giáo trình kinh tế học của trường cao đẳng kinh tế kế hoạch đà nẵng - Pdf 27

LỜI NÓI ĐẦU
Giáo trình tài chính học được biên soạn những vấn đề lý thuyết và thực
tiễn mới về tài chính của kinh tế thị trường trong nước và quốc tế để người học
và người đọc dễ hình dung những vấn đề tài chính của nền kinh tế Việt Nam
đang trong quá trình phát triển, mở cửa và hội nhập.
Giáo trình tài chính học được biên soạn nhằm cung cấp những vấn đề lý
luận cơ bản về tài chính, hệ thống tài chính, thị trường tài chính và những nội
dung chủ yếu ở các lĩnh vực khác nhau của hoạt động tài chính như: Ngân sách
nhà nước, bảo hiểm, tín dụng, tài chính doanh nghiệp, tài chính quốc tế. Qua đó
giúp cho người học và người đọc có phương pháp tiếp cận dễ dàng về vấn đề lý
thuyết và thực tiễn mới về tài chính của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đang
trong quá trình phát triển, mở cửa và hội nhập. Đồng thời giúp cho người học có
nền tảng kiến thức cơ sở để tiếp cận học các môn học thuộc chuyên ngành kinh
tế.
Do đó, Tập thể tác giả đã tiến hành biên soạn “Giáo trình tài chính học”,
nhằm phù hợp với mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo của Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng là phục vụ chủ yếu cho giảng dạy của giáo
viên và việc học tập của sinh viên trong trường.
Giáo trình tài chính học có 6 chương. Tham gia trực tiếp biên soạn các
chương gồm có:
NCS. Ths. Nguyễn Văn Huỳnh biên soạn chương 3 và chương 4
NCS.Ths. Nguyễn Thị Quỳnh Nhi biên soạn chương 1 và chương 2
TS. Nguyễn Thị Thu Đông biên soạn chương 5 và chương 6
Trong quá trình biên soạn, tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng sưu tầm tài
liệu, tổng hợp và chắt lọc toàn bộ nội dung liên quan đến tài chính trong thời đại
mới. Tuy nhiên vấn đề tài chính là một vấn đề phức tạp, chứa đựng nhiều nội
dung phong phú vì vậy, thiếu sót trong quá trình biên soạn là khó tránh khỏi.
Nhóm tác giả mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của bạn đọc để tiếp tục
hoàn thiện.
1
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!

3
ngang giá chung. Chính yêu cầu đó đã làm xuất hiện tiền tệ. Ban đầu người ta sử
dụng các loại hàng hóa thông thường như vỏ sò, vỏ hến, hay bộ lông thú, sau đó
sử dụng các kim loại như đồng, chì, kẽm, bạc và vàng…làm vật ngang giá, đóng
vai trò là tiền tệ. Nói cách khác, trao đổi hàng hóa gắn liền với sự phát triển của
các hình thái giá trị đã dẫn tới sự xuất hiện của tiền tệ. Tiền tệ ra đời nhanh
chóng thúc đẩy các hoạt động giao lưu kinh tế, đồng thời làm nên cuộc cách
mạng trong phân phối từ phân phối hiện vật sang phân phối giá trị.
Trên cơ sở trao đổi hàng hoá gắn liền với sự phát triển của các hình thái giá
trị, tiền tệ trở thành phương tiện không thể thiếu cho sự tồn tại và phát triển của
nền sản xuất đó. Với chức năng thước đo giá trị của thế giới hàng hoá, tiền tệ
giúp các sản phẩm sản xuất ra được mang đi trao đổi một cách dễ dàng, thông
qua giá cả. Sản phẩm được trao đổi liên tục nên dẫn đến sự vận động của tiền tệ
làm phát sinh thu nhập của người sản xuất hàng hoá, các khoản thu nhập là
nguồn hình thành các quỹ tiền tệ của các chủ thể kinh tế.
Sự phát triển liên tục của quá trình sản xuất hàng hoá đòi hỏi các quỹ tiền tệ
phải được tạo lập, phân phối, sử dụng và đây chính là cơ sở làm nảy sinh phạm
trù tài chính. Tiền đề sản xuất hàng hóa và tiền tệ là tiền đề đầu tiên cho sự ra
đời của tài chính. Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa và sự đa
dạng các hình thái tiền tệ, hoạt động phân phối tài chính diễn ra thường xuyên
hơn, rộng hơn ở các chủ thể trong nền kinh tế, thỏa mãn nhiều lợi ích, nhu cầu
khác nhau của các chủ thể đó đã thúc đẩy tài chính phát triển. Vì vậy, tiền đề
nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ là tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển
phạm trù tài chính của mỗi quốc gia.
2. Tiền đề Nhà nước
Lịch sử phát triển của xã hội còn cho thấy rằng, khi chế độ tư hữu xuất
hiện, xã hội loài người có sự phân chia giai cấp và có sự đấu tranh giai cấp,
chính sản xuất và trao đổi hàng hóa – tiền tệ là nguyên nhân thúc đẩy mạnh mẽ
sự phân chia giai cấp và từ đó phạm trù Nhà nước xuất hiện. Nhà nước ra đời đã
làm nảy sinh quan hệ kinh tế gắn với việc hình thành, phân phối và sử dụng các

trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình.
Nguồn tài chính không chỉ biểu hiện bằng tiền toàn bộ giá trị của cải xã hội mà
5
còn biểu hiện toàn bộ tài sản quốc gia, tổng sản phẩm quốc dân ở dạng vật chất
tiềm năng có khả năng tiền tệ hoá. Nguồn tài chính thường xuyên vận động
trong nền kinh tế quốc dân giúp cho các chủ thể thực hiện quan hệ tài chính và
tạo nên các dòng vật chất và sự vận động này là độc lập, mang tính tất yếu khách
quan.
Khi vận động, các nguồn tài chính đó được hình thành ở các chủ thể kinh tế
và Nhà nước dưới hình thức các quỹ tiền tệ, các khoản thu nhập. Các quỹ tiền tệ,
khoản thu nhập này lại tiếp tục được sử dụng cho những mục đích nhất định của
các chủ thể để đáp ứng nhu cầu của mình. Nói cách khác, việc hình thành và sử
dụng các nguồn tài chính được thực hiện về cơ bản thông qua các quỹ tiền tệ có
những mục đích nhất định.
Bởi vậy, dấu hiệu đặc biệt quan trọng của phạm trù tài chính, khác biệt với
các phạm trù phân phối khác là ở chỗ, các quan hệ tài chính luôn luôn gắn liền
với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định.
Quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với sở hữu và tính
mục đích của các chủ thể trong nền kinh tế, như: Nhà nước, doanh nghiệp, hộ
gia đình, các ngân hàng và các công ty tài chính, tổ chức chính trị, xã hội
Chính các chủ thể đó đã tham gia trực tiếp vào quá trình phân phối các nguồn tài
chính thông qua các hoạt động thu, chi bằng tiền, thông qua đó hình thành các
quỹ tiền tệ gắn liền với chủ sở hữu nhất định và được sử dụng theo mục đích
riêng của chủ sở hữu đó. Trong một xã hội bao gồm các quỹ tiền tệ như sau:
Quỹ tiền tệ của Nhà nước
Quỹ tiền tệ của các doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Đây
là quỹ tiền tệ của khâu trực tiếp sản xuất kinh doanh
Quỹ tiền tệ của các tổ chức tài chính trung gian
Quỹ tiền tệ của hộ gia đình và cá nhân
Quỹ tiền tệ của các tổ chức chính trị, xã hội …

