CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
HCVSV: hữu cơ vi sinh vật
AIA: axit indol axetic
HCN: axit cyanhidric
Cs: cộng sự
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Nồng độ muối khoáng cần thiết đối với vi khuẩn, nấm và xạ khuẩn
7
Bảng 1.2: Hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh đối với lúa ở một số quốc gia
châu Á
22
Bảng 3.1: Đặc điểm khuẩn lạc của các chủng Azotobacter mới phân lập
32
Bảng 3.2: Khả năng cố định nitơ của các chủng Azotobacter.
34
Bảng3.3: Khả năng sinh tổng hợp AIA thô của các chủng Azotobacter
37
Bảng 3.4: Khả năng ức chế vi khuẩn gây bệnh héo xanh của các chủng
Azotobacter
39
Bảng 3.5: Hoạt tính sinh học của chủng Azotobacter lựa chọn
40
Bảng 3.6: Mối quan hệ giữa các chủng vi khuẩn lựa chọn
41
Bảng 3.7: Khả năng sinh trưởng phát triển của các chủng trong môi trường
dịch thể
42
Bảng 3.8: Khả năng tồn tại của các chủng vi khuẩn lựa chọn khi nuôi trong
cơ chất vô trùng theo thời gian
43
Bảng 3.9: Hoạt tính sinh học của các chủng vi khuẩn lựa chọn khi nuôi cấy
Biểu đồ 3. 1: Khả năng cố định nitơ của các chủng Azotobacter.
34
Biểu đồ 3. 2: Khả năng sinh tổng hợp AIA thô của các chủng Azotobacter.
37
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Vi khuẩn Azotobacter 3
1.1.1. Đặc điểm hình thái và các đặc tính sinh lí, sinh hóa của Azotobacter 3
1.1.2. Nguồn dinh dưỡng 4
1.1.3. Ảnh hưởng các nhân tố sinh thái đến sinh trưởng và phát triển của
Azotobacter 8
1.2. Sự phân bố của Azotobacter trong đất 10
1.3. Khả năng cố định nitơ của Azotobacter 12
1.3.1. Quá trình cố định nitơ sinh học 12
1.3.2. Vi khuẩn cố định nitơ tự do Azotobacter 13
1.4. Khả năng kích thích sinh trưởng của Azotobacter 14
1.4.1. Chất kích thích sinh trưởng ở thực vật 14
1.4.2. Vi khuẩn sinh AIA: Azotobacter 15
1.5. Tính kháng vi khuẩn gây bệnh héo xanh Ralstonia solanacearum 16
1.5.1. Vi khuẩn R.solanacearum 16
1.5.2. Tính kháng R.solanacearum của Azotobacter 16
1.6. Chế phẩm phân bón chứa Azotobacter và hiệu quả trong trồng trọt trong
những nghiên cứu ban đầu 17
1.7. Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh vật ở trong
nước và ngoài nước 19
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 23
2.1. Vật liệu 23
2.1.1. Mẫu đất và vi sinh vật 23
2.1.2. Hóa chất, dụng cụ 23
2.2. Phương pháp 24
trên thế giới cũng như ở Việt Nam đang hướng đến.
Đất nước ta có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu thì việc quan tâm đến
năng suất và chất lượng nông sản là mục tiêu hàng đầu vì không những giúp nâng
cao đời sống của nông dân mà còn thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc gia.
Phân bón HCVSV (hay còn gọi là phân hữu cơ vi sinh) là sản phẩm được sản xuất
từ các nguồn nguyên liệu hữu cơ khác nhau, nhằm cung cấp chất dinh dưỡng cho
cây trồng, cải tạo đất, chứa một hay nhiều chủng vi sinh vật sống được tuyển chọn
với mật độ đạt tiêu chuẩn quy định. Phân bón HCVSV góp phần nâng cao năng
suất cây trồng và chất lượng nông sản, giảm chi phí, tiết kiệm phân bón vô cơ,
đóng góp quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển nền nông, lâm
nghiệp bền vững. Vì vậy, nghiên cứu và sử dụng nguồn dinh dưỡng tạo ra từ các
hoạt động sống của vi sinh vật đã và đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm
và phát triển.
