khái quát lịch sử việt nam thời trần - Pdf 27

Nhà Trần
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Lịch sử Việt Nam
Thời tiền sử
Hồng Bàng
An Dương Vương
Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
Nhà Triệu (207 - 111 TCN)
Hai Bà Trưng (40 - 43)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
Khởi nghĩa Bà Triệu
Nhà Tiền Lý và Triệu Việt
Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
Mai Hắc Đế
Phùng Hưng
Tự chủ (905 - 938)
Họ Khúc
Dương Đình Nghệ
Kiều Công Tiễn
Nhà Ngô (938 - 967)
Loạn 12 sứ quân
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
Nhà Hậu Trần

sửa
Bài này nói về nhà Trần trong lịch sử Việt Nam, để tham khảo về nhà Trần trong
lịch sử Trung Quốc, xin xem Nhà Trần (Trung Quốc). Về các nghĩa khác của
chữ Trần, xem Trần (định hướng).
Nhà Trần hoặc Trần triều (Hán-Nôm: 家陳・陳朝—nhà Trần・Trần triều) là triều đại
phong kiến trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm 1225 sau khi
giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi
bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly
– tổng cộng là 175 năm.
Mục lục
[ẩn]
• 1 Lịch sử
o 1.1 Nguồn gốc
o 1.2 Nguồn gốc tên
• 2 Thay ngôi nhà Lý, củng cố chính quyền
o 2.1 Thay ngôi nhà Lý
o 2.2 Dẹp nội loạn
• 3 Chống Nguyên Mông
• 4 Đối ngoại
o 4.1 Với Chiêm Thành
o 4.2 Với Ai Lao
• 5 Tổ chức quân đội
• 6 Hành chính
• 7 Luật pháp
• 8 Kinh tế
• 9 Giáo dục, thi cử
• 10 Tôn giáo
• 11 Văn hóa nghệ thuật
• 12 Thời kỳ suy tàn
• 13 Chính sách hôn nhân

An Quốc, Trần An Bang và Trần Thủ Độ
[1]
.
[sửa] Nguồn gốc tên
Các nhà lãnh đạo thuộc những thế hệ đầu tiên thường mang tên các loài cá, do nguồn gốc
xuất thân chài lưới của họ Trần. Tổ họ Trần vốn tên là Chép, được dịch sang tiếng Hán là
鯉, phiên âm là "Lý", nghĩa là cá chép. Con ông là Trần Thừa vốn có tên là Dưa (cá dưa).
Hai con trai Trần Thừa vốn có tên là Leo (cá leo), được phiên theo chữ Hán là Liễu (cha
của Trần Quốc Tuấn), người con thứ hai có tên là Lành Canh (cá lành canh), phiên sang
chữ Cảnh (vua Thái Tông). Trần Thị Dung cũng vốn có tên là Ngừ (cá ngừ), khi làm
hoàng hậu của Lý Huệ Tông mới đổi gọi là Dung. Về sau dân địa phương lập đền thờ bà
vẫn gọi là "Bà chúa Ngừ".
Từ thế hệ thứ hai, nhà Trần nắm quyền cai trị nên mới đặt theo các tên đời sau thường
biết tới.
[sửa] Thay ngôi nhà Lý, củng cố chính quyền
Một công trình trong quần thể đền Trần, Nam Định, Việt Nam
[sửa] Thay ngôi nhà Lý
Xem chi tiết: Lý Huệ Tông
Vốn sống bằng nghề đánh cá, họ Trần thường sinh sống làm ăn ở những vùng cửa sông
ven biển, đến đời Trần Lý (ông nội của vua Trần Thái Tông) đã trở thành một cự tộc có
thế lực vùng Hải Ấp (nay là xã Lưu Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình).
Năm 1209, khi trong triều có biến loạn, vua Lý Cao Tông phải chạy lên Quy Hoá, Thái tử
Sảm chạy về Hải Ấp đã được gia đình Trần Lý giúp đỡ. Hoàng tử Sảm đã kết duyên cùng
Trần Thị Dung, con gái thứ hai của Trần Lý. Họ Trần đã tập hợp hương binh giúp nhà Lý
dẹp loạn, diệt trừ Quách Bốc (thuộc tướng của Phạm Bỉnh Di), đưa vua Lý trở lại kinh
đô. Cậu ruột Trần Thị Dung là Tô Trung Từ làm Điện tiền chỉ huy sứ
Uy thế họ Trần bắt đầu được đề cao từ khi hoàng tử Sảm lên ngôi vào năm 1211, tức là
vua Lý Huệ Tông. Ông cho đón vợ là Trần Thị Dung về cung lập làm nguyên phi. Lúc
này, Tô Trung Từ được phong Thái uý phụ chính.
Huệ Tông là người yếu đuối, lại bị Thái hậu họ Đàm khống chế, nên mọi việc đều phó