Sự vận động của các quỹ tiền tệ luôn gắn với mục đích cụ thể của nó, các
quỹ lớn được chia thành các quỹ nhỏ hơn hoặc các quỹ nhỏ hơn có thể được
khuếch trương nhờ tập trung các quỹ tiền tệ nhỏ tương ứng. Ví dụ ngân sách
7
Nhà nước được chia thành các quỹ dùng cho phát triển kinh tế, văn hoá, giáo
dục, y tế xã hội, quốc phòng an ninh…; các quỹ tập trung của các tổng công ty
được tạo nên từ các quỹ tương ứng của các xí nghiệp trực thuộc hạch toán kinh
tế độc lập.
Tóm lại, biểu hiện bên ngoài của nguồn tài chính là gắn liền với việc tạo lập
và sử dụng những quỹ tiện tệ nhất định. Sự tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
nêu trên cho mục đích tích lũy và tiêu dùng phản ánh kết quả của quá trình phân
phối. Quá trình đó phát sinh hàng loạt các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị
dựa vào sự vận động độc lập tương đối của đồng tiền trong phân phối các nguồn
tài chính.
2 Nội dung kinh tế - xã hội của tài chính
Qua việc phân tích hình thức biểu hiện bên ngoài của tài chính ta thấy, các
nguồn tài chính vận động gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
không phải diễn ra một cách ngẫu nhiên mà luôn chứa đựng những mối quan hệ
kinh tế - xã hội nhất định. Nguồn tài chính trong xã hội luôn vận động một cách
liên tục trong mối quan hệ đan xen, đa dạng giữa các chủ thể trong xã hội dẫn
tới việc làm thay đổi lợi ích kinh tế của các chủ thể đó. Các hiện tượng - biểu
hiện bên ngoài của tài chính là sự thể hiện và phản ánh các quan hệ kinh tế giữa
các chủ thể trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, quá trình phân phối
của cải dưới hình thức giá trị. Các quan hệ kinh tế như thế được gọi là các quan
hệ tài chính. Các quan hệ tài chính biểu hiện mặt bản chất bên trong của tài
chính ẩn dấu sau các biểu hiện bên ngoài của tài chính.
Như vậy, quan hệ tài chính đó là các quan hệ phân phối dưới hình thức giá
trị nảy sinh thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ liên quan đến nhiều
chủ thể khác nhau trong đời sống kinh tế xã hội. Các mối quan hệ đó bao gồm:
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà Nước với các cơ quan, đơn vị kinh tế, dân cư.

xảy ra vì giá cả xuất hiện trong quan hệ trao đổi, mua bán theo nguyên tắc ngang
giá. Giá trị mà người mua và người bán có được đều bảo tồn chỉ thay đổi hình
thái biểu hiện từ tiền biến thành hàng và ngược lại. Điều này có ý nghĩa trong
quan hệ trao đổi mua bán ngang giá của phạm trù giá cả không diễn ra hoạt động
phân phối dưới hình thức giá trị.
9
Trong thực tế nếu việc trao đổi mua bán diễn ra không theo nguyên tắc
ngang giá thì cũng diễn ra sự chuyển dịch giá trị từ chủ thể này sang chủ thể
khác, biểu hiện ở phần chênh lệch giá này chuyển dịch từ người bán sang người
mua, người mua được hưởng lợi và ngược lại.
Trong phân phối dưới hình thức giá trị của phạm trù giá cả đều được thực
hiện kèm theo quá trình trao đổi mua bán với sự vận động ngược chiều của các
hình thái giá trị khác đó là giá trị và giá trị sử dụng, không giống như sự vận
động của tài chính không kèm theo sự vận động ngược chiều nào của giá trị.
Thứ ba: Phân biệt phạm trù tài chính với phạm trù tiền lương.
Tiền lương cũng là phạm trù phân phối dưới hình thức giá trị. Tiền lương
phân phối theo nguyên tắc phân phối theo lao động được tính tương đương với
giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động.
Tiền lương được thực hiện thông qua phân phối của tài chính để hình thành
nên quỹ tiền lương của các tổ chức kinh tế xã hội, các cơ quan nhà nước trước
khi trả cho người lao động. Tiền lương được biểu hiện bằng một lượng giá trị
được chuyển dịch từ quỹ tiền lương của các chủ thể chi trả khác nhau đến các
quỹ tiền tệ cho người được hưởng. Đây chính là biểu hiện của hoạt động phân
phối tài chính. Giữa tiền lương và tài chính có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, tài
chính là phương tiện để thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động của tiền
lương trong lĩnh vực bù đắp sức lao động. Phạm vi tác động của tiền lương hẹp
hơn so với tài chính.
III. Chức năng của tài chính
1. Chức năng phân phối của tài chính
1.1. Khái niệm