Bên cạnh các sản phẩm phân HCVSV đơn chủng đã được nghiên cứu và sử
dụng hiệu quả như: Nitragin, Rhizoda, Azogin, Rhizolu, Phosphobacterin,
Azotobacterin một số nghiên cứu gần đây cho thấy chế phẩm phân bón tổng
hợp bao gồm các nhóm cố định nitơ, phân giải photphat, kích thích sinh trưởng
thực vật, đối kháng vi sinh vật gây bệnh (chế phẩm EM, vi sinh vật tổng hợp) có
tác dụng đối với cây trồng tốt hơn so với từng loại vi sinh vật riêng rẽ.
Nhiều kết quả nghiên cứu về phân bón HCVSV đã khẳng định, hiệu quả của
phân HCVSV phụ thuộc hoạt tính sinh học, khả năng cạnh tranh với vi sinh vật có
sẵn trong đất và khả năng thích ứng với điều kiện môi trường đất của các vi sinh
vật sử dụng trong phân bón [13], [14], [15]. Phân vi sinh vật đặc biệt có ý nghĩa sử
dụng nếu các vi sinh vật sử dụng có nhiều hoạt tính sinh học.
Azotobacter là nhóm có phổ phân bố khá rộng. Các nghiên cứu trước đây đã
phát hiện ra nhiều đặc tính quý của Azotobacter như khả năng cố định nitơ tự do,
kích thích sinh trưởng, đối kháng, sinh polyshacarit v.v. [5], [12].
Để sản xuất phân bón HCVSV tốt, phải có chủng vi sinh vật có hoạt tính sinh
học cao, đa hoạt tính, khả năng tồn tại lớn. Vì vậy, việc phân lập, tuyển chọn đánh
giá hoạt tính của các chủng vi sinh vật là việc làm không thể thiếu trong quy trình
khoảng 0,023 % nitơ. Lượng ADN trong tế bào Azotobacter thường thấp hơn so
với nhiều loại vi khuẩn khác (0,70- 0,81%) [4].
Azotobacter có thể sử dụng nhiều loại hợp chất hữu cơ làm nguồn thức ăn
cacbon. Chúng cũng cần nhiều nguyên tố khoáng, đặc biệt là 2 nguyên tố vi lượng
bor (B) và molipden (Mo)(Mo cần cho quá trình cố định nitơ).
Khi sống trong điều kiện không có nitơ, Azotobacter sẽ dùng nitơ của
không khí để biến thành nitơ của cơ thể sống. Khi sống trong môi trường đủ thức
ăn nitơ hữu cơ hoặc vô cơ thì tác dụng cố định nitơ sẽ rất thấp hoặc không có.
Azotobacter thích hợp với điều kiện hiếu khí vừa phải và pH trung tính hoặc hơi
kiềm.
Khi nuôi trong môi trường thạch, vi khuẩn Azotobacter có khuẩn lạc nhầy,
lồi hoặc tan, lúc đầu không màu, sau biến thành màu nâu tối, thậm chí đến màu
đen nhưng không làm nhuộm màu môi trường. Ngoài ra một số loài Azotobacter
có dạng nhăn nheo, khuẩn lạc có màu vàng lục, màu hồng.
Vi khuẩn Azotobacter thuộc loại vi khuẩn hiếu khí, sống theo phương thức
dị dưỡng. Chúng sử dụng nhiều loại hợp chất hữu cơ khác nhau: disacarit, dextrin,
tinh bột, axit hữu cơ, hợp chất thơm … Tuy vậy, nhiều tác giả cho biết có không ít
chủng Azotobacter không có khả năng đồng hoá lactose, manitơl hoặc
natribenzoat [12].
