm môi trường và
bệnh với đầy đủ trang thiết bị. Một số khác đã có những trang thiết bị quan trắc
môi trường cơ bản. Nhân lực quan trắc của các địa phương tuy là cán bộ kiêm
nhiệm nhưng cũng tham gia công tác quan trắc môi trường NTTS nhiều năm nên
cũng đã có kinh nghiệm quan trắc.
4.3.2. Hạn chế
- Cơ chế quản lý nhiệm vụ quan trắc
Nhiệm vụ quan trắc môi trường trong NTTS là nhiệm vụ phải thực hiện
thường xuyên, nhưng các Trung tâm và các bộ phận quan trắc địa phương phải
lên kế hoạch hàng năm và phải chờ phê duyệt, thường là tháng 2 đến tháng 6
hàng năm mới được phê duyệt. Các vùng quan trắc, chỉ tiêu quan trắc, tần suất
quan trắc thường không giống nhau từ năm này đến năm khác và thường rất
chậm so với nhu cầu sản xuất nên chưa đáp ứng đầy đủ thực tiễn sản xuất.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực
Hoạt động quan trắc hiện nay đã được hình thành và đi vào hoạt động, tuy
nhiên các Trung tâm quan trắc vẫn dựa trên cơ sở phòng thí nghiệm, trang thiết
bị, máy móc của các Viện được đầu tư từ nhiều nguồn đề tài, dự án, tài trợ nhỏ lẻ
phục vụ nghiên cứu là chủ yếu chứ chưa được đầu tư quy mô, đồng bộ nhằm
phục vụ tốt công tác quan trắc môi trường (trừ Trung tâm QGQT, CBMT và
PNDBTS Nam Bộ).
Các địa phương ngoại trừ các tỉnh có kinh phí quan trắc lớn được đầu tư
đầy đủ trang thiết bị, còn lại đa số các địa phương khác trang thiết bị rất thiếu và
nghèo nàn, không đảm bảo cho hoạt động quan trắc diễn ra thường xuyên, đồng
bộ và đầy đủ.
Nhân lực tham gia vào quan trắc môi trường NTTS địa phương còn rất
thiếu, chủ yếu là cán bộ quan trắc các chi cục kiêm nhiệm, thiếu cán bộ quan trắc
số liệu ở các Trung tâm được xử lý chậm, mang tính hành chính hóa và chuyển
tới nơi mất nhiều thời gian làm giảm tính thời sự của bản tin quan trắc.
Kết quả quan trắc môi trường NTTS của các địa phương chỉ sử dụng trong
phạm vi địa phương đó, không báo cáo lên Tổng cục Thủy sản, không có sự liên
kết với nhau nên thông tin quan trắc chưa phát huy hiệu quả, chưa sử dụng để có
thể đánh giá diễn biến môi trường NTTS ở tầm vĩ mô hơn về cả không gian và
thời gian.
- Địa điểm, thông số và tần suất quan trắc
Quan trắc môi trường hiện nay cũng đã tập trung vào các đối tượng nuôi chủ
lực và các vùng NTTS trọng điểm. Tuy nhiên kinh phí, nhân lực và trang thiết bị
quan trắc còn hạn chế nên việc lựa chọn điểm quan trắc, thông số, tần suất và thời
điểm quan trắc hiện vẫn chưa phù hợp để quan trắc môi trường hiệu quả nhất.
13
Nhiều thông số quan trắc ít có tác dụng trong chỉ đạo điều hành, trong khi
nhiều thông số quan trọng hơn lại không được quan trắc. Tần suất quan trắc của
các Trung tâm và một số địa phương còn thưa, không tập trung vào mùa vụ nuôi
chính. Nhiều điểm quan trắc được lựa chọn chưa phù hợp và dàn trải, chưa phù
hợp với kinh phí, nhân lực và trang thiết bị hiện có.
Nguyên nhân
Những hạn chế trên đây của quan trắc môi trường NTTS chưa được quan
tâm đúng mức, kinh phí đầu tư ít, đào tạo nhân lực và kinh nghiệm thực tế chưa
nhiều. Tổ chức triển khai quan trắc từ xác định nội dung, địa điểm, chỉ số, tần
suất và cơ chế xử lý kết quả quan trắc chưa hợp lý. Vì vậy công tác quan trắc môi
trường cần có thời gian để điều chỉnh và thay đổi.
5. QUAN
5.1.
hành các ;
đảm nhiệm. Những thông số môi trường cơ bản, dễ thực hiện thì địa phương đảm
nhiệm. Dự án cũng sẽ đảm bảo việc chia sẻ thông tin quan trắc hiệu quả giữa Trung
ương và địa phương để phục vụ sản xuất.
5.5.
