Mô hình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông nghiệp quy
mô hộ gia đình ở Tân Kỳ
Hiện nay, trên địa bàn toàn huyện Tân Kỳ có khoảng 6.600ha lúa, 7.000ha ngô,
4.500ha mía, 1.000ha lạc, 1.000ha sắn và 650ha đậu các loại với lượng phế thải
từ nông nghiệp khoảng 40.000-50.000 tấn/năm và nguồn phế thải của các nhà máy
chế biến khoảng 10.000 tấn/năm. Nguồn phế thải này nếu không được xử lý kịp
thời sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn có
nguồn than bùn chất lượng tốt, với trữ lượng khoảng 4,5-5 triệu tấn, giàu hữu cơ
và axid humic nên rất phù hợp cho sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, hiện đang
được nhiều nhà máy sản xuất phân bón khai thác sử dụng.
I. Đặt vấn đề
Hiện nay, trên địa bàn toàn huyện Tân Kỳ có khoảng 6.600ha lúa, 7.000ha ngô,
4.500ha mía, 1.000ha lạc, 1.000ha sắn và 650ha đậu các loại với lượng phế thải
từ nông nghiệp khoảng 40.000-50.000 tấn/năm và nguồn phế thải của các nhà
máy chế biến khoảng 10.000 tấn/năm. Nguồn phế thải này nếu không được xử lý
kịp thời sẽ là tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, trên địa bàn huyện còn
có nguồn than bùn chất lượng tốt, với trữ lượng khoảng 4,5-5 triệu tấn, giàu hữu
cơ và axid humic nên rất phù hợp cho sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, hiện
đang được nhiều nhà máy sản xuất phân bón khai thác sử dụng.
Việc sử dụng phân bón hữu cơ sinh học sẽ không chỉ cung cấp cho cây trồng
các chất dinh dưỡng cần thiết mà còn trả lại độ màu mỡ, phì nhiêu cho đất, nhất
là khi phần lớn diện tích đất canh tác của huyện hiện nay đang ngày càng giảm
độ phì dẫn đến năng suất các loại cây trồng thấp. Từ thực tế đó, dự án: “Hỗ trợ
nhân rộng mô hình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế phụ phẩm nông
nghiệp quy mô hộ gia đình tại huyện Tân Kỳ, Nghệ An” đã được triển khai thực
hiện nhằm tận dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp, giảm thiểu ô nhiễm môi
trường, góp phần xây dựng nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ, an toàn và bền
vững.
II. Kết quả thực hiện
1. Kết quả điều tra, khảo sát, lựa chọn hộ tham gia xây dựng mô hình
Sau khi đào tạo tập huấn, toàn thể cán bộ và nhân dân tham gia dự án đã được
tiếp nhận đầy đủ quy trình kỹ thuật xử lý các phế thải chất hữu cơ sinh hoạt bằng
men ủ vi sinh vật; Quy trình xử lý các phế thải trong chế biến mía đường bằng
men ủ vi sinh vật; Trao đổi những kinh nghiệm trong xử lý nguyên liệu và thực
hành sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh, đồng thời được thực hành thành thạo về
các công đoạn sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh và có thể tự sản xuất tại gia đình
mình. Bên cạnh đó, các hộ dân còn nắm được quy trình sử dụng phân hữu cơ vi sinh
bón thúc, bón lót trên cây mía, cây cam và một số cây trồng khác nhằm tăng năng
suất và hiệu quả kinh tế.
4. Kết quả xây dựng mô hình sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh
4.1.Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ phế thải hữu cơ sinh hoạt
Phối hợp với cán bộ khuyến nông xã, cơ quan chuyển giao công nghệ, Ban
quản lý dự án đã tiến hành chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra kỹ thuật sản xuất phân
bón của người dân cũng như bổ sung kịp thời những khâu kỹ thuật còn thiếu sót
trong sản xuất phân bón tại các hộ gia đình.
Phân bón hữu cơ vi sinh trong vùng dự án được sản xuất chủ yếu vào các đợt
cuối năm nhằm chuẩn bị phân bón lót và bón thúc cho cây cam, mía ở vụ sắp tới.
Sau hơn 1 năm triển khai thực hiện xây dựng mô hình (11/2009-1/2011), tại 3
xóm Thanh Chương, Nam Đàn, Quỳnh Lưu của xã Tân An đã sản xuất được 150
tấn phân bón hữu cơ vi sinh phục vụ cho các mô hình của dự án và để sử dụng
cho một số đối tượng cây trồng khác của gia đình.
4.2.Sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh từ bã bùn mía
Qua các lần cung cấp chế phẩm sinh học Compost Maker, dự án kết hợp cung
cấp bã bùn mía và phụ liệu để người dân sản xuất phân bón qua các đợt: Đợt 1
(1/2010): Thanh Chương 15 tấn, Nam Đàn 20 tấn, Quỳnh Lưu 20 tấn; Đợt 2
(8/2010): Thanh Chương 20 tấn, Nam Đàn 30 tấn; Đợt 3 (1/2011): Thanh
Chương 15 tấn, Nam Đàn 20 tấn, Quỳnh Lưu 10 tấn. Qua 3 đợt, xóm Thanh
0,9-1,0m.
Ngoài ra, để đánh giá năng suất thu được của mỗi mô hình, dự án cũng theo
dõi trọng lượng trung bình/cây, năng suất thực thu khi thu hoạch. Năng suất lý
thuyết là chỉ tiêu thể hiện khả năng cho năng suất của cây mía. Năng suất lý
thuyết của các mô hình theo dõi biến động từ 85,50-106,4tấn/ha. Trong đó, các
công thức thí nghiệm đều tăng so với các công thức bón phân đối chứng. Mô
hình trồng mía của xóm Nam Đàn cho năng suất lý thuyết cao nhất, cao hơn so
với đối chứng 13,3 tấn còn năng suất thực thu của các mô hình biến động từ
50,9-66,4 tấn/ha.
+ Mô hình sử dụng phân hữu cơ vi sinh cho cây cam: Tại các mô hình, việc sử
dụng phân hữu cơ vi sinh bón trên cây cam cho thấy tác dụng rõ rệt. Cam tại các
huyện, giảm chi phí vận chuyển của phân bón từ các vùng xa chuyển về (giảm
giá phân bón vi sinh trên địa bàn).
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường do các loại
phế thải trong sản xuất nông nghiệp gây nên; Góp phần làm cân bằng sinh thái,
giữ an toàn môi sinh, hướng tới một nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn và bền
vững.
7. Kết quả nhân rộng mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh trên địa bàn
huyện Tân Kỳ
Việc sản xuất và sử dụng phân hữu cơ vi sinh đã được áp dụng thành công
trên các mô hình của xã Tân An trong năm 2009-2010. Do đó năm 2011, Ủy ban
nhân dân huyện Tân Kỳ đã mở rộng mô hình sản xuất phân hữu cơ vi sinh ra 21
xã trong toàn huyện, sản xuất 460 tấn phân bón.
III. Kết luận
Dự án đã mang lại ý nghĩa tích cực trong việc sản xuất nông nghiệp an toàn,
bền vững, giải quyết được lượng phế phụ phẩm dư thừa, tồn đọng gây ô nhiễm
môi trường trong nhân dân, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cho người dân từ
việc biến các sản phẩm phụ của nông nghiệp thành nguồn phân bón hữu cơ dồi
dào để đầu tư cho sản xuất trong thời điểm giá các loại phân bón tăng cao.
Dự án đã thực hiện đầy đủ các nội dung, đúng tiến độ đề ra, sản xuất được 300