dự án xây dựng mạng lưới quan trắc môi trường phục vụ nuôi trồng thủy sản - Pdf 22

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DỰ ÁN
XÂY DỰNG MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG PHỤC VỤ
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Đơn vị thực hiện:
- Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I, II và III
- Viện nghiên cứu Hải sản.
- Các Chi cục Thuỷ sản/ NTTS các tỉnh trọng điểm
Đơn vị chủ trì: Tổng cục Thủy sản
Hà Nội, tháng 7 năm 2012
1
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẮC MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN 3
CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG DỰ ÁN 6
MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN 6
1.1 Mục tiêu chung 6
1.2 Mục tiêu cụ thể 6
HIỆN TRẠNG QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NTTS Ở VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC 7
1.3 Kinh nghiệm quan trắc môi trường thuỷ sản ở một số nước 7
1.4 Hiện trạng mạng lưới quan trắc môi trường trong NTTS 8
1.4.1 Mạng lưới quan trắc môi trường trong NTTS 8
1.4.2 Cơ chế thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường 10
1.4.3 Quan trắc và cảnh báo thông tin 11
1.4.4 Đối tượng nuôi, vị trí, bộ thông số và tần suất quan trắc 12
1.5 Kết quả và những hạn chế của mạng lưới quan trắc môi trường trong NTTS 13
1.5.1 Kết quả 13
- Thiết lập và duy trì hoạt động của mạng lưới quan trắc môi trường thủy sản 13
- Xây dựng được cơ sở vật chất trang thiết bị và đội ngũ quan trắc viên 13
- Xây dựng được phương pháp luận quan trắc môi trường phục vụ NTTS 13
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu, trang Web phục vụ cảnh báo 14

1.21 Các Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh tham gia dự án 32
PHỤ LỤC 33
1.22 PHỤ LỤC 1: CHI TIẾT NỘI DUNG VÀ KINH PHÍ 33
1.23 PHỤ LỤC 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ VĂN BẢN QUẢN LÝ PHỤC VỤ
HOẠT ĐỘNG CỦA MẠNG LƯỚI 35
1.24 PHỤ LỤC 3: QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG THƯỜNG XUYÊN PHỤC VỤ
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2012-2020 36
1.25 PHỤ LỤC 4. TỔNG KINH PHÍ MUA SẮM TRANG THIẾT BỊ BỔ SUNG
CHO CÁC TRUNG TÂM 56
1.26 PHỤ LỤC 5. TỔNG KINH PHÍ MUA SẮM TRANG THIẾT BỊ CHO CÁC
TRẠM VÙNG 62
SỰ CẦN THIẾT PHẢI XÂY DỰNG HỆ THỐNG TRẮC MÔI TRƯỜNG
TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
Trong những năm qua, nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) Việt Nam đã có bước phát
triển mạnh mẽ, thu được những thành tựu to lớn, góp phần giảm nghèo, tạo thu nhập
và công ăn việc làm cho một bộ phận lực lượng lao động ở nông thôn, đóng góp tích
cực cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và kinh tế đất nước nói chung.
3
Hình 1. Sản lượng khai thác và NTTS của Việt Nam trong những năm gần đây
NTTS được đánh giá là một trong những ngành sản xuất có tốc độ tăng trưởng
rất nhanh (Hình 1). Theo thống kê của Tổng cục thủy sản, năm 1994, sản lượng thuỷ
sản nuôi trồng và khai thác nội địa mới chỉ đạt 397,168 tấn, chiếm 30.86% tổng sản
lượng thủy sản. Đến năm 2006, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 1,694,000 tấn; năm
2007 đạt 2,100,000 tấn, chiếm trên 50% tổng sản lượng thuỷ sản. Đến năm 2011, tổng
sản lượng sản phẩm thủy sản đã đạt xấp xỉ 5.3 triệu tấn với giá trị kim ngạch xuất khẩu
của toàn ngành đạt 6.18 tỷ USD trong đó sản lượng nuôi trồng thuỷ sản đạt 3.052 triệu
tấn chiếm 58% tổng sản lượng. Hiện nay, NTTS đang đóng vai trò vô cùng quan trọng
đối với kinh tế - xã hội với kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm thủy sản đạt 4% GDP,
tạo công ăn việc làm cho khoảng trên 4 triệu lao động.
Bên cạnh những thành tựu quan trọng, NTTS nước ta cũng đang phải đối mặt