Cơ quan quản lý, chỉ đạo NTTS là cơ quan chủ trì, ở cấp Trung ương là
Tổng cục Thủy sản, cấp địa phương là các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn. Cơ quan chủ trì xác định nội dung hoạt động để triển khai hoạt động quan
trắc môi trường hàng năm, là đầu mối tập hợp thông tin quan trắc. Cơ quan chủ
trì Trung ương và địa phương sẽ phối hợp với nhau trong hoạt động quan trắc
môi trường và xử lý thông tin để chỉ đạo điều hành NTTS hiệu quả.
Đơn vị thực hiện quan trắc môi trường là các Trung tâm quan trắc, các chi
cục, các cơ quan có tham gia hoạt động quan trắc môi trường NTTS ở địa
phương. Đơn vị thực hiện sẽ tiến hành theo các nội dung mà cơ quan chủ trì đã
xác định và sau mỗi đợt quan trắc sẽ báo cáo kết quả cho cơ quan quản lý nhanh
chóng để kịp thời chỉ đạo sản xuất.
6. NG,
Đối tượng: Quan trắc các yếu tố môi trường (thủy lý, thủy hóa và thủy
sinh) phục vụ nuôi các đối tượng chủ lực, có giá trị kinh tế cao: Tôm sú, tôm thẻ
chân trắng, cá tra, ngao , cá rô phi và tôm hùm.
Phạm vi: Thực hiện quan trắc môi trường tại các vùng nuôi trồng thủy sản
tập trung của các tỉnh trọng điểm (chi tiết tại Bảng 1).
Thời gian thực hiện: 6 năm, từ năm 2015 đến 2020.
7.
7.1. Quan trng ng xuyên
7.1.1. Đối tượng và địa điểm quan trắc
Căn cứ vào sản lượng của từng đối tượng NTTS chủ lực của các tỉnh NTTS
trọng điểm để xác định số lượng điểm cần quan trắc. Điểm quan trắc sẽ chọn đặt tại
khu vực nước cấp cho vùng nuôi tập trung của các đối tượng nuôi chủ lực. Điểm
được chọn là ổn định, đại diện được cho thủy vực ở nơi cần quan trắc.
3
Hà Nội
3
4
Quảng Ninh
4
3 5
Hải Phòng
3
6
Thái Bình
3
3 7
Nam Định
12
Quảng Bình
3
13
Quảng Trị
3
14
Thừa Thiên Huế
3
15
Quảng Nam
3
Ninh Thuận
4
3
21
Bình Thuận
4
22
Bà Rịa - Vũng Tàu
3
23
TP.Hồ Chí Minh
4
3 24
Long An
4
29
Sóc Trăng
5
30
Bạc Liêu
6
31
Cà Mau
6
3 32
Cần Thơ
3
7.1.2. Đối tượng, thông số và tần suất quan trắc
7.1.2.1. Tôm nước lợ
Quan trắc môi trường khu vực nước cấp cung cấp thông tin về chất lượng
nước giúp cho các cơ quan quản lý chỉ đạo sản xuất kịp thời và hiệu quả để nuôi
tôm bền vững.
Căn cứ vào lịch mùa vụ, hoạt động quan trắc tập trung nhiều trước mùa vụ
nuôi ở khu vực nước cấp cho khu vực nuôi tôm trọng điểm. Kết quả quan trắc kết
hợp với những khuyến cáo về lịch thả giống sẽ giúp cho người nuôi nắm được
diễn biến môi trường nước cấp, nhận biết các yếu tố môi trường bất lợi để giúp
cho người nuôi có kế hoạch lấy nước vào ao, xử lý nước, thả giống và quản lý
vùng nuôi thích hợp.
Ngoài điểm quan trắc ở khu vực nước cấp, đối với tôm nước lợ cần quan
trắc ao đại diện trong khu vực nhằm xác định diễn biến môi trường trong quá
trình nuôi để kịp thời chỉ đạo sản xuất. Khi chọn ao nuôi để quan trắc phải chọn
những ao nuôi mang tính đặc trưng và đại diện cho khu vực. Ao được lựa chọn
dựa vào địa hình của khu vực để lấy đại diện theo mặt cắt nguy cơ gây phát sinh
các yếu tố môi trường và dịch bệnh.
Công tác quan trắc môi trường tập trung vào thời gian nuôi tôm nước lợ từ
tháng 1 đến tháng 10 hàng năm.
Bng 2: Thông s, thm và tn sut quan trng
quan
QT
Ghi chú
Khu
3
, NO
2
, H
2
S, TSS
(tổng chất rắn lơ
lửng), OSS (chất rắn
hữu cơ lơ lửng), COD
(nhu cầu oxy hóa
học)
Mật độ và thành phần
tảo độc hại.
Vibrio tổng số, Vibrio
parahaemolyticus.
Con nước
lớn của kỳ
nước
cường
2 lần/
tháng
Thuốc BVTV
Đầu 3 vụ
3 lần/năm
17
quan
NH
4
+
), NO
2
-
.
7- 8h
2 lần/
tháng
NO
3
-
, PO
4
3-
, H
2
S,
TSS (tổng chất rắn lơ
lửng), OSS (chất rắn
hữu cơ lơ lửng), nhu
cầu oxy hóa học
(COD).
Con nước
lớn ở 2 kỳ
nước
cường
2 lần/
Ghi chú
Khu
Nhiệt độ nước, oxy
hòa tan, pH.
7- 8h
1 lần/ ngày
- Quan trắc môi
trường trước thời điểm
thả giống 1 tháng các
thông số NO
2
-
, NH
3
,
PO
4
3-
, TSS, COD, tảo
với tần suất 2 lần/
tháng.
- Khi khu vực nuôi
Kim loại nặng (Cd,
Hg và Pb).
3 lần/ năm
Nhiệt độ nước, oxy
hòa tan, pH.
7-8h
1 lần/ ngày
Khi khu vực nuôi cá
xảy ra dịch bệnh.
Khi diễn biến thời tiết
bất thường (mưa, nắng
nóng kéo dài).
Độ kiềm, NH
3
, NO
2
-
,
PO
4
3-
H
2
mặn.
7-8h
1 lần/ ngày
Khi diễn biến thời tiết bất
thường (mưa, nắng nóng
kéo dài).
Khi có hiện tượng nở hoa
của tảo.
Khi khu vực nuôi nhuyễn
thể xảy ra dịch bệnh hoặc
chết hàng loạt.
NO
2
-
, NH
3
, H
2
S.
Con nước lớn
của kỳ nước
cường
1 lần/
tháng
Mật độ và thành phần
tảo độc, Perkinsus sp
1 lần/
tháng
Thuốc BVTV
của tảo.
Khi khu vực nuôi tôm
hùm xảy ra dịch bệnh.
NH
3
, NO
2
-
, PO
4
3-
, nhu cầu
oxy hóa học (COD).
Con nước
lớn của kỳ
nước
cường
1 lần/ tháng
Mật độ và thành phần tảo
độc, ký sinh trùng gây bệnh.
1 lần/ tháng
Kim loại nặng (Cd, Hg và
Pb).
2 lần/ năm
7.1.2.5. Cá rô phi
Quan trắc môi trường khu vực cấp nước cho vùng nuôi cá rô phi tập trung
(ao và lồng bè) để đánh giá chất lượng nước, cung cấp diễn biến môi trường cho
các cơ quan quản lý kịp thời chỉ đạo sản xuất, đảm bảo nuôi cá bền vững. Đồng
Streptococcus sp.
1 lần/ tháng
Thuốc BVTV
2 lần/năm (tháng 2
và tháng 8)
Kim loại nặng (Cd, Hg và
Pb)
2 lần/năm (tháng
2 và tháng 8)
7.1.3. Phân công quan trc
Để sử dụng hiệu quả kính phí cũng như nguồn lực, trang thiết bị của các cơ
quan quản lý và cơ quan thực hiện tham gia trong hệ thống quan trắc môi trường
NTTS. Đồng thời căn cứ mức độ, yêu cầu kỹ thuật và tần suất quan trắc Dự án
phân công thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan tham gia hệ thống tại Bảng 7.
Bng 7: Phân công thc hin quan trng c
tham gia
STT
1
Tổng cục
Thủy sản
Tổng hợp số liệu các Trung tâm quan trắc
và địa phương gửi lên, thông báo kết quả
và khuyến cáo các địa phương về kết quả
quan trắc.
CBMT và PNDBTS miền Nam nhận kết
quả quan trắc từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến Cà
Mau. Các Trung tâm tổng hợp và liên kết
số liệu, tham mưu cho Tổng cục Thủy sản
đưa ra khuyến cáo chung cho các địa
phương.
- Đề xuất nội dung quan trắc trong các
trường hợp đột xuất với Tổng cục Thủy sản.
3
Cơ quan
quan trắc
môi trường
NTTS địa
phương
Quan trắc những
thông số có tần
suất hàng tuần,
hàng tháng (ngoài
những thông số
các Trung tâm
phải quan trắc) tại
địa phương quản
lý
- Xây dựng kế hoạch quan trắc môi trường
NTTS hàng năm trình Sở NN và PTNT.
- Gửi và nhận kết quả quan trắc từ Trung tâm.
- Tổng hợp và xử lý số liệu quan trắc tại
địa phương. Thông báo kết quả quan trắc
và đưa ra khuyến cáo cho người nuôi và
các cơ quan có liên quan về hiện trạng môi