Lịch sử phát triển ngành hải quan việt nam - Pdf 27

Lịch sử phát triển ngành Hải quan Việt Nam
Năm 1945 Cách mạng tháng 8 thành công, Hồ Chủ tich đã đọc bản Tuyên ngôn
độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà. Tuy nhiên, sau đó Việt Nam
vẫn phải tiếp tục trải qua 30 năm chiến tranh ác liệt và 27 năm thử thách trong thời
kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh.
Với cái tên đầu tiên là “Sở Thuế quan và thuế gián thu” được thành lập với mục
đích đảm bảo việc kiểm soát hàng hoá XNK và duy trì nguồn thu ngân sách Hải
quan Việt Nam không ngừng chăm lo xây dựng, hoàn thiện và nâng cao cơ sở pháp
lý - quản lý Nhà nước để ngày càng phù hợp hơn với thực tiễn của nước Việt Nam.
Từ chỗ Hải quan Việt Nam còn phải tạm thời sử dụng những quy định nghiệp vụ
về thuế quan của chính quyền thực dân đến nay đã xây dựng và ban hành được
“Điều lệ Hải quan”, Pháp lệnh Hải quan và tiếp đó là Luật Hải quan Việt Nam có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2002.
Với những mục tiêu nhằm tạo thuận lợi cho phát triển XNK, thu hút đầu tư nước
ngoài, phát triển du lịch và giao thương quốc tế, đảm bảo quản lý, nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác Hải quan Việt Nam đã luôn luôn thực hiện theo khẩu hiệu
mà mình đã đặt ra:
“Thuận lợi, Tận tuỵ, Chính xác”
Lịch sử Hải Quan qua từng giai đoạn :
Ngày 10 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa uỷ quyền
của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh số 27 -
SL thành lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" khai sinh Hải quan Việt Nam.
Quá trình trưởng thành và phát triển theo các giai đoạn:
Giai đoạn 1945 - 1954:
Thành lập Hải quan Việt Nam thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước Việt nam dân chủ
cộng hoà vừa mới khai sinh, tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp.
Ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp được uỷ quyền của Chủ
tịch Chính phủ lâm thời Việt nam Dân chủ Cộng hoà ký Sắc lệnh số 27 - SL thành
lập "Sở thuế quan và thuế gián thu" khai sinh ngành hải quan Việt Nam. Với:
Nhiệm vụ: Thu các quan thuế nhập cảnh và xuất cảnh, thu thuế gián thu. Sau đó,
Ngành được giao thêm nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện và có quyền định

Giai đoạn này Hải quan Việt nam được xác định là công cụ bảo đảm thực hiện
đúng đắn chế độ Nhà nước độc quyền ngoại thương, ngoại hối, thi hành chính sách
thuế quan (thu thuế hàng hoá phi mậu dịch) tiếp nhận hàng hoá viện trợ và chống
buôn lậu qua biên giới.
Năm 1973 Hiệp định Pari được ký kết chấm dứt chiến tranh phá hoại của Mỹ ở
miền Bắc. Hải quan Việt Nam huấn luyện, chuẩn bị các điều kiện triển khai công
tác khi miền Nam được giải phóng.
Thời kỳ này toàn ngành Hải quan được tặng thưởng 2 Huân chương Lao động
Hạng hai và Hạng Ba, 11 đơn vị và cá nhân được tặng Thởng Huân chương Lao
động và Huân chương chiến công các hạng.
Giai đoạn 1975 - 1986:
Hải quan thống nhất lực lượng và triển khai hoạt động trên phạm vi cả nước.
Sau khi thống nhất đất nước Hải quan triển khai hoạt động trên địa bàn cả nước từ
tuyến biên giới phía Bắc đến tuyến biên giới phía Tây Nam, các cảng biển, Sân bay
quốc tế, Bưu cục ngoại dịch, Trạm chở hàng. Do yêu cầu quản lý tập trung thống
nhất, Chính phủ đã có Quyết định số 80/CT ngày 5/3/1979 quyết định chuyển tổ
chức Hải quan địa phương thuộc UBND tỉnh, thành phố về thuộc Cục Hải quan Bộ
Ngoại thương.
Thời kỳ này tính chất các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua
biên giới có biểu hiện phức tạp và phổ biến. Ngày 30/8/1984 Hội đồng Nhà nước
phê chuẩn Nghị quyết số 547/NQ/HĐNN7 thành lập Tổng cục Hải quan trực thuộc
Hội đồng Bộ trưởng; và ngay sau đó Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị quyết số
139/HĐBT ngày 20/10/1984 ban hành Nghị định quy định nhiệm vụ, quyền hạn và
tổ chức bộ máy của Tổng cục Hải quan. Hải quan Việt Nam được xác định là
"Công cụ chuyên chính nửa vũ trang của Đảng và Nhà nước có chức năng kiểm tra
và quản lý hàng hoá, hành lý, ngoại hối và các công cụ vận tải xuất nhập qua biên
giới nước CHXHCN Việt nam, thi hành chính sách thuế xuất nhập khẩu, ngăn
ngừa chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua
biên giới, nhằm bảo đảm thực hiện đúng đắn chính sách của nhà nước độc quyền
về ngoại thương, ngoại hối góp phần bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị,