cơ dịch bệnh, đảm bảo sự phát triển bền vững.
Ở nước ta, công tác quan trắc môi trường và dự báo khí tượng thuỷ văn đã có từ
rất lâu nhằm phục vụ các nhóm ngành nghề và đối tượng khác nhau. Đối với lĩnh vực
nông nghiệp, đã có mạng lưới quan trắc chất lượng nước phục vụ thủy lợi. Từ năm
2001, Bộ Thủy sản (nay thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã từng bước
hình thành mạng lưới quan trắc phục vụ NTTS và môi trường biển thuộc 4 Viện I, II,
III và Viện NCHS. Hoạt động quan trắc, cảnh báo môi trường, bệnh của các trung tâm
đã đi vào hoạt động và góp phần không nhỏ trong việc quan trắc môi trường vùng nuôi
để đưa ra được những cảnh báo sớm cho người dân nuôi trồng thuỷ sản có những biện
pháp quản lý và phòng tránh những rủi ro do môi trường, bệnh gây ra cho đối tượng
nuôi của mình. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế như nguồn kinh phí chưa đủ để thực
hiện quan trắc, ảnh hưởng tới quá trình thực hiện về phạm vi, đối tượng quan trắc và
tần số quan trắc; các bộ tiêu chuẩn (TCVN, TC ngành) còn nhiều bất cập nên đã ảnh
hưởng đến quá trình đánh giá; một số tỉnh còn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ do vậy việc
quản lý vùng nuôi còn gặp nhiều khó khăn; các thiết bị quan trắc, phân tích còn thiếu
và lạc hậu; chưa có chế tài rõ ràng về việc thông báo các kết quả quan trắc chất lượng
môi trường, bệnh nên việc đưa thông tin quan trắc đến được với các hộ dân còn chậm,
hiệu quả còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, mạng lưới kiểm soát và cảnh báo môi
trường, bệnh của các Chi cục Thủy sản/ NTTS tại các địa phương về nhân lực cũng
như kinh phí còn thiếu nên khó kiểm soát được toàn bộ khu vực nuôi như mong muốn.
Ngoài ra, biến đổi khí hậu và những hiện tượng thời tiết bất thường không theo qui
luật, hiện tượng bão lũ, hạn hán đã có những tác động không nhỏ đến sản xuất
NTTS. Hậu quả là hiện tượng môi trường suy thoái và bệnh vẫn xảy ra đối với nhiều
đối tượng nuôi, gây thiệt hại không nhỏ đối với kết quả hoạt động sản xuất NTTS.
Những bất cập trên đây cho thấy hoạt động Quan trắc môi trường, bệnh ngày càng trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết đối với sự tồn tại và phát triển NTTS.
Hiện nay, công tác quản lý sản xuất NTTS đang được Bộ NN&PTNT quan tâm
chỉ đạo để tăng cường quản lý sản xuất theo hướng phát triển bền vững, góp phần thiết
thực đảm bảo an ninh lương thực và thực phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu và bảo vệ
5

dịch bệnh trong NTTS phục vụ quản lý và chỉ đạo sản xuất NTTS bền vững, có
hiệu quả.
1.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng được mạng lưới quan trắc môi trường có nguồn nhân lực và trang
thiết bị đầy đủ, đồng bộ và hiện đại, đáp ứng được nhu cầu cảnh báo trong chỉ đạo sản
xuất NTTS.
6
- Triển khai được các hoạt động quan trắc môi trường và dịch bệnh trong NTTS
đáp ứng yêu cầu chỉ đạo và điều hành sản xuất.
HIỆN TRẠNG QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG NTTS Ở VIỆT NAM VÀ KINH
NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC
1.3 Kinh nghiệm quan trắc môi trường thuỷ sản ở một số nước
Hoạt động quan trắc trên thế giới được tiến hành trên nhiều lĩnh vực, phục vụ
nhiều mục tiêu khác nhau như khí tượng thuỷ văn, động đất và sóng thần… Đối với
NTTS, hoạt động quan trắc môi trường có những nét đặc thù và mỗi nước có cách tiến
hành khác nhau. Bản Quy tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO cũng đó đề cập
đến việc bắt buộc phải có hoạt động quan trắc môi trường đối với các vực nước trong
phạm vi một quốc gia hay các hệ sinh thái liên quốc gia. Cơ sở dữ liệu quan trắc phải
được chia sẻ (FAO, 1995).
Một số bang ở Mỹ có những chương trình quan trắc chi tiết cho các khu vực
NTTS trong đó các thông số chất lượng nước, cấu trúc và chức năng của quần xã sinh
vật đáy, tảo, dịch bệnh được giám sát kỹ lưỡng. Ở Thái Lan, hoạt động quan trắc trong
NTTS do Cục nghề cá đảm nhận và có sự phân cấp hoạt động cho các tỉnh. Hệ thống
quan trắc có 218 trạm quan trắc chất lượng nước bao gồm cả thủy sinh. Hoạt động
quan trắc chất lượng nước trong NTTS biển là việc bắt buộc phải thực hiện theo Luật
thuỷ sản (National Offshore Aquaculture Act of 2000) do một uỷ ban liên ngành gồm
các cơ quan của chính phủ (Gerstenfeld và Biederman, 2002).
Ở Nauy, trong khi đệ trình dự án, chủ trại phải chỉ ra rằng mình có khả năng
thực hiện việc quan trắc và xử lý môi trường theo yêu cầu của các nhà quản lý môi
trường. Ở Scottland, Cục Bảo vệ Môi trường (SEPA) yêu cầu chủ trại phải thực hiện