nghiêng ngả dưới thời Lý.
[sửa] Chống Nguyên Mông
Bài chi tiết: Kháng chiến chống Nguyên Mông
Ở phương Bắc, người Mông Cổ dần dà xâm chiếm Trung Quốc. Sau khi tiêu diệt nhà
Kim phía bắc, các vua Mông Cổ tiến xuống phía nam để diệt nước Nam Tống vốn đã suy
yếu khi bị nhà Kim của người Nữ Chân xâm lấn từ đầu thế kỷ 12. Để tạo thế bao vây
Nam Tống, vua Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam (1254) và sau đó đánh
sang Đại Việt.
Cuối năm 1257 âm lịch, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai hay 兀
良合台) mang 3 vạn quân tiến vào nước Đại Việt qua đường Vân Nam. Vua Trần Thái
Tông đích thân ra chiến trận. Quân Trần cố gắng chặn nhưng quân Mông Cổ vẫn tiến vào
được Thăng Long. Nhân dân Thăng Long theo lệnh của triều đình đã thực hiện "vườn
không nhà trống", rút về Thiên Mạc (Hà Nam). Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào
Thăng Long chưa đầy 1 tháng thì bị thiếu lương thực. Nhân cơ hội đó quân Đại Việt phản
công ở Đông Bộ Đầu (Từ Liêm-Hà Nội). Quân Mông Cổ thua phải rút khỏi Thăng Long,
đến vùng Quy Hóa (Yên Bái) bị quân của tộc trưởng Hà Bổng đánh tan tác, quân Mông
Cổ rút chạy về Vân Nam.
Năm 1279, quân Mông diệt được Nam Tống. Từ năm 1260, vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt
đã lập ra nhà Nguyên. Để lấy cớ đánh Đại Việt, nhà Nguyên cho Toa Đô mượn đường
đánh Chiêm Thành (Champa). Sau nhiều hoạt động ngoại giao hòa hoãn bất thành, cuối
cùng chiến tranh bùng phát. Cuối năm 1284, nhà Nguyên liền phái hoàng tử Thoát Hoan
và tướng Toa Đô mang quân đánh hai đường nam, bắc kẹp lại để chiếm Đại Việt. Thoát
Hoan đi từ Quảng Tây còn Toa Đô đi đường biển từ cảng Quảng Châu, trước hết đánh
vào Chiêm Thành rồi đánh "gọng kìm" thốc lên từ phía nam Đại Việt.
Đây là lần xâm lược Đại Việt với quy mô lớn nhất của nhà Nguyên (huy động hơn 50 vạn
quân) và cũng là cuộc kháng chiến gian khổ nhất của nhà Trần chống phương Bắc, quyết
định sự tồn vong của Đại Việt lúc đó.
Sau nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Mông, dùng chiến thuật vườn
không nhà trống để quân địch không có lương ăn và bị bệnh dịch do không hợp thủy thổ
bản địa, nhà Trần tổ chức phản công vào cuối xuân, đầu hè năm 1285. Với những chiến

Vua Trần Anh Tông sai tướng Trần Khắc Chung giả tiếng vào thăm rồi tìm kế rước về.
Chế Mân chết thì Chế Chỉ lên thay và đòi lại hai châu mà Chế Mân đã dâng cho Đại Việt.
Vua Trần Anh Tông sai quân sang bắt Chế Chỉ đem về trị tội và phong cho em của Chế
Chỉ là Chế Đà A Bà lên thay làm vua nước Chiêm Thành. Đến đời vua Trần Dụ Tông,
con và rể của vua Chiêm Thành tranh giành nhau ngôi vua, quân nhà Trần sang can thiệp
nhưng bị quân Chiêm Thành đánh bại cả hai lần.
Năm 1370, các hoàng tử con vua Minh Tông lật đổ Dương Nhật Lễ (xem phần "Thời kỳ
suy tàn" bên dưới) lập Trần Nghệ Tông. Mẹ Nhật Lễ chạy sang Chiêm Thành xui vua
Chiêm đánh Đại Việt. Lúc đó thế lực nhà Trần suy yếu, Chiêm Thành có ý khởi binh
đánh đòi lại hai châu đã mất. Đến đời vua Trần Duệ Tông, vua Chiêm Thành là Chế
Bồng Nga quấy rối biên giới, vua Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đem quân trấn giữ Hóa
Châu. Bồng Nga đem 10 mâm vàng dâng lên. Tử Bình ỉm đi, cướp làm của mình, nối dối
là Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên đem quân đánh. Duệ Tông giận lắm, quyết ý thân
chinh. Cuối năm 1376, quân Trần xuất phát. Năm 1377, quân Trần chiếm cửa Thị Nại
(Quy Nhơn ngày nay) rồi tiến đánh kinh thành là Đồ Bàn. Lúc đó Chế Bồng Nga, một
ông vua có tài thao lược, dùng kế dụ quân Trần
vào ổ mai phục đánh tan. Vua Trần Duệ Tông bị tử trận, Hồ Quý Ly, Đỗ Tử Bình rút
quân bỏ chạy về nước. Thừa thắng xông lên, Chế Bồng Nga nhiều lần mang quân sang
đánh phá Đại Việt, Hồ Quý Ly nhiều lần ra trận bị thua, quân Chiêm ba lần chiếm được
kinh thành Thăng Long, vua tôi nhà Trần phải bỏ thành chạy. Quân Chiêm cướp phá kinh
thành rồi rút về. Đỗ Tử Bình chỉ bị đồ làm lính 1 năm rồi sau đó lại được nhấc lên địa vị
cao hơn.
Năm 1390, Chế Bồng Nga lại đem quân sang đánh. Tướng trẻ Trần Khát Chân được lệnh
đem binh dàn trận ở sông Hải Triều (sông Luộc ở vùng Hưng Yên ngày nay). Nhờ có
hàng tướng bên Chiêm sang chỉ chỗ, Khát Chân sai chĩa hỏa pháo nhằm cả vào thuyền
Chế Bồng Nga mà bắn. Vua Chiêm trúng đạn tử trận, quân Chiêm bỏ chạy và sau đó con
của Chế Bồng Nga hàng phục Đại Việt. Kể từ đó trong thời gian dài Chiêm Thành không
dám đánh Đại Việt nữa.
[sửa] Với Ai Lao
Vào đời nhà Trần, quân của Ai Lao thường sang quấy phá cướp bóc ở vùng Nghệ An và