soi nghiệp vụ, máy và chó nghiệp vụ phát hiện ma tuý, tàu cao tốc chống buôn lậu
trên biển.
Công tác đào tạo bồi dưỡng công chức được lưu ý hơn: Trường nghiệp vụ Hải
quan thành lập năm 1986, Trường nghiệp vụ Hải quan 1 ( Hà Nội) thành lập năm
1988; sau hợp nhất 2 trưởng thành Trường Hải quan Việt Nam và Năm 1996 Thủ
tướng Chính phủ ký Quyết định thành lập Trường Cao đẳng Hải quan. Từ năm
1986 đến năm 1999 đã bồi dưỡng nghiệp vụ cho 4.626 cán bộ, gửi đào tạo đại học
tại chức 1.750 cán bộ.
Hải quan Việt Nam đã tham gia và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức
Hải quan thế giới (WCO) từ ngày 01/07/1993 và từ đó đã mở rộng quan hệ với tổ
chức Hải quan thế giới và Hải quan khối ASEAN.
Ghi nhận bước trưởng thành của Hải quan Việt Nam, Hội đồng Nhà nước đã tặng
thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì cho Ngành, Huân chương các hạng cho
một số Hải quan cấp tỉnh Hải quan Việt nam nhân dịp 45 năm kỷ niệm ngày thành
lập ngành Hải quan.
Từ 1990 đến 2000 toàn ngành Hải quan tích cực triển khai thực hiện cải cách thủ
tục hành chính, tập trung đột phá vào khâu cải cách thủ tục Hải quan tại cửa khẩu,
thực hiện tốt các nội dung: Sắp xếp lại và thành lập thêm các địa điểm thông quan,
công khai hoá các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thủ tục Hải quan,
phân luồng hàng hoá "Xanh, Vàng, Đỏ", thiết lập đường dây điện thoại nóng, sửa
đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản, quy chế, quy trình thủ tục hải quan nhằm
thực hiện các nội dung của đề án cải cách.
Trong 2 năm 1999 - 2000 Hải quan Việt Nam đã ký kết và thực hiện 2 Dự án với
nước ngoài: Dự án VIE - 97/059 do UNDP tài trợ về "tăng cường năng lực cho Hải
quan Việt Nam thực hiện công tác quản lý XNK và hội nhập quốc tế" và Dự án
nghiên cứu khả thi do cơ quan Phát triển và Thương mại Hoa Kỳ ( TDA) và Công
ty UNISYS tài trợ về công nghệ thông tin tiến tới áp dụng công nghệ trao đổi dữ
liệu điện tử EDI".
Từ năm 1993 đến 2001 toàn ngành tập trung xây dựng và hoàn thiện Dự thảo Luật
Hải quan, qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đến tháng 5/2001 Dự thảo Luật Hải quan

Chính phủ Tổng Cục Hải quan trực thuộc Bộ Tài chính.