1.4.1 Mạng lưới quan trắc môi trường trong NTTS
Năm 2001, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với Bộ Thuỷ Sản
tổ chức khởi đầu hoạt động “Quan trắc, cảnh báo môi trường và dịch bệnh thủy sản”
cho ngành Thuỷ sản nhằm tìm ra hình thức hoạt động quan trắc môi trường phù hợp
với đặc thù hoạt động của ngành Thủy sản. Bộ Thuỷ sản đã phân công các cơ quan
chức năng trong Ngành tham gia thực hiện đề tài nghiên cứu về “Quan trắc, cảnh báo
môi trường và dịch bệnh phục vụ ngành thuỷ sản”. Theo đó 4 Trung tâm quan trắc mới
về dự báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh phục vụ nuôi trồng và bảo vệ nguồn
lợi thủy sản được thiết lập. Đây là cơ sở để tiến tới hình thành mạng lưới quan trắc
cảnh báo môi trường và dịch bệnh phục vụ nuôi trồng thuỷ sản cho ngành thủy sản. Từ
năm 2004, các trung tâm quan trắc ngành thủy sản từng bước hoà nhập với mạng lưới
quan trắc môi trường chung của quốc gia.
Hiện nay 04 Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường và dịch bệnh cho NTTS
thuộc 04 Viện nghiên cứu NTTS là các Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, II, III
và Viện nghiên cứu hải sản (gọi tắt là Viện I, II, III và Viện NCHS). Ngoài chức năng
quan trắc và cảnh báo, các Trung tâm này đều có chức năng nghiên cứu phục vụ
những vấn đề đặc thù của các Viện quản lý trực tiếp giao cho. Cơ cấu tổ chức của các
Trung tâm bao gồm: Ban Giám đốc, Văn phòng, các phòng chuyên môn. Bốn trung
tâm này còn có một số trạm vùng trực thuộc ở những vùng nuôi trọng điểm đặc thù.
Bảng 1 thể hiện nhân sự tham gia vào mạng lưới quan trắc. Tổng số cán bộ thực
hiện quan trắc, cảnh báo môi trường nuôi trồng thuỷ sản khoảng 119 cán bộ. Trong đó,
có khoảng 57 cán bộ chuyên làm về công tác Quan trắc và 22-37 cán bộ làm hợp đồng.
Bảng 1: Nhân sự của mạng lưới quan trắc môi trường thủy sản
Tên cơ quan Tổng
số cán
Cán bộ
chuyên
Lao động
hợp đồng
Số

tâm Quan trắc trực thuộc các Viện I, II, III và Trung tâm Quan trắc Môi trường biển
thuộc Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện theo hình thức giao nhiệm vụ hàng năm.
Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh Miền Bắc
thuộc Viện I, gồm có các phòng chuyên môn là Phòng Bệnh động vật thủy sản, Phòng
Môi trường, Phòng thông tin và Cảnh báo cùng các phòng thí nghiệm chuyên môn và
Văn phòng. Ngoài các đơn vị trực thuộc tại Trung tâm còn có 8 trạm vùng: Trạm Cát
Bà, Quý Kim, Hải Dương, Nam Định, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Sơn La và Tuyên
Quang. Trên thực tế, chỉ mới có các trạm vùng có cơ sở vật chất và nhân lực nằm trên
các đơn vị của Viện I đã thực hiện chức năng của trạm ở các mức độ khác nhau, các
trạm vùng không thuộc Viện chưa được xây dựng. Hoạt động hợp tác trong nhiệm vụ
quan trắc thường niên với các đơn vị quản lý thủy sản nơi có các trạm vùng không
thuộc Viện cũng chưa được phối hợp chặt chẽ ngoại trừ với Chi Cục NTTS Thừa
Thiên Huế.
Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh Nam Bộ -
Viện II gồm 3 phòng chức năng chính là Phòng bệnh học thủy sản, Phòng Môi trường,
Phòng thông tin, tổng hợp. Các trạm thu mẫu được phân chia thành trạm cấp I (7 trạm)
và cấp II. Trạm cấp I là các trạm tối thiểu giúp thu thập các tài liệu cơ bản để phân tích
đánh giá chất lượng nước của một tiểu vùng. Trạm cấp II là các trạm mở rộng theo yêu
cầu và điều kiện cho phép. Các địa điểm chính là Bán đảo Cà Mau, Đồng Tháp Mười,
Sông Tiền, Sông Hậu, Tứ giác Long Xuyên.
1
Hiện chỉ có 03 cán bộ phụ trách trực tiếp lĩnh vực môi trường thủy sản.
9
Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh Miền Trung
- Viện III, thực hiện quan trắc môi trường tại các tỉnh Nam Trung bộ và các tỉnh Tây
nguyên gồm 7 trạm đo.
Trung tâm quốc gia Quan trắc môi trường biển thuộc Viện nghiên cứu Hải sản,
tham gia vào trạm quan trắc phân tích môi trường biển quốc gia (Trạm quan trắc biển
khơi 5) và phụ trách quan trắc môi trường biển vùng biển khơi Côn Đảo, Trung và
Đông Nam Bộ, Tây Nam bộ.