phẩm trở xuống là tiểu tư xã. Có người làm kiêm cả 2-4 xã, cùng xã chính, xã sử,
xã giám gọi là xã quan.
Mỗi lộ đều có quyền dân tịch để kiểm soát dân số trong lộ. Dân chúng trong nước được
chia ra làm 3 hạng: hạng tiểu hoàng nam (từ 18 tuổi đến 20 tuổi), hạng đại hoàng nam (từ
20 tuổi đến 60 tuổi) và hạng lão (trên 60 tuổi). Lúc đầu chỉ có những người trong hoàng
tộc mới được giữ các chức quan nhưng từ đời vua Anh Tông, những người tài đức cũng
được tuyển dụng vào giữ các chức vụ quan trọng này. Sách Khâm định Việt sử Thông
giám Cương mục, phần chính biên, có ghi lại 12 lộ như sau: Thiên Trường, Long Hưng,
Quốc Oai, Bắc Giang, Hải Đông, Trường Yên, Kiến Xương, Hồng Khoái, Thanh Hoá,
Hoàng Giang, Diễn Châu.
[sửa] Luật pháp
Bài chi tiết: Pháp luật Đại Việt thời Trần
Vua Thái Tông cho sửa lại luật pháp rất nghiêm minh. Đại Việt sử ký toàn thư có chép lại
như sau:
Canh Dần, Kiến Trung năm thứ 5 1230: Mùa xuân, tháng 3, khảo xét các luật lệ
của triều trước, soạn thành Quốc triều thống chế và sửa đổi hình luật lễ nghi,
gồm 20 quyển.
Định bị đồ có mức độ khác nhau:
• Loại bị đồ làm Cảo điền hoành thì thích vào mặt 6 chữ, cho ở Cảo xã (nay
là xã Nhật Cảo), cày ruộng côn, mỗi người 3 mẫu, mỗi năm phải nộp 300
thăng thóc.
• Loại bị đồ làm Lao thành binh thì thích vào cổ 4 chữ, bắt dọn cỏ ở
Phượng Thành, thành Thăng Long, lệ vào quân Tứ sương.
Đặt ty bình bạc là cơ quan hành chính và tư pháp ở kinh đô Thăng Long lúc đó với chức
quan kinh doãn, chuyên xét đoán việc kiện tụng ở kinh thành. Năm 1265 đổi thành Đại an
phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn.
[sửa] Kinh tế
Bài chi tiết: Nông nghiệp Đại Việt thời Trần, Thủ công nghiệp Đại Việt thời Trần,
và Thương mại Đại Việt thời Trần
Về mặt nông nghiệp: để tránh nạn ngập lụt, vua Thái Tông sai đắp đê hai bên bờ sông và

[sửa] Tôn giáo
Bài chi tiết: Tôn giáo Đại Việt thời Trần
Về Phật giáo, vào đầu đời nhà Trần thì Phật giáo còn thịnh. Các nhà vua đều sùng đạo
cho xây chùa, đúc chuông, tạc tượng để phụng thờ khắp nơi. ĐVSKTT chép lại Thượng
hoàng xuống chiếu rằng trong nước hễ chỗ nào có đình trạm đều phải đắp tượng phật để
thờ.
Vua Nhân Tông còn sai sứ sang Trung Hoa để thỉnh kinh về truyền bá đạo Phật, và ông
chính là ông tổ đầu tiên của thiền phái Trúc Lâm. Nhưng cuối đời Trần, Phật giáo bị pha
thêm các hình thức mê tín bùa chú cho nên ngày càng suy vi. Về Lão giáo thì cũng được
nhân dân ngưỡng mộ. Do đó, nhà Trần cũng cho mở những khảo thi tam giáo như đời
nhà Lý.
[sửa] Văn hóa nghệ thuật
Bài chi tiết: Văn học đời Trần và Nghệ thuật Đại Việt thời Trần
Đời nhà Trần đã đào tạo được khá nhiều học giả nổi tiếng như Lê Văn Hưu soạn bộ Đại
Việt Sử Ký và đây là bộ sử đầu tiên của Việt Nam. Mạc Đĩnh Chi nổi tiếng là một ông
trạng rất mực thanh liêm, đức độ và có tài ứng đối đã làm cho vua quan nhà Nguyên phải
kính phục. Chu Văn An là một bậc cao hiền nêu gương thanh khiết, cương trực. Các vua
Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông, Anh Tông, Minh Tông đều là những người giỏi văn
chương và có soạn Ngự tập và danh tướng Trần Quốc Tuấn có làm những tác phẩm giá
trị như Hịch tướng sĩ.
Hàn Thuyên tức Nguyễn Thuyên có công làm thơ bằng chữ Nôm và đặt ra luật thơ Nôm.
Vì thế đã có nhiều học giả, văn nhân đã theo gương của Hàn Thuyên mà làm những bài
thơ Nôm rất giá trị. ĐVSKTT chép:
Bấy giờ (năm 1282) có cá sấu đến sông Lô. Vua sai hình bộ thượng thư Nguyễn
Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho việc này giống như
việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi là Hàn Thuyên. Thuyên lại giỏi làm thơ phú quốc
ngữ. Thơ phú nước ta dùng nhiều quốc ngữ, thực bắt đầu từ đấy.
Nghệ thuật điêu khắc thời Trần được đánh giá là có bước tiến bộ, tinh xảo hơn so với thời
Lý, trong đó có một số phù điêu khắc hình nhạc công biểu diễn mang phong cách Chiêm
Thành. Cách trang trí hoa dựa trên nghệ thuật dân dụng

quyền bính trong tay quyết định mọi việc nhưng lại quá tin dùng một mình Lê Quý Ly
(tức Hồ Quý Ly). Do đó, Quý Ly xúi giục Nghệ Tông giết hại các trung thần, các hoàng
tử, các thân vương và ngay cả vua Phế Đế cũng bị sự gièm pha của Quý Ly mà bị Nghệ
Tông phế bỏ
[6]
. Con Nghệ Tông là Thuận Tông (đồng thời là con rể Quý Ly) được lập lên
ngôi nhưng cũng không có thực quyền.
Vì có mưu đồ soán đoạt ngôi vua mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tông nên Hồ Quý Ly
đã tạo được khá nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Rồi từ đó Quý
Ly càng ngày càng lộng quyền không coi ai ra gì. Năm 1394, Nghệ Tông mất, Hồ Quý
Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi
công việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về Tây Đô rồi lập mưu
ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thiếu Đế khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi. Quý Ly
lên làm phụ chính sai người giết Thuận Tông và chuẩn bị cướp ngôi.
Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Trần Khát Chân lập
hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly, nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết vào
khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế truất Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua,
chiếm lấy ngôi nhà Trần, đổi sang họ Hồ.
Nhà Trần chấm dứt,kéo dài 175 năm với 13 đời vua.
[sửa] Chính sách hôn nhân
Nhà Trần lấy ngôi nhà Lý bằng biện pháp hôn nhân. Nhà Trần từ vai trò là ngoại thích
của nhà Lý đã giành ngôi. Do đó, để tránh họa ngoại thích, nhà Trần chủ trương chỉ kết
hôn với người trong họ.
Tác giả Nguyễn Thị Chân Quỳnh
[7]
đã dẫn ra hơn 30 trường hợp hôn nhân nội tộc của nhà
Trần:
1. Trần Liễu, anh Thái Tông, con Thượng hoàng Trần Thừa, lấy Thuận Thiên công
chúa, con vua Lý Huệ Tông và Thuận Trinh. Thuận Trinh là em ruột Trần Thừa,
Trần Liễu và Thuận Thiên là con cô con cậu.

và Thiên Cảm là con Trần Liễu) vừa là cháu chú cháu bác lấy nhau.
10. Thiên Thụy công chúa lại tư thông với Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư là tông
thất nhà Trần. Khánh Dư nhờ có công đánh quân Nguyên được Thượng hoàng
Thánh Tông nhận làm con nuôi.
11. Năm 1274, Nhân Tông, con Thánh Tông, lấy Bảo Thánh, rồi Tuyên Từ, đều là
con Hưng Đạo vương. Trường hợp này giống Thiên Thụy lấy Quốc Nghiễn.
12. Anh Tông, con Nhân Tông, cháu Thánh Tông, chắt Thái Tông, lấy Văn Đức phu
nhân năm 1292, là con Hưng Nhượng vương Quốc Tảng, cháu nội Hưng Đạo
vương, chắt Trần Liễu. Trường hợp này là cháu cô cháu cậu (Hưng Đạo vương và
Thiên Cảm là con Trần Liễu) hay chắt chú chắt bác lấy nhau.
13. Sau Anh Tông lại bỏ Văn Đức phu nhân mà lấy em ruột phu nhân là Thánh Tư.
14. Anh Tông lấy Huy Tư là con Thụy Bảo công chúa và Trần Bình Trọng. Thụy Bảo
là em Thánh Tông, Anh Tông là cháu nội Thánh Tông, tức cháu lấy cô.
15. Năm 1301, Thiên Trân công chúa, con Anh Tông, Anh Tông là con Nhân Tông,
cháu Thánh Tông, lấy Uy Túc công Văn Bích, cháu nội Trần Quang Khải. Quang
Khải và Thánh Tông là anh em, tức cháu chú cháu bác lấy nhau.
16. Thiên Trân chết, Uy Túc lại lấy Huy Thánh công chúa.
17. Thượng Trân công chúa, em Anh Tông, chắt Thái Tông lấy Văn Huệ công Quang
Triều, con Quốc Tảng, cháu Hưng Đạo, chắt Trần Liễu, tức chắt chú chắt bác lấy
nhau.
18. Trần Minh Tông, con Anh Tông, cháu Nhân Tông, lấy Huy Thánh tức Lệ Thánh,
con gái lớn Huệ Vũ vương Quốc Chẩn. Chẩn là em Anh Tông: con chú con bác
lấy nhau.
19. Minh Tông gả Huy Chân, con Nhân Tông, cho Uy Giản hầu năm 1317. Mẹ Huy
Chân là Trần Thị Thái Bình, cung tần của Thượng hoàng Anh Tông.
20. Năm 1318 Minh Tông gả Thiên Chân Trưởng công chúa cho Huệ Chính vương.
21. Năm 1337 Hiến Tông, con Minh Tông, lấy Hiển Trinh, con gái lớn Huệ Túc
vương Đại Niên.
22. Năm 1342, Thiên Ninh công chúa, con Minh Tông, lấy Hưng/Chính Túc vương
Kham.

cậu lấy nhau. Thuận Tông lại là cháu nội của Đôn Từ, cô của Quý Ly, lấy con gái
Quý Ly, tức anh em họ lấy nhau.
Từ khi Trần Nghệ Tông trọng dụng Hồ Quý Ly là một ngoại thích, lập tức nhà Trần cũng
gặp "họa ngoại thích" và mất về tay ngoại thích.
[sửa] Nhận định
[sửa] Về chiến thắng Mông - Nguyên
Theo đánh giá của các sử gia, việc nhà Trần lên thay nhà Lý vào đầu thế kỷ 13 là cần
thiết và kịp thời cho sự phục hưng nước Đại Việt bị suy yếu nghiêm trọng cuối thời nhà
Lý. Nếu không có sự xuất hiện của nhà Trần, nước Đại Việt sẽ khó tồn tại trong cảnh cát
cứ (Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng) bên trong và họa Mông - Nguyên bên ngoài như các
nước Đại Lý, Nam Tống láng giềng. Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của
nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ của những người lãnh đạo. Dù trong hoàng tộc
nhà Trần có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất,
nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng
[8]
.
Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng
lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân
quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - và bảo vệ quyền
lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm dòng họ cai trị
nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ
hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những
tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư,
Trần Quốc Toản
[9]
Mông - Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới. Những nơi người Mông bại trận
lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Indonesia đều có biển cả ngăn cách và quân
Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân nên mới bị thua trận. Thế nhưng nước
Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Trung Hoa, chung đường biên giới cả ngàn dặm
với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm được. Một đế quốc đã nằm trùm

Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết chiêu mộ nhân tài; lực lượng
quan lại đều kém tài. Nếu thế hệ trước thắng Mông-Nguyên khổng lồ một cách oai hùng
bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn một Chiêm Thành nhỏ bé, từng núp bóng mình
trong chiến tranh chống Mông-Nguyên xưa kia, một cách thảm hại bấy nhiêu. Tới lúc bị
Chiêm Thành xâm lấn, không hề có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra chống
được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ
Lê). Nếu trong tông thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như giai đoạn đầu thì dù
Quý Ly có manh tâm cũng không thể tính chuyện cướp ngôi. Nhà Trần trượt dốc từ Trần
Dụ Tông, sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ Tông đã không gượng dậy
được nữa. Đó chính là thời cơ cho Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi
nhà Trần
[11]
.
Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam.
Trang sử về nhà Trần trong sử sách nằm trong số những trang sáng nhất và để lại nhiều
bài học cho đời sau.
[sửa] Các vua nhà Trần
Nhà
Trn
Niên đại các vị vua Nhà Trần
class="bi x26 y159 wd h1c"
Miếu
hiệu
Niên hiệu Tên
Sinh-
Mất
Trị vì Thụy hiệu Lăng
Thái Tông
Kiến Trung
(1226-1232)

(1278-1285)
Trùng Hưng
(1285-1293)
Trần Khâm
1258-
1308
1278-
1293
Duệ Hiếu Hoàng
Đế
Đức Lăng
Anh Tông Hưng Long
Trần
Thuyên
1276-
1320
1293-
1314
Nhân Hiếu Hoàng
Đế
Thái Lăng
Minh
Tông
Đại Khánh
(1314-1323)
Khai Thái
(1324-1329)
Trần Mạnh
1300-
1357

Đại Định
Dương
Nhật Lễ
?-1370
1369-
1370
tiếm ngôi bị giết
Nghệ
Tông
Thiệu Khánh Trần Phủ
1321-
1394
1370-
1372
Anh Triết Hoàng
Đế
Nguyên
Lăng
Duệ Tông Long Khánh Trần Kính
1337-
1377
1373-
1377
? Hy Lăng
Phế Đế Xương Phù Trần Hiện
1361-
1388
1377-
1388
phế làm Linh Đức

Tông
1258 - 12783
Trần Nhân
Tông
1278 - 12934
Trần Anh Tông
1293 - 13145
Trần Minh
Tông
1314 - 1329
8
Trần Nghệ
Tông
1370 - 1372

6
Trần Hiến
Tông

• Chiêm Thành
[sửa] Tham khảo
• Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, NXB Hải Phòng.
• Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm (1975), Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược
Nguyên Mông thế kỷ XIII, NXB Khoa học xã hội.
• Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên (2008), Đại cương
lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục.
• Mai Hồng (1989), Các trạng nguyên nước ta, NXB Giáo dục.
[sửa] Chú thích
1. ^ “Gia phả họ Trần”.
2. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 182
3. ^ Mai Hồng, sách đã dẫn, tr 20
4. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 268
5. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 469
6. ^ Quý Ly nói với thượng hoàng "nên lập con mình chứ không nên lập cháu". Do đó Nghệ
Tông kiếm tội phế truất cháu là Phế Đế (con Duệ Tông) mà lập con mình là Thuận Tông
7. ^ Trong bài viết Công chúa đời Trần - Mỹ nhân kế - Loạn luân (1993)
8. ^ Trần Xuân sinh, sách đã dẫn, tr 36
9. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 251
10. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 398-399
11. ^ Trần Xuân Sinh, sách đã dẫn, tr 399
[sửa] Liên kết ngoài
• Đại Việt sử ký toàn thư - Bản điện tử
• Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Bản điện tử
• Dấu vết 'kinh đô thứ hai' của nhà Trần trên VnExpress ngày 13 tháng 12 năm
2006
[hiện]
x • t • s
Vua nhà Trần
[hiện]

Tự động [F9]
Telex (?)
VNI (?)
VIQR (?)
VIQR*
Tắt [F12]
Bỏ dấu kiểu cũ [F7]
Đúng chính tả [F8]
Công cụ
• Các liên kết đến đây
• Thay đổi liên quan
• Các trang đặc biệt
• Liên kết thường trực
• Chú thích trang này
Ngôn ngữ khác
• Česky
• Deutsch
• English
• Français
• 한국어
• Nederlands
• 日本語
• Svenska
• 中文
• Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 03:38, ngày 25 tháng 10 năm 2010.
• Văn bản được phát hành theo Giấy phép Creative Commons
Ghi công/Chia sẻ tương tự; có thể áp dụng điều khoản bổ sung. Xem Điều khoản
Sử dụng để biết thêm chi tiết.
Wikipedia® là thương hiệu đã đăng ký của Wikimedia Foundation, Inc., một tổ
chức phi lợi nhuận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status