Phê duyệt phương án đơn giản hóa 38 thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải
quan, thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Tài chính (Phương án đơn giản hóa
kèm theo).
1. Thủ tục Chuyển cửa khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu gửi qua dịch vụ
chuyển phát nhanh đường bộ
- Nội dung đơn giản hóa: Thực hiện tiếp nhận bản khai hàng hóa điện tử và
thực hiện thủ tục chuyển cửa khẩu thông qua hệ thống dữ liệu của cơ quan Hải
quan đối với các trường hợp đáp ứng được kết nối dữ liệu hải quan (khuyến khích
thực hiện dịch vụ đại lý hải quan).
- Lý do: Hiện đại hóa giải quyết thủ tục hành chính từ phương thức thủ công
đối với hàng hóa gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường bộ chuyển cửa khẩu
tốn kém thời gian trong việc khai bản khai hàng hóa và tiếp nhận, bảo quản hồ sơ
chuyển cửa khẩu của doanh nghiệp.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 7, 8 (Chương II) Thông tư số
36/2011/TT-BTC.
2. Thủ tục Chuyển đổi cửa khẩu đối với hàng hóa xuất khẩu gửi qua dịch vụ
chuyển phát nhanh đường bộ
- Nội dung đơn giản hóa: Thực hiện tiếp nhận bản khai hàng hoá điện tử và
thực hiện thủ tục chuyển cửa khẩu thông qua hệ thống dữ liệu của cơ quan hải
quan đối với các trường hợp đáp ứng được kết nối dữ liệu hải quan qua đó khuyến
khích thực hiện dịch đại lý hải quan, giảm thiểu việc tiếp xức trực tiếp giữa cơ
quan Hải quan với doanh nghiệp.
- Lý do: Theo Thông tư 36/2011/TT-BTC, thủ tục hải quan đối với hàng hoá
xuất khẩu gửi qua dịch vụ chuyển phát nhanh đường bộ chuyển cửa khẩu, nhập
khẩu, xuất khẩu được thực hiện theo phương thức thủ công rất mất thời gian trong
việc khai bản khai hàng hoá và tiếp nhận, bảo quản hồ sơ chuyển khẩu trong thực
hiện thủ tục chuyển cửa khẩu của doanh nghiệp.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 11 (Chương V) Thông tư 36/2011/TT-

quan bằng phương thức thủ công).
- Lý do: Đảm bảo phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 29 của Luật Hải
quan 2014.
- Kiến nghị thực thi:
+ Sửa đổi Điều 14 Thông tư số 128/2013/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 10 Thông tư số 196/2012/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 11 Thông tư số 22/2014/TT-BTC.
6. Thủ tục thay tờ khai hải quan (thủ công – điện tử)
- Nội dung đơn giản hóa: Bãi bỏ thủ tục này.
- Lý do: Về bản chất thủ tục này là một khâu trong thủ tục hủy tờ khai hải
quan. Nội dung thay tờ khai hải quan được quy định lồng vào thủ tục hủy tờ khai
hải quan tại Thông tư quy định thủ tục hải quan; kiểm tra giám sát hải quan; thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi, bổ sung Điều 15 Thông tư số 128/2013/TT-
BTC.
7. Thủ tục Thanh khoản tờ khai nhập nguyên liệu sản xuất, xuất khẩu (thủ
công – điện tử)
- Nội dung đơn giản hóa: Bãi bỏ thủ tục này.
- Lý do: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 60 Luật Hải quan thì tổ chức, cá
nhân gia công, sản xuất hàng xuất khẩu có trách nhiệm báo cáo quyết toán việc
quản lý, sử dụng nguyên liệu, vật tư nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu (không thực
hiện thanh khoản). Vì vậy, thay việc thanh khoản bằng các biện pháp quản lý, kiểm
tra báo cáo quyết toán và kiểm tra sau thông quan.
- Kiến nghị thực thi:
+ Sửa đổi Điều 39 Thông tư số 128/2013/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 36 Thông tư số 196/2012/TT-BTC;
+ Sửa đổi Khoản 5 Điều 23 Thông tư số 22/2014/TT-BTC.
8. Thủ tục Hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập – tái xuất
- Nội dung đơn giản hóa:
+ Về hồ sơ hải quan tạm nhập: Bổ sung quy định cách thức xử lý của cơ

tin này.
- Kiến nghị thực thi:
+ Sửa đổi Điều 31 Thông tư số 128/2013/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 11 Thông tư số 196/2012/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 12 Thông tư số 22/2014/TT-BTC.
10. Thủ tục thông báo, điều chỉnh, kiểm tra định mức đối với hàng hóa gia
công cho thương nhân nước ngoài
- Nội dung đơn giản hóa: Bỏ thủ tục thông báo và điều chỉnh định mức
- Lý do: Đảm bảo phù hợp với Điều 59, 60 Luật Hải quan 2014.
- Kiến nghị thực thi:
+ Sửa đổi Điều 19 Thông tư số 13/2014/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 28 Thông tư số 196/2012/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 43 Thông tư số 128/2013/TT-BTC.
11. Thủ tục nhập khẩu sản phẩm đặt gia công ở nước ngoài;
12. Thủ tục xuất khẩu nguyên liệu đặt gia công ở nước ngoài
- Nội dung đơn giản hóa đối với 02 thủ tục: Bổ sung thực hiện thủ tục hải
quan điện tử VNACCS.
- Lý do: Hiện nay, tại Thông tư số 22/2014/TT-BTC chưa quy định về loại
hình này (chỉ quy định gia công cho thương nhân nước ngoài) để giảm thời gian
thực hiện thủ tục, đồng thời đảm bảo phù hợp với quy định tại Điều 25 Nghị định số
08/2015/NĐ-CP về khai hải quan.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi, bổ sung Điều 30, Điều 32 Thông tư số
13/2014/TT-BTC.
13. Thủ tục đăng ký, kiểm tra định mức nguyên liệu đặt gia công ở nước
ngoài
- Nội dung đơn giản hóa: Bỏ thủ tục đăng ký định mức
- Lý do: Đảm bảo phù hợp với Điều 59, 60 Luật Hải quan 2014.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 31 Thông tư số 13/2014/TT-BTC.
14. Thủ tục thông báo hợp đồng gia công ở nước ngoài;
15. Thủ tục thanh khoản hợp đồng đặt gia công ở nước ngoài

- Lý do: Việc yêu cầu doanh nghiệp các chứng từ này thêm là không cần
thiết vì cơ quan hải quan có thể kiểm tra hệ thống, hồ sơ lưu tại cơ quan hải quan
để biết, kiểm tra, theo dõi.
- Kiến nghị thực thi:
+ Sửa đổi Điều 55 Thông tư 128/2013/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 48 Thông tư số 196/2012/TT-BTC;
+ Sửa đổi Điều 28 Thông tư số 22/2014/TT-BTC.
19. Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu không nhằm mục đích
thương mại
- Nội dung đơn giản hóa: Thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại của các doanh nghiệp.
- Lý do: Thuận lợi thực hiện thủ tục hải quan đối với các doanh nghiệp có
hoạt động xuất nhập khẩu được thực hiện thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
- Kiến nghị thực thi:
+ Sửa đổi Mục 4 Chương II Nghị định 154/2005/NĐ-CP ;
+ Sửa đổi Điều 71, 72, Điều 73 Thông tư số 128/2013/TT-BTC.
20. Thủ tục hải quan đối với tàu liên vận quốc tế xuất cảnh bằng đường sắt
- Nội dung đơn giản hóa: Bỏ các chứng từ là Giấy giao tiếp toa xe.
- Lý do: Đảm bảo phù hợp Điều 70 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, trong đó
hồ sơ hải quan có giấy giao tiếp hàng hóa (không có giấy giao tiếp toa xe).
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 91 Thông tư số 128/2013/TT-BTC.
21. Thủ tục xuất khẩu nguyên liệu, vật tư đặt gia công ở nước ngoài
- Nội dung đơn giản hóa: Bổ sung thủ tục điện tử.
- Lý do: Giảm thời gian thực hiện thủ tục cho doanh nghiệp.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 30 Thông tư 13/2014/TT-BTC.
22. Thủ tục thông báo, điều chỉnh định mức thực tế sản phẩm xuất khẩu
- Nội dung đơn giản hóa: Bỏ thủ tục thông báo, điều chỉnh định mức.
- Lý do: Bảo đảm phù hợp với Điều 59, 60 Luật Hải quan 2014.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 37 Thông tư số 128/2013/TT-BTC.

25. Thủ tục người khai hải quan trì hoãn xác định trị giá tính thuế (áp dụng
đối với thủ tục hải quan thủ công - điện tử)
- Nội dung đơn giản hóa: Bãi bỏ thủ tục này.
- Lý do: Bảo đảm phù hợp với Luật Hải quan 2014 và Nghị định số
08/2015/NĐ-CP. Bên cạnh đó, thủ tục xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải
quan quy định tại Điều 24 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP đã thay thế thủ tục này.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Điều 25 Thông tư số 205/2010/TT-BTC.
26. Thủ tục sửa đổi, bổ sung hợp đồng gia công, phụ lục hợp đồng gia công
(Hệ thống VNACCS)
- Nội dung đơn giản hóa: Bãi bỏ thủ tục này.
- Lý do: Bảo đảm phù hợp với Luật Hải quan 2014 và Nghị định số
08/2015/NĐ-CP do không quy định thủ tục này. Theo đó, tổ chức, cá nhân chỉ phải
thông báo cơ sở gia công, sản xuất hàng hóa xuất nhập khẩu cho cơ quan hải quan.
- Kiến nghị thực thi: Sửa đổi Khoản 2 Điều 22 Thông tư 22/2014/TT-BTC.
27. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại (Hệ thống
VNACCS)
28. Thủ tục sửa chữa tờ khai, khai bổ sung hồ sơ hải quan (Hệ thống
VNACCS)
29. Thủ tục xuất khẩu sản phẩm gia công cho thương nhân nước ngoài (Hệ
thống VNACCS)
30. Thủ tục thanh khoản hợp đồng gia công cho thương nhân nước ngoài
(Hệ thống VNACCS)
31. Thủ tục nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất hàng xuất khẩu (Hệ
thống VNACCS)
32. Thủ tục đăng ký danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được miễn
thuế (Hệ thống VNACCS)
33. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập - tái xuất (Hệ
thống VNACCS)
34. Thủ tục hải quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ (Hệ thống
VNACCS)

Chí Minh. Các Cục Hải quan Bà Rịa - Vũng Tàu, Đà Nẵng và Quảng Ninh dự kiến
sẽ bắt đầu triển khai từ đầu năm 2015.
Tổng cục Hải quan yêu cầu các Cục Hải quan tỉnh, thành phố chủ động xây dựng
kế hoạch triển khai chi tiết tại đơn vị và báo cáo về Tổng cục.
Các đơn vị cũng cần nghiên cứu tài liệu hướng dẫn sử dụng chức năng mã vạch
trên Hệ thống e-Customs phiên bản 5.0 và tổ chức tập huấn cho cán bộ và doanh
nghiệp XNK tại địa bàn. Tổng cục Hải quan cũng sẵn sàng hỗ trợ tập huấn khi các
đơn vị có đề nghị.
Riêng Cục Hải quan TP. Hồ Chí Minh, Tổng cục Hải quan đề nghị đơn vị phối hợp
với Cục CNTT&TKHQ để triển khai nội dung kết nối dữ liệu với Tổng công ty
Tân Cảng Sài Gòn. Đây là đơn vị đã bước đầu phối hợp với Cục Hải quan TP. Hồ
Chí Minh ứng dụng mã vạch trong công tác quản lý.
Để triển khai áp dụng đề án mã vạch, hồi đầu tháng 12/2014, Cục Giám sát quản lý
- Tổng cục Hải quan đã dự thảo quy trình giám sát hải quan và lấy ý kiến tham gia
của các đơn vị liên quan.
Đề án áp dụng mã vạch trong quy trình giám sát hải quan là một trong những hoạt
động thể hiện cam kết mạnh mẽ của ngành Hải quan trong nỗ lực giảm thời gian
thông quan hàng hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp làm thủ tục XNK.

Nâng cao hiệu quả của tổ chức bộ máy Hải quan
Theo Ban soạn thảo Luật Hải quan sửa đổi, việc tổ chức cấp cục Hải quan gắn với
địa giới hành chính (tỉnh, liên tỉnh) không thực sự bảo đảm tính linh hoạt, chủ động
trong việc sắp xếp, tổ chức lại, thành lập các đơn vị hải quan mới (chia tách hoặc
sáp nhập), không phù hợp với quy mô hoạt động, đặc điểm từng địa bàn, điều kiện
kinh tế - xã hội, yêu cầu quản lý của Hải quan trong những giai đoạn phát triển
khác nhau.
Vì vậy, hệ thống tổ chức của Hải quan được xây dựng theo hướng không phụ thuộc
vào địa giới hành chính mà phụ thuộc vào quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập
khẩu, đặc thù địa bàn.
Theo Luật Hải quan hiện hành, hệ thống tổ chức bộ máy của ngành Hải quan gồm

khi thực hiện thông quan điện tử, việc xử lý tập trung sẽ làm giảm bớt các đơn vị
trung gian.
Hệ thống tổ chức của Hải quan Việt Nam gồm có:
a) Tổng cục Hải quan;
b) Cục Hải quan;
c) Chi cục Hải quan, Đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương.
Bổ sung nội dung điều kiện thành lập cơ quan hải quan các cấp giao Chính phủ
quy định cụ thể.
Theo phân tích của Ban soạn thảo, tổ chức theo phương án này sẽ tạo điều kiện để
bảo đảm hiệu quả trong việc bố trí nguồn nhân lực, vật lực; phù hợp với yêu cầu
quản lý hải quan.
Hệ thống tổ chức của Hải quan được xây dựng theo hướng không phụ thuộc vào
địa giới hành chính mà phụ thuộc vào quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu,
đặc thù địa bàn.
Như vậy có cục Hải quan nằm trong địa giới 1 tỉnh, có cục Hải quan nằm trong địa
giới nhiều tỉnh, cũng có thể có 2 cục Hải quan nằm trong địa giới 1 tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương.
Kể từ khi Hệ thống VNACCS/VCIS được vận hành chính thức từ ngày 01/4/2014
đến nay, ngành Hải quan đã tập trung tối đa nguồn lực, triển khai quyết liệt và
đồng bộ nhiều giải pháp để đảm bảo Hệ thống VNACCS/VCIS vận hành ổn định,
an ninh, an toàn, đồng thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển
khai Hệ thống.
Điều đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, Hệ thống VNACCS/VCIS rất hiện đại và mới, nên mặc dù trước đó,
ngành Hải quan đã có sự chuẩn bị hết sức kỹ lưỡng như tổ chức đào tạo, tập huấn,
vận hành thử, trả lời vướng mắc,… cho doanh nghiệp và cán bộ, công chức hải
quan nhưng vẫn khó tránh khỏi vướng mắc phát sinh do người sử dụng mới làm
quen và chưa sử dụng thành thạo các chức năng của Hệ thống.
Nhận thức sâu sắc vấn đề này, ngay từ khi triển khai chính thức, ngành Hải quan
đã cử những chuyên gia về Hệ thống VNACCS/VCIS của Tổng cục đến 100% các

lập tức được thanh khoản, trừ nợ thuế, thông quan hàng hóa. Việc này đã giúp
giảm thiểu tình trạng cưỡng thuế không chính xác, giảm thời gian thông quan của
doanh nghiệp và được cộng đồng đánh giá cao. Hiện tại, Tổng cục Hải quan đã
triển khai phối hợp thu thanh toán với 19 ngân hàng thương mại và kết nối online
với Kho bạc Nhà nước.
- Đặc biệt, cùng với triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS, Tổng cục Hải quan đã tổ
chức triển khai Hệ thống tiếp nhận manifest điện tử (E-manifest) đối với phương
tiện vận tải đường biển. E-manifest mang lại lợi ích rất to lớn đối với doanh
nghiệp, đó là: Giảm gánh nặng chuẩn bị số lượng hồ sơ giấy, giảm chi phí trong
quá trình làm thủ tục hải quan.
Với nhận thức VNACCS/VCIS là Hệ thống nghiệp vụ cốt lõi, được triển khai diện
rộng và vận hành 24/7 online trên phạm vi toàn quốc, sức ảnh hưởng là rớt lớn, từ
khi triển khai chính thức đến nay, toàn ngành Hải quan đã nỗ lực trong việc thực
hiện giám sát, xử lý kịp thời các sự cố phát sinh, đảm bảo hệ thống luôn vận hành
ổn định, an ninh, an toàn.
Đây là yếu tố rất quan trọng để khắc phục những khó khăn, vướng mắc cho doanh
nghiệp và cán bộ, công chức hải quan. Đến nay, về cơ bản các vướng mắc, phát
sinh đã được xử lý dứt điểm, tạo động lực và niềm tin cho doanh nghiệp cũng như
cán bộ, công chức hải quan, từ đó ủng hộ việc thực hiện thủ tục hải quan trên Hệ
thống VNACCS/VCIS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status