thức tiền, vàng và ngoại tệ. Dưới hình thái hiện vật, nguồn tài chính có thể tồn
tại dưới dạng bất động sản, tài nguyên, đất đai.
+ Nguồn tài chính vô hình là nguồn tài chính không có hình thái vật chất cụ
thể như: phần mềm, dữ liệu, thông tin, hình ảnh, phát minh, sáng chế, bí quyết
kỹ thuật, thương hiệu Những sản phẩm kể trên, bản thân chúng có giá trị và
trong điều kiện kinh tế thị trường chúng có thể chuyển thành tiền thông qua mua
11
bán. Do đó, chúng được coi là một bộ phận cấu thành của tổng thể các nguồn tài
chính trong xã hội.
1.3. Chủ thể phân phối:
Chủ thể phân phối của tài chính là những người có thể tham gia trực tiếp
vào quá trình phân phối các nguồn lực tài chính trong xã hội.
Các chủ thể phân phối phải thoả mãn một trong các tiêu thức sau:
+ Có quyền sở hữu các nguồn tài chính: Chủ thể ở đây là những người chủ
“đích thực” của vốn tiền tệ. Vì là người có quyền sở hữu nguồn tài chính nên họ
có quyền chủ động trong quá trình sử dụng nguồn tài chính để đáp ứng yêu cầu
hoạt động của mình.
+ Có quyền sử dụng nguồn tài chính: Chủ thể ở đây là những người không
có quyền sở hữu vốn tiền tệ nhưng họ đươc trao quyền sử dụng vốn tiền tệ. Ví
dụ họ là người đi vay vốn tín dụng để hoạt động. Quyền sở hữu nguồn tài chính
thuộc về người cho vay nhưng quyền sử dụng thuộc về người đi vay nên người
đi vay có thể trực tiếp tham gia vào quá trình phân phối.
+ Có quyền lực chính trị: Đây là tiêu thức biểu hiện chủ thể phân phối là
Nhà nước. Vì có quyền lực chính trị, Nhà nước có thể huy động, phân phối và sử
dụng một phần các nguồn lực tài chính từ các chủ thể khác nhau trong xã hội để
đáp ứng yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
+ Có sự ràng buộc của các quan hệ xã hội: Chính sự ràng buộc các quan hệ
xã hội làm nảy sinh nhu cầu huy động, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài
chính của các chủ thể phân phối. Sự ràng buộc của các quan hệ xã hội là tiền đề
cho sự vận động của các nguồn tài chính từ chủ thể này sang chủ thể khác trong

tệ được tạo lập gắn liền với việc sử dụng một quỹ tiền tệ (Ví dụ như doanh
nghiệp chi trả lương cho người lao động) hay ngược lại việc tạo lập một quỹ tiền
tệ liên quan đến việc sử dụng nhiều quỹ tiền tệ khác (ví dụ, nhiều doanh nghiệp
cùng nộp thuế cho Nhà nước).
- Phân phối tài chính chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, không kèm theo sự
thay đổi hình thái giá trị. Tài chính ra đời, tồn tại và phát triển gắn liền với nền
sản xuất hàng hoá và tiền tệ, phân phối tài chính là hoạt động phân phối các
nguồn lực tài chính trong xã hội, do đó chỉ thực hiện bằng giá trị thông qua chức
13
năng phương tiện thanh toán của tiền tệ. Khác với phân phối trong phạm trù giá
cả, phân phối tài chính làm cho các nguồn lực tài chính vận động một chiều từ
quỹ tiền tệ được sử dụng sang quỹ tiền tệ được tạo lập mà không kèm theo sự
thay đổi các hình thái giá trị hay sự vận động ngược chiều của các hình thái giá
trị.
+ Phân phối tài chính diễn ra trong một chu trình khép kín bao gồm quá
trình phân phối lần đầu và phân phối lại.
Phân phối lần đầu là quá trình phân phối chỉ diễn ra ở lĩnh vực sản xuất,
cho những người có tham gia vào quá trình sản xuất. Chủ thể phân phối lần đầu
bao gồm doanh nghiệp (người sản xuất), người lao động, Nhà nước (đại diện
cho tài sản của Nhà nước mà doanh nghiệp đang sử dụng), các trung gian tài
chính như Ngân hàng, bảo hiểm, Tổ chức tín dụng (với tư cách là người sở hữu
vốn cho doanh nghiệp vay). Thông qua quá trình phân phối lần đầu đã hình
thành nên phần thu nhập cơ bản của chủ thể phân phối. Vì phân phối lần đầu
diễn ra ở lĩnh vực sản xuất nên toàn bộ giá trị sản phẩm xã hội trong khu vực sản
xuất được phân chia thành các quỹ tiền tệ như sau:
+ Một phần bù đắp những chi phí vật chất đã tiêu hao trong quá trình sản
xuất hay thực hiện các dịch vụ. Phần này bù đắp chi phí khấu hao tài sản cố định
và chi phí mua nguyên, nhiên, vật liệu đã bỏ ra trong quá trình sản xuất, tiêu thụ
hàng hoá và kinh doanh dịch vụ.
+ Một phần hình thành quỹ tiền lương để trả lương cho người lao động.

Là toàn bộ quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ, quá trình vận động
của các nguồn tài chính. Chính sự vận động của các nguồn tài chính trong quá
trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ thông qua việc thực hiện chức năng phân
phối làm nảy sinh nhu cầu và khả năng kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động
này.
2.3. Chủ thể giám đốc
Chủ thể giám đốc cũng là chủ thể của phân phối. Trong quá trình tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ của mình các chủ sở hữu thực hiện việc kiểm tra, giám
sát bằng đồng tiền một cách thường xuyên, liên tục ở mọi nơi, mọi lúc diễn ra
15
hoạt động phân phối của tài chính. Chủ thể giám đốc tài chính có thể là Nhà
nước, doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay cá nhân, hộ gia
đình.
2.4. Kết quả của giám đốc tài chính
Trước hết, giám đốc tài chính đảm bảo tính hợp lý của quá trình phân phối
tài chính, đảm bảo sự đúng đắn của việc tạo lập và tính hiệu quả của việc sử
dụng các quỹ tiền tệ. Hoạt động phân phối tài chính gắn liền với hoạt động của
con người nên nó mang tính chủ quan trong một chừng mực nhất định. Nhờ
chức năng giám đốc, quá trình phân phối được thực hiện phù hợp với các quy
luật kinh tế khách quan do đó vừa đảm bảo tính hợp lý của quá trình phân phối,
vừa nâng cao hiệu quả sử dụng chúng theo những mục đích đã định. Thông qua
giám đốc tài chính, phải phát hiện được những mặt được và chưa được của quá
trình phân phối để điều chỉnh kịp thời việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
theo mục đích đã định.
Ngoài ra, giám đốc tài chính còn góp phần thúc đẩy việc chấp hành các
chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước.
2.5. Đặc điểm của chức năng giám đốc
- Chức năng giám đốc của tài chính không đồng nhất với mọi khả năng
giám đốc bằng đồng tiền nói chung trong xã hội. Ví dụ, giá cả là một phạm trù
giá trị có khả năng giám đốc bằng đồng tiền nhưng hoàn toàn khác biệt với

niệm hệ thống tài chính trên góc độ chủ thể tài chính và ở đó có các quỹ tiền tệ,
tạo thành “tụ điểm” từ các nguồn tài chính, thì hệ thống tài chính khái quát như
sau:
Hệ thống tài chính là tổng thể các bộ phận khác nhau trong một cấu trúc
tài chính, mà ở đó các quan hệ tài chính hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau
nhưng có mối liên hệ tác động lẫn nhau theo những quy luật nhất định.
Ở mỗi lĩnh vực hoạt động khác nhau có những quỹ tiền tệ đặc thù được
hình thành và được sử dụng cho những mục đích khác nhau. Các hoạt động tài
chính ở đó cũng có đặc điểm và vai trò riêng, nghĩa là ở đó hình thành các bộ
17
phận tài chính độc lập. Tính đa dạng, độc lập đó bắt nguồn từ tính đa dạng,
phong phú của các hoạt động kinh tế xã hội mà hoạt động tài chính là một bộ
phận trong đó. Tuy có sự đa dạng, khác nhau nhưng các hoạt động tài chính
trong các lĩnh vực, các bộ phận tài chính lại có mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc,
phụ thuộc lẫn nhau trong sự vận động không ngừng của các nguồn tài chính.
Điều đó, kết hợp với nhau và cấu thành một hệ thống tài chính.
Hệ thống tài chính của một quốc gia là một thể thống nhất do nhiều bộ phận
tài chính hợp thành. Bộ phận tài chính là nơi hội tụ các nguồn tài chính, nơi diễn
ra việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ gắn liền với việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của chủ thể trong lĩnh vực hoạt động. Việc xác định có bao nhiêu bộ
phận tài chính của hệ thống đó là tuỳ thuộc vào việc chỉ ra một cách đúng đắn
các căn cứ lư thuyết để xác định thế nào là một bộ phận tài chính. Các căn cứ
xác định các bộ phận tài chính:
+ Bộ phận tài chính phải là một điểm hội tụ của các nguồn tài chính là nơi
vừa thu hút các nguồn tài chính (tạo lập quỹ tiền tệ từ các quỹ tiền tệ khác) đồng
thời cũng là nơi cung ứng nguồn tài chính (sử dụng quỹ tiền tệ để hình thành các
quỹ tiền tệ khác)
+ Một bộ phận tài chính nếu ở đó hoạt động tài chính, sự vận động của các
nguồn tài chính, việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ luôn gắn liền với một
chủ thể phân phối cụ thể, xác định.

tài chính
THỊ
TRƯỜNG
TÀI CHÍNH
Tài chính
Nhà nước
Tài chính
Doanh nghiệp
Tài chính hộ gia
đình và
tổ chức xã hội
Tài chính Nhà nước là một khâu có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống
tài chính.
Tài chính Nhà nước đảm bảo cung ứng nguồn tài chính đáp ứng yêu cầu tồn
tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước, đảm bảo quốc phòng an ninh, thực hiện
các chức năng quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước, thực hiện đường lối đối
ngoại của Nhà nước.
Tài chính Nhà nước được phân theo các tiêu thức sau:
- Căn cứ vào tính chất đặc điểm của hoạt động tài chính Nhà nước :
+ Tài chính chung của Nhà nước
+ Tài chính của các cơ quan hành chính Nhà nước
+ Tài chính của các đơn vị sự nghiệp Nhà nước
+ Tài chính của các doanh nghiệp Nhà nước
- Căn cứ nội dung quản lý hay mục và cơ chế hoạt động của các quỹ thuộc
tài chính Nhà nước, tài chính Nhà nước bao gồm ngân sách Nhà nước, tín dụng
Nhà nước, các quỹ ngoài ngân sách Nhà nước gồm quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ
hưu trí, quỹ quốc gia giải quyết việc làm, quỹ chuyên dùng khác.
Trong tài chính Nhà nước thì quỹ ngân sách Nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Quỹ ngân sách Nhà nước được tạo lập từ các khoản huy động mang tính chất bắt
buộc hoặc mang tính tự nguyện, có thể tạo lập một cách trực tiếp thông qua huy

trường tài chính. Các trung gian tài chính phổ biến là các ngân hàng, các công ty
tài chính, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, tổ chức tín dụng khác Hoạt
động của các trung gian tài chính chủ yếu cung cấp các sản phẩm tài chính bao
gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng, dịch vụ thanh toán Cùng
với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các trung gian tài chính ngày càng
được hoàn thiện và đa dạng.
Đặc trưng chung của bộ phận tài chính trung gian là cầu nối giữa những
người có khả năng cung ứng và những người có nhu cầu sử dụng tạm thời các
nguồn tài chính. Bộ phận tài chính trung gian có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ
với các khâu khác trong hệ thống tài chính. Trong nền kinh tế hiện đại, các trung
gian tài chính không chỉ thực hiện chức năng lưu chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi
21
thiếu mà còn cung cấp nhiều phương tiện khác nhằm giúp phân bổ hiệu quả các
nguồn lực tài chính của nền kinh tế.
2.4. Tài chính hộ gia đình và tài chính các tổ chức chính trị- xã hội
- Tài chính hộ gia đình: Thực chất đây là ngân quỹ của hộ gia đình. Quỹ
tiền tệ của hộ gia đình được hình thành từ các khoản thu nhập thường xuyên
hoặc không thường xuyên của các thành viên trong gia đình và được sử dụng
chủ yếu vào mục đích tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình.
Đối với các hộ gia đình có nguồn thu nhập lớn, ngoài chi tiêu thường xuyên
có thể có một phần tích luỹ được sử dụng để tham gia vào việc tạo lập nên các
khâu tài chính khác một cách trực tiếp hay gián tiếp thông qua thị trường tài
chính.
- Tài chính các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm tài chính của các tổ chức
công đoàn, đoàn thanh niên, hội phụ nữ Nguồn hình thành nên quỹ này là từ
sự đóng góp của các hội viên, quyên góp, ủng hộ của các tổ chức quốc gia và
quốc tế cũng như sự trợ cấp của ngân sách nhà nước.
Các quỹ tiền tệ này được sử dụng chủ yếu là đảm bảo nhu cầu của các tổ
chức kinh tế - xã hội, trong trường hợp các quỹ này chưa sử dụng, số vốn tiền tệ
tạm thời nhàn rỗi có thể tham gia trên thị trường tài chính để cung ứng vốn cho

3. Trình bày các chức năng của tài chính?
4. Phân biệt nguồn tài chính và quỹ tiền tệ
5. Phân tích mối quan hệ cơ bản giữa các khâu trong hệ thống tài chính?
23
Chương II
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Ngân sách Nhà nước
1. Khái niệm ngân sách Nhà nước
Nhìn lại lịch sử ra đời và phát triển của tài chính có thể thấy, khi Nhà nước
xuất hiện thì đồng thời xuất hiện các khoản chi tiêu về quản lý hành chính, tư
pháp, an ninh quốc phòng nhằm duy trì quyền lực chính trị của Nhà nước và
những khoản chi tiêu này được tài trợ từ các nguồn tài chính đóng góp của xã
hội như thuế, công trái … từ đây phạm trù tài chính Nhà nước bắt đầu xuất hiện
như một khái niệm dùng để phản ánh những hoạt động tài chính gắn liền với chủ
thể là Nhà nước. Tài chính Nhà nước được xem là một hệ thống bao gồm nhiều
bộ phận hợp thành. Nếu căn cứ vào chủ thể quản lý hay tính chất, đặc điểm hoạt
động của tài chính Nhà nước thì tài chính Nhà nước bao gồm ngân sách Nhà
nước, tín dụng Nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách Nhà nước. Trong đó, Ngân
sách Nhà nước là khâu quan trọng nhất, giữ vị trí chủ đạo trong tài chính Nhà
nước. Thu ngân sách Nhà nước được huy động từ mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội
dưới nhiều hình thức và phương pháp khác nhau trong đó, thuế là h́nh thức thu
phổ biến và chủ yếu. Chi của ngân sách Nhà nước nhằm duy trì sự tồn tại của bộ
máy Nhà nước và phục vụ thực hiện các chức năng của Nhà nước.
Theo luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam (Luật số 01/2002/QH11 do
Quốc hội khóa 11, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002) thì ngân sách Nhà
nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện
các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Theo khái niệm trên thì ngân sách Nhà nước là một bảng kế hoạch tài
chính, gắn liền với quyền lực của Nhà nước, là công cụ vật chất của Nhà nước

- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với dân cư.
- Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các tổ chức tài chính quốc tế, chính
phủ nước khác…dưới các hình thức như vay nợ, viện trợ….
Đặc trưng cơ bản của các quan hệ trong tạo lập và sử dụng ngân sách Nhà
nước là mang tính pháp lý cao gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status