10
Hiện nay kinh phí chi cho hoạt động quan trắc cảnh báo hàng năm rất hạn chế
trong khi nhu cầu quan trắc rất lớn (Bảng 2). Các trung tâm không thể tiến hành quan
trắc trên nhiều đối tượng nuôi, nhiều điểm đo và tần suất quan trắc cao.
Bảng 2: Kinh phí hàng năm từ 2005-2008
Tên đơn vị Kinh phí hàng năm
2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
TTQT CBMT và PNDB Miền Bắc 250 450 750 960 960 960 400
TTQG QTCB môi trường biển 400 600 1.10
0
- 1150 1150 500
TTQG QTCB MT và PNDB Miền Trung 350 550 800 1.200 1200 1200 600
TTQG QTCBMT và PNDB Nam Bộ 350 550 900 - 1600 2800 600
1.4.3 Quan trắc và cảnh báo thông tin
Trong quá trình thực hiện quan trắc, các báo cáo định kỳ hàng quý được gửi lên
Vụ Khoa học Công nghệ và Môi trường. Các bản tin quan trắc được gửi cho người
nuôi; vùng nuôi và cơ quan quản lý NTTS của địa phương (tùy vào từng địa phương
cơ quan quản lý NTTS tham gia vào hoạt động quan trắc với các trung tâm có thể là
trung tâm khuyến ngư, chi cục NTTS hay chi cục Thủy sản); Vụ Khoa học Công nghệ
và Môi trường và Tổng cục Thủy sản. Riêng tại Trung tâm Quan trắc Miền Bắc, với sự
phối hợp với Chi Cục NTTS Thừa Thiên Huế, thông tin quan trắc môi trường và bệnh
được đưa lên Đài truyền hình tỉnh 1 lần/tuần và có phát lại.
Số liệu quan trắc phục vụ các bản tin được xử lý bằng cách đối chiếu với các tiêu
chuẩn ngành (TCN), tiêu chuẩn quốc gia (TCQG) cho từng đối tượng nuôi hay loại
hình thủy vực đã tương ứng. Nhiều thông số do không có các tiêu chuẩn sẵn có được
suy diễn căn cứ vào kinh nghiệm và sự tham khảo của các tác giả khác để tổng hợp và
đưa ra nhận định.
Các bản tin đồng thời được đưa lên trang Web của Vụ Khoa học Công nghệ và
Môi trường. Khi trang Web chỉ mới phục vụ thông tin về môi trường thủy sản, các bản
tin được đăng tải đều đặn theo các hoạt động thu mẫu của các trung tâm. Sau khi được

2
, độ cứng, kiềm tổng số, Phosphate, Ammonia, NH
3
,
Nitrate, Nitrite, nhu cầu ô xy hóa học (COD), nhu cầu oxy sinh học (BOD),
Sulfide, Sắt tổng số, tổng N, tổng P, Chloropyll-a, dư lượng váng dầu, Chì,
Cadmium, Đồng, Thủy ngân, Asen và Kẽm.
• Các thông số về bệnh: Vi khuẩn hiếu khí; Vi khuẩn Vibrio; Coliform; vi khuẩn
trên tôm và cá; Virut đốm trắng, đầu vàng và Taura trên tôm; mô, nấm, ký sinh
trùng, virut trên cá.
• Các thông số và động thực vật thủy sinh: Thực vật phù du, Tảo độc hại, Động
vật phù du và động vật đáy.
• Các thông số về môi trường trầm tích như: Thành phần cơ giới, hô hấp đất, pH
đất, thế Oxy hóa-Khử, Tổng N đáy, tổng P đáy, tổng C đáy, tổng lưu huỳnh,
tổng sắt trong đất, nấm trong đất và vi khuẩn Vibrio.
Tần suất quan trắc định kỳ của các Trung tâm cũng có khác biệt giữa các đối
tượng nuôi khác nhau và thậm chí trên cùng một đối tượng. Tần suất quan trắc thường
từ 3 - 6 lần/năm tập trung vào 06 tháng mùa vụ sản xuất chính trong năm. Ví dụ nhóm
các yếu tố dinh dưỡng được quan trắc 1 lần/tháng ở miền Bắc, 0.25 lần/tháng ở miền
Trung đối với tôm Sú. Ngoài quan trắc định kỳ, quan trắc đột xuất tiến hành khi có
12
hiện tượng dịch bệnh xảy ra trên diện rộng đối với các đối tượng như tôm, cá biển và
cá nước ngọt, nhuyễn thể.
1.5 Kết quả và những hạn chế của mạng lưới quan trắc môi trường trong NTTS
1.5.1 Kết quả
- Thiết lập và duy trì hoạt động của mạng lưới quan trắc môi trường thủy sản
Mạng lưới quan trắc môi trường thủy sản được hình thành dựa vào 04 trung tâm
quan trắc thuộc Viện I, II, III và Viện NCHS với mục tiêu là cung cấp được cho người
nuôi và các nhà quản lý diễn biến môi trường và bệnh để điều hành và chỉ đạo sản xuất
cũng như đánh giá tác động của NTTS lên môi trường. Mạng lưới gồm có các trung

13
- Xây dựng được cơ sở dữ liệu, trang Web phục vụ cảnh báo
Do đặc thù sản xuất NTTS ở từng vùng khác nhau, việc thống nhất được cách
thức tiếp cận, phương pháp triển khai và xây dựng cơ sở dữ liệu chung trên phạm vi
toàn quốc là rất khó. Tuy nhiên, mạng lưới đã có những thống nhất và xây dựng được
CSDL mà qua đó có thể phục vụ phân tích xu hướng diễn biến, cung cấp thông tin cho
người nuôi, nhà quản lý. “Nhiệm vụ ứng dụng CNTT trong quan trắc, cảnh báo môi
trường, bệnh thủy sản” do Trung tâm Quan trắc Miền Bắc thực hiện đã xây dựng được
CSDL môi trường, bệnh, công cụ mô hình hóa, GIS, module cảnh báo suy diễn. Bộ đã
đánh giá cao và cho tiếp tục phát triển với quy mô lớn hơn cho toàn bộ lĩnh vực môi
trường nông nghiệp. Hiện nay, các bản tin cảnh báo đã có thể được tải lên trang Web
. Dữ liệu này có thể được truy cập trên mạng
Internet từ trang Web hiện có. Các bản tin quan trắc định kỳ của các trung tâm, tin tức
và những sự cố môi trường, dịch bệnh có đã và đang được đăng tải ngày một nhiều.
1.5.2 Hạn chế
- Bất cập trong quản lý nhiệm vụ quan trắc theo hình thức đề tài
Việc phê duyệt và tổng kết nhiệm vụ quan trắc được thực hiện giống như một
nhiệm vụ khoa học. Cách quản lý nhiệm vụ quan trắc là nhiệm vụ hàng năm theo hình
thức đề tài có nhiều bất cập do hoạt động quan trắc có đặc thù về mùa vụ cần phải thực
hiện kịp thời. Trong khi đó, việc phê duyệt và nghiệm thu nhiệm vụ thường rất chậm
so với nhu cầu sản xuất nên không thể đáp ứng thực tiễn sản xuất.
- Thiếu cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực
Tuy mạng lưới hiện nay đã được hình thành và đi vào hoạt động nhưng chủ yếu
các trung tâm quan trắc vẫn dựa trên cơ sở phòng thí nghiệm, trang thiết bị máy móc
của các Viện được đầu tư từ nhiều nguồn đề tài, dự án, tài trợ nhỏ lẻ phục vụ nghiên
cứu là chủ yếu chứ chưa được đầu từ quy mô, đồng bộ nhằm phục vụ quan trắc môi
trường (trừ đầu tư cho Trung tâm Quan trắc Miền Nam). Các trạm vùng của trực thuộc
các trung tâm hầu như chưa được đầu tư và trang thiết bị thiết yếu cho quan trắc hiện
trường cũng như phòng thí nghiệm. Bởi vậy, nhiều thông số môi trường như kim loại
nặng, thuốc trừ sâu phải thuê kiểm nghiệm ở nơi khác làm giảm tính thời sự của thông

những thông tin cảnh báo kịp thời về môi trường và bệnh thủy sản phục vụ trực tiếp
cho chỉ đạo điều hành và quản lý sản xuất. Tuy nhiên, việc xác định quan trắc môi
trường nuôi đối tượng gì, quan trắc ở đâu và thông tin quan trắc được phổ biến tới các
cơ quan quản lý trung ương cũng như địa phương và người nuôi như thế nào chưa
được chính những cơ quan này tham gia ngay từ khâu lên kế hoạch hàng năm. Các cơ
quan quản lý và chỉ đạo sản xuất nhận được thông tin từ các trung tâm một cách bị
động do chưa có một cơ chế ràng buộc, thống nhất và việc gửi thông tin quan trắc
được. Việc phối hợp và trao đổi thông tin giữa các Trung tâm quan trắc với nhau và
với các đơn vị quan trắc ngoài ngành nông nghiệp còn chưa kịp thời, chưa phục vụ
tích cực cho hoạt động quản lý sản xuất NTTS.
- Thiếu bộ thông số thống nhất và cơ chế xử lý thông tin đồng bộ
Hiện nay, tuy đã có nhiều nỗ lực thống nhất về cách thức tiếp cận chung và
phương pháp quan trắc, bộ thông số, tần suất quan trắc, cách xử lý số liệu, quản lý dữ
liệu và phương pháp cảnh báo, gửi thông tin của các trung tâm thuộc các Viện I, II, III
vẫn còn nhiều khác biệt. Nhiều thông số môi trường nuôi chưa có tiêu chuẩn cụ thể,
chưa có các tiêu chuẩn về thủy sinh vật, bệnh, kim loại nặng, hoặc có các tiêu chuẩn
nhưng chưa có tiêu chuẩn riêng cho NTTS. Việc áp dụng các tiêu chuẩn, chỉ số,
phương pháp đánh giá của nước ngoài vào điều kiện NTTS đặc thù nhỏ lẻ, phân tán và
đa dạng loài nuôi, hình thức nuôi không thể tránh khỏi khiên cưỡng do đặc thù sản
xuất khác nhau. Những hạn chế trên dẫn đến mạng lưới quan trắc thiếu hẳn tính thống
15
nhất, làm cho cơ quan quản lý sản xuất và người sản xuất rất khó tiếp cận và xử lý
thông tin thu được.
1.6 Nguyên nhân
Những hạn chế trên đây của mạng lưới quan trắc môi trường xuất phát từ các nguyên
nhân chính sau đây:
• Ngành thủy sản chưa có chiến lược phát triển mạng lưới quan trắc môi trường
phục vụ NTTS hợp lý và đồng bộ về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực và cơ chế
vận hành.
• Việc đầu tư cho hoạt động quan trắc môi trường (cơ sở vật chất, phòng thí

1.8 Thống nhất đầu mối quản lý gắn với cơ quan quản lý và chỉ đạo sản xuất
Để hoạt động quan trắc môi trường đảm bảo hiệu quả, Dự án sẽ thống nhất cơ
quan đầu mối quản lý về chuyên môn là TCTS - cơ quan quản lý nhà nước về hoạt
động sản xuất NTTS. Ban quản lý Dự án thuộc TCTS sẽ được thành lập để quản lý
thống nhất hoạt động quan trắc môi trường. Đây sẽ là hoạt động thường xuyên, được
cấp kinh phí theo kế hoạch hàng năm để kịp thời cung cấp dữ liệu cần thiết phục vụ
công tác chỉ đạo sản xuất.
1.9 Tin học hóa, tự động hóa, ứng dụng GIS và viễn thám
Cần ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám vào mạng lưới quan trắc cảnh báo
môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản vì nhờ các thông tin thu thập được từ
mạng lưới quan trắc, công nghệ GIS và viễn thám sẽ tạo được cơ sở dữ liệu thuộc tính
trên nền bản đồ số và ảnh vệ tinh về các khu vực NTTS. Công nghệ này đồng thời
giúp cho việc khoanh vùng những vùng nhạy cảm, ô nhiễm môi trường hoặc dịch bệnh
dựa trên các dữ liệu thuộc tính được cập nhật định kỳ theo chu kỳ quan trắc; các thông
tin từ mạng lưới quan trắc giúp cho việc xây dựng mô hình GIS về xu hướng biến
động của môi trường và lan truyền dịch bệnh, sự thay đổi của các thông số môi trường
và dịch bệnh theo định kỳ quan trắc, từ đó đưa ra các cảnh báo kịp thời, trước tiên là
đến người nuôi trồng, sau đến là các bên liên quan và đưa ra giải pháp tháo gỡ. Nhờ
vào công nghệ GIS và viễn thám, các cơ quan nghiên cứu và các cơ quan cấp cao
chuyên ngành thuỷ sản có thể dự báo xu hướng nuôi trồng, xu thế biến động vùng
nuôi, môi trường, dịch bệnh, quy hoạch vùng nuôi, và các vùng ô nhiễm. dịch bệnh
Mặt khác, nhờ GIS và viễn thám các cơ quan chuyên môn khác có thể tham khảo các
thông tin này một cách nhanh chóng và có hiệu quả.
Các thông tin thu được từ các điểm đo sẽ được báo về trạm vùng và trạm vùng sẽ
thông báo tiếp tục về trung tâm. Các trung tâm sẽ tổng hợp và phân tích, lập thành bản
đồ GIS về các thông số môi trường và dịch bệnh gửi lên cơ quan quản lý nhà nước về
NTTS phục vụ kịp thời cho công tác cảnh báo. Thông tin sau đó phải được đăng tải lên
trang Web của mạng lưới.
Để đưa ra được cảnh báo nhanh cần phải dựa trên nhiều thông tin từ cơ sở dữ liệu
quan trắc được cũng như về khí tượng thuỷ văn, các dự báo thời tiết, các thông tin cập

thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, quan trắc, cảnh báo môi trường, dịch bệnh; thiết
lập mạng lưới quan trắc để tiếp nhận kết quả quan trắc môi trường NTTS từ các Trạm
vùng trực thuộc địa phương và cơ sở thuộc địa bàn quản lý, tổng hợp, xử lý và truyền
tải thông tin, báo cáo về TCTS. Ngoài ra, các trung tâm tham gia nghiên cứu cơ sở
khoa học của hoạt động quan trắc và cảnh báo môi trường, bệnh và ứng dụng công
nghệ thông tin cho hoạt động quan trắc, cảnh báo môi trường, dịch bệnh trong nuôi
trồng thuỷ sản.
- Các Trạm quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản
vùng (được gọi tắt là Trạm quan trắc hay trạm vùng): thực hiện các nhiệm vụ nghiên
cứu và quan trắc cảnh báo môi trường, dịch bệnh trên địa bàn thuộc phạm vi trạm quản
lý, báo cáo kết quả về Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường trực tiếp quản lý đơn
vị; phối hợp với các ban quan trắc tại các tỉnh thực hiện các nhiệm vụ quan trắc và
thông báo kết quả quan trắc kịp thời về cho Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
trên địa bàn hoạt động.
- Các Ban quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thuỷ sản
trực thuộc Chi cục Nuôi trồng thuỷ sản hoặc Chi cục quản lý Thuỷ sản các tỉnh hoặc
thành phố trực thuộc Trung ương (được gọi tắt là Ban quan trắc) được nâng cấp và cấp
kinh phí từ ngân sách địa phương để duy trì các hoạt động quan trắc, phối hợp với các
18
trạm quan trắc để có thông báo kịp thời về số liệu quan trắc cho các trạm quan trắc và
tại địa bàn quản lý hoạt động thuỷ sản để có phương án dự báo, cảnh báo kịp thời cho
người dân đang tham gia hoạt động sản xuất thuỷ sản để có phương án quản lý điều
hành hoạt động sản xuất. Ban quan trắc sẽ thực hiện quan trắc tại các điểm đo là các
thủy vực thuộc các vùng NTTS tập trung (nguồn cấp, ao đầm nuôi hay kênh mương
thải).
19
20
SƠ ĐỒ 1. MẠNG LƯỚI QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Các Trạm quan trắc trực

Tàu, Cà Mau, Bạc Liêu, Bến
Tre, An Giang, Đồng Tháp,
Kiên Giang)
Ban quan trắc trực thuộc các Chi cục Thủy sản/Nuôi trồng thủy sản/ Cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản cấp tỉnh/tp trược thuộc Trung ương có vùng
nuôi trồng thủy sản tập trung
Trạm Quan trắc cảnh báo môi
trường biển tại Bà Rịa - Vũng
Tàu
1.11 Nâng cấp trang thiết bị và phòng thí nghiệm
Việc duy trì và phát huy hoạt động của hệ thống trang thiết bị và phòng thí
nghiệm môi trường và bệnh thuỷ sản hiện đang có tại các Viện I, II, III và Viện NCHS
được thực hiện thông qua đầu tư nâng cấp các trang thiết bị, phòng thí nghiệm để đáp
ứng kịp thời yêu cầu thực tế. Những trang thiết bị bổ sung trong dự án này được xác
định trên cơ sở tham chiếu với các dự án đầu tư xây dựng các Trung tâm đã được Bộ
Thuỷ sản trước đây và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay phê duyệt.
1.12 Nâng cấp cơ sở hạ tầng thông tin cảnh báo
- Thiết lập hệ thống thông tin cho Văn phòng Dự án quản lý quan trắc cảnh báo
môi trường, dịch bệnh tại TCTS. Đây là đầu mối quản lý tập trung thông tin về các
hoạt động quan trắc môi trường, dịch bệnh trong NTTS trên toàn quốc.
- Nâng cấp, xây dựng hệ thống thông tin, quản lý cơ sở dữ liệu, truyền nhận số
liệu từ các điểm, trạm quan trắc về Trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường, bệnh và
tới TCTS; chia sẻ thông tin về tình hình môi trường, dịch bệnh thủy sản giữa TCTS
với các Trung tâm vùng, Trạm quan trắc và điểm quan trắc trên toàn quốc thông qua
mạng trung tâm đặt tại TCTS.
1.13 Triển khai nhiệm vụ quan trắc môi trường thường xuyên phục vụ NTTS
Điểm quan trắc sẽ đặt tại các vùng nuôi trọng điểm, khu vực nuôi tập trung và
với đối tượng nuôi chủ lực. Địa điểm, bộ thông số, tần suất, thời gian quan trắc thay
đổi theo tình hình thực tế NTTS ở từng khu vực với các đối tượng nuôi, điều kiện môi
trường và bệnh.
Trung tâm Quan trắc Cảnh báo môi trường và Phòng ngừa dịch bệnh miền Bắc

Liêu, Kiên Giang, An Giang sẽ được đưa vào hoạt động (Bảng 5).
Bảng 5: Đối tượng chủ lực và địa điểm nuôi cần quan trắc môi trường tại miền Nam
Đối tượng quan trắc Vùng quan trắc tại các tỉnh Nam Bộ
Tôm nước lợ Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Hậu
Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
Nhuyễn thể Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh,
Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang.
Cá biển Vũng Tàu, Kiên Giang
Cá tra Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Cần
Thơ, Hậu Giang.
Trung tâm Quốc gia quan trắc, cảnh báo môi trường biển, Viện NCHS được
giao thực hiện nhiệm vụ triển khai các hoạt động quan trắc, cảnh báo MT biển ven bờ;
cung cấp thông tin, số liệu về hiện trạng, cảnh báo chất lượng môi trường biển, khu
vực nuôi biển, khu bảo tồn biển trên toàn quốc.
1.14 Thống nhất bộ thông số quan trắc môi trường trên toàn quốc
Cần phải xây dựng bộ thông số quan trắc môi trường thống nhất cho tất cả các
điểm quan trắc trên phạm vi toàn quốc. Việc xác định bộ thông số và tần suất quan trắc
cho từng đối tượng được căn cứ trên đặc thù nuôi của từng loài, tính chất thay đổi của
bản thân từng thông số theo điều kiện thời tiết và hoạt động nuôi, điều kiện môi trường
22
và tình hình bệnh ở từng khu vực cụ thể. Những yếu tố này có thể được điều chỉnh
theo hướng thông số, nhóm thông số nào có xu hướng biến động lớn, có nguy cơ ảnh
hưởng lớn lên đối tượng nuôi sẽ phải được quan trắc với tần suất cao hơn. Khi có biểu
hiện bất thường hay sự cố cần phải lấy mẫu và phân tích đầy đủ các thông số ở mức có
thể để xác định nguyên nhân gây chết hay nguồn, tác nhân gây ô nhiễm hay gây bệnh.
Bảng 6: Bộ thông số và tần suất quan trắc môi trường nuôi tôm
Thông số quan trắc Tần suất
quan trắc
định kỳ
Thu mẫu đột

TVPD và tảo độc
Kim loại nặng (Cu, As, Cd, Zn, Hg và Pb), BVTV (gốc
clo, phosphore, carbamate).
2 lần/vụ (đầu
vụ và cuối vụ)
Vi rút, vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng trên tôm 1 lần/tháng Khi có dấu hiệu
về bệnh
Thành phần cơ giới, pH đất, thế Oxy hóa-Khử, Tổng N
đáy, tổng P đáy, tổng C đáy, nấm trong đất và vi khuẩn
Vibrio.
3 lần/vụ (đầu,
giữa và cuối
vụ)
Bảng 8: Bộ thông số và tần suất quan trắc môi trường nuôi cá Rô phi
Thông số quan trắc Tần suất
quan trắc
định kỳ
Thu mẫu đột
xuất
Nhiệt độ, pH, độ trong, Oxy hòa tan (DO) 2 lần/ngày
NO
2
-
, NH
4
+
, độ kiềm 2 lần/tháng
NO
3
-

Bảng 9 : Bộ thông số và tần suất quan trắc môi trường nuôi nhuyễn thể
Thông số quan trắc Tần suất quan
trắc định kỳ
Thu mẫu đột xuất
Nhiệt độ, pH, độ muối, 2 lần/ngày (khi
triều cao và
triều kiệt)
NO
2
-
, NH
4
+
, NO
3
-
, PO
4
3-,
, H
2
S, TSS (tổng chất rắn
lơ lửng), COD, Nhu cầu Oxy sinh học (BOD5), độ
kiềm, độ cứng
1 lần/tháng
Mật độ và thành phần thực vật phù du, mật độ và
thành phần tảo độc hại, Coliforms, vi khuẩn hiếu
khí tổng số, Vibrio tổng số
1 lần/tháng Khi có hiện tượng nở
hoa của tảo lấy mẫu

3-,
SO
4
2-
, H
2
S, TSS (tổng chất rắn lơ
lửng), COD, Nhu cầu Oxy sinh học (BOD5), độ
kiềm, độ cứng
1 lần/tháng
Mật độ và thành phần thực vật phù du, mật độ và
thành phần tảo độc hại, Coliforms, vi khuẩn tổng
số.
1 lần/tháng Khi có hiện tượng nở
hoa của tảo lấy mẫu
TVPD và tảo độc
Kim loại nặng (Cu, As, Cd, Zn, Hg và Pb), BVTV
(gốc clo, phosphore, carbamate)
1 lần/vụ
Vi rút, vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng 1 lần/tháng Khi có dấu hiệu về bệnh
Thành phần cơ giới, hô hấp đất, pH đất, thế Oxy
hóa-Khử, Tổng N đáy, tổng P đáy, tổng C đáy.
2 lần/vụ (đầu
và cuối vụ)
Bảng 11: Bộ thông số và tần suất quan trắc môi trường nuôi cá biển lồng bè
Thông số quan trắc Tần suất quan
trắc định kỳ
Thu mẫu đột xuất
Nhiệt độ, pH, độ muối, Oxy hòa tan (DO), tốc độ
dòng chảy

TVPD và tảo độc
Kim loại nặng (Cu, As, Cd, Zn, Hg và Pb), BVTV
(gốc clo, phosphore, carbamate)
1 lần/vụ Khi có sự cố cá chết
hàng loạt.
Vi rút, vi khuẩn, , nấm, ký sinh trùng 1 lần/tháng Khi có dấu hiệu về
bệnh
Màu sắc của nền bùn đáy, thành phần cơ giới, hô
hấp đất, pH đất, thế Oxy hóa-Khử, Tổng N đáy,
3 lần/vụ (đầu,
giữa và cuối
Khi có sự cố cá chết
hàng loạt.
25

Trích đoạn PHỤ LỤC 1: CHI TIẾT NỘI DUNG VÀ KINH PHÍ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status