Trên các môi trường không chứa nitơ khuẩn lạc Azotobacter có dạng nhầy,
lồi, đôi khi nhăn nheo, chứng tỏ vi khuẩn Azotobacter có khả năng sinh trưởng
trên môi trường không có nitơ. Sở dĩ chúng tồn tại được là vì có khả năng đồng
hoá muối amonium, urê. Một số chủng Azotobacter có khả năng sử dụng nitrit,
nitrat. Hai loại axit thích hợp nhất đối với nhu cầu dinh dưỡng của Azotobacter là
axit glutamic và axit asparaginic.
• Nguồn dinh dưỡng
Vi sinh vật cũng như các loài động thực vật khác, luôn có nhu cầu sử dụng
những chất chúng có thể hấp thụ từ môi trường xung quanh và được sử dụng làm
nguyên liệu để cung cấp cho quá trình sinh tổng hợp tạo ra các thành phần của tế
bào hoặc để cung cấp cho các quá trình trao đổi năng lượng. Tuy nhiên không phải
mannonic , axit glyxetinic, axit pyruvic, axit quinic, axit butyric, axit valeric, axit
cepronic), các diaxit (axit fumaric, axit maleic, axit malonic, axit oxaloaxetic) các
hợp chất thơm (như axit benzoic, axit salixilic, phenol ).
Khả năng đồng hoá các nguồn thức ăn cacbon nói trên không phải là giống
nhau ở tất cả các chủng Azotobacter. Có không ít các chủng Azotobacter không có
khả năng đồng hoá lactoza, mannit hoặc natri benzoat. Khi đồng hóa glucose,
Azotobacter thường làm tích luỹ lại trong môi trường axit pyruvic, axit lactic và
etanol. Chính vì lí do này cho nên khi phát triển Azotobacter thường làm axit hoá
môi trường nuôi cấy.
Nguồn nitơ
Nguồn dinh dưỡng nitơ có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của vi
sinh vật. Nguồn nitơ dễ hấp thụ đối với vi sinh vật là NH
3
và NH
4
+
. Muối nitrat là
nguồn thức ăn nitơ thích hợp đối với nhiều loại tảo, nấm sợi và xạ khuẩn nhưng ít
thích hợp với nhiều loại nấm men và vi khuẩn. Sau khi vi sinh vật sử dụng hết gốc
NO
3
-
các ion kim loại còn lại: K
+
, Na
+
, Mg
2+
,… làm kiềm hoá môi trường. Để
tránh hiện tượng này người ta sử dụng muối NH
tố khác không thể thay thế được. Nguyên tố khoáng được chia làm 2 loại chính:
- Các nguyên tố đa lượng gồm có: P, K, Ca, S, Mg, Fe, Na, Cl …
- Các nguyên tố vi lượng gồm có: Mn, Cu, Co, B …
Nhu cầu của vi sinh vật cũng không giống nhau đối với từng loài, từng giai
đoạn phát triển. Theo nghiên cứu người ta nhận thấy nồng độ cần thiết về các
muối khoáng đối với vi khuẩn, nấm và xạ khuẩn thường thay đổi trong các phạm
vi sau:
Bảng 1.1: Nồng độ muối khoáng cần thiết đối với vi khuẩn, nấm và xạ
khuẩn
Muối khoáng
Nồng độ cần thiết (g/l)
Đối với vi khuẩn Đối với nấm và xạ khuẩn
K
2
HPO
4
0.2 - 0.5 1 – 2
KH
2
PO
4
0.2 - 0.5 1 – 2
MgSO
4
.7H
2
O 0.1 - 0.2 0.2 - 0.5
MnSO
4
.4H
trường: nước chiết đậu, nước thịt, sữa, huyết thanh, pepton, giá đậu…vì các môi
trường này thường chứa đủ các nguyên tố khoáng cần thiết cho sự phát triển của vi
sinh vật. Ngược lại, khi làm các môi trường tổng hợp (dùng nguyên liệu là hoá
chất) bắt buộc phải bổ sung đầy đủ các nguyên tố khoáng cần thiết. Nồng độ cần
thiết của từng nguyên tố vi lượng trong môi trường chỉ vào khoảng 10
-6
- 10
-8
M.
Hàm lượng các chất khoáng chứa trong nguyên sinh chất thường thay đổi tuỳ loài,
tuỳ từng giai đoạn phát triển và điều kiện nuôi cấy.
Bình thường khi nuôi cấy vi sinh vật, người ta không cần bổ sung các nguyên
tố vi lượng. Những nguyên tố này có sẵn trong nước máy, trong các hoá chất dùng
làm môi trường hoặc có lẫn trong thuỷ tinh của các dụng cụ nuôi cấy. Tuy nhiên
cũng có một số trường hợp cụ thể phải bổ sung các nguyên tố vi lượng vào môi
trường nuôi cấy. Ví dụ: Bổ sung Zn vào các môi trường nuôi cấy nấm mốc, bổ
sung Bo và Mo vào môi trường nuôi cấy vi sinh vật cố định đạm .
Chất sinh trưởng
Muốn phát triển bình thường vi sinh vật không những đòi hỏi phải được cung
cấp đầy đủ protein, lipit, gluxit, muối khoáng… mà còn cần tới các chất sinh
trưởng.
Tuỳ thuộc vào khả năng sinh tổng hợp của từng loại vi sinh vật mà cùng một
chất có thể hoàn toàn không cần thiết với vi sinh vật này nhưng có thể là có tác
dụng kích thích sinh trưởng, phát triển của vi sinh vật khác. Hầu như không có
chất nào là chất sinh trưởng chung đối với tất cả các loài vi sinh vật. Tuỳ theo từng
loại vi sinh vật mà chúng ta bổ sung vào môi trường nuôi cấy những chất sinh
trưởng khác nhau.
• Ảnh hưởng các nhân tố sinh thái đến sinh trưởng và phát triển của
Azotobacter.
Vi khuẩn Azotobacter hiếu khí, sự phát triển và khả năng cố định nitơ của
Tế bào dinh dưỡng của Azotobacter không sống được khi xử lí 50
0
C trong 30 phút,
ở 80
0
C sẽ chết rất nhanh. Nhiệt độ thích hợp đối với sự phát triển của Azotobacter
vào khoảng 20-30
0
C.
pH của đất
pH có ý nghĩa quyết định đối với sinh trưởng của nhiều loài vi sinh vật. Các
ion H
+
và OH
-
là hai ion hoạt động lớn nhất trong tất cả các ion, những biến đổi dù
nhỏ trong nồng độ của chúng cũng có những ảnh hưởng mạnh mẽ. Các loại vi sinh
vật khác nhau có khả năng thích nghi với các điều kiện pH khác nhau.
pH của đất ảnh hưởng không giống nhau đến sự phát triển và khả năng cố
định N của Azotobacter. Azotobacter thích hợp nhất với pH = 7,2- 8,2, song có thể
phát triển được ở pH = 4,5- 9,0. Các loài Azotobacter khác nhau mẫn cảm khác
nhau đối với pH của môi trường. Chẳng hạn: pH thấp nhất của môi trường đối với
Azotobacter chroococcum và A. beijerinck khoảng 5,5; đối với A. macrocytones là
khoảng 4,6.
Phần lớn Azotobacter chỉ phát triển ở pH lớn hơn 6, vì vậy ít gặp chúng ở đất
chua. Cũng có thể phân lập được một số chủng từ đất chua nhưng các chủng này
thường đã mất khả năng cố định nitơ.
Các nhân tố sinh học
Sự phát triển và cố định nitơ của Azotobacter trong đất còn chịu ảnh hưởng
mật thiết của khu hệ các sinh vật đất. Bên cạnh các nhóm vi sinh vật có ảnh hưởng
sinh (Rhizobium), còn vùng rễ lúa là nơi cư trú của các nhóm cố định nitơ tự do
(Azotobacter) hoặc nội sinh [10].
Kết quả nghiên cứu sự phân bố của Azotobacter trong vùng rễ và ngoài vùng
rễ từ cánh đồng lúa mì ở Bangladesh, cho thấy rõ hơn sự có mặt của Azotobacter
ngoài vùng rễ đạt 5.2 x 10
4
– 7.2 x 10
4
CFU/g và trong vùng rễ đạt 17.2 x 10
4
–
25.5 x 10
4
CFU/g [28].
Azotobacter phát triển mạnh trong điều kiện đất thoáng khí, độ ẩm của đất
cao. Tuy nhiên, yếu tố có tính quyết định đến sự có mặt của Azotobacter trong đất
lại là sự phản ứng của đất. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng Azotobacter chỉ
thích ứng với đất ít chua hoặc trung tính [9], [18].
Các điều tra ở đất Việt Nam cho biết, khi pH đất thấp hơn 5,5 sự phát triển
của Azotobacter bị hạn chế một cách rõ rệt. Trong khi đó ở các đất có pH trung
tính Azotobacter luôn có từ hàng nghìn đến hàng vạn tế bào trong mỗi gam chất
khô [4].
Như vây, trên đất phù sa sông Hồng và sông Cửu Long luôn có mặt
Azotobacter. Tuy nhiên, cùng là đất phù sa nhưng hoạt động của Azotobacter lại
không giống nhau. Đất phù sa sông Hồng thường có số lượng Azotobacter cao hơn
đất phù sa sông Cửu Long do ưu điểm nổi bật của đất phù sa sông Hồng có pH
trung tính [2].
• Khả năng cố định nitơ của Azotobacter
• Quá trình cố định nitơ sinh học
Nitơ là nguyên tố trơ khó liên kết hóa học với các nguyên tố khác, nếu không
nitrogenaza
NH
3
+ A + ADP +P
Năm 1992 các nhà khoa học đã hoàn thiện được cơ chế của quátrình cố định
nitơ phân tử như sau [4]
N = N NH = NH H
2
N-NH
2
NH
3
N
2
+ 8H
+
+ 8e
-
+ 16 Mg.ATP + 16º
nitrogenaza
2NH
3
+ H
2
+16 Mg.ADP + 16P
• Vi khuẩn cố định nitơ tự do Azotobacter
Vi khuẩn cố định nitơ tốt nhất và được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là
Azotobacter. Azotobacter không có khả năng đồng hóa chất mùn, chúng chỉ có khả
năng phát triển mạnh trong đất có chứa nhiều chất hữu cơ dễ đồng hóa.
Azotobacter đồng hóa rất tốt các sản phẩm phân giải của cellulose.
(1881) song chưa biết đó là chất gì. Sau đó có nhiều công trình nghiên cứu về chất
kích thích sinh trưởng được hình thành trên đỉnh chồi của cây đã chứng minh bản
chất hóa học của chất này và gọi là Auxin (theo tiếng Hi-lạp có nghĩa là sinh
trưởng) [17].
Năm 1934, Kogl và cs đã tách ra một chất từ dịch chiết nấm men có hoạt tính
sinh trưởng tương tự như những thí nghiệm của Darwin. [19]
Năm 1936, F.Kogl và cs đã xác định được cấu trúc hóa học của Auxin. Sau
này, đã có nhiều công trình nghiên cứu và xác định chất đó là axit indol axetic
(AIA). Qua đó người ta cũng khẳng định được AIA là dạng Auxin chủ yếu. [17]
Ngày nay, người ta đã công nhận rằng AIA đóng vai trò rât quan trọng trong
các quá trình biến đổi hình thái hay sinh lí của thực vật và có tác dụng chủ yếu
như:
• Điều khiển phân chia, kéo dài và phân hóa tế bào đặc biệt là ở cây gỗ, ảnh
hưởng đến sự tổng hợp ADN, kích thích sự ra rễ của mô sẹo, ngăn ngừa
được sự rụng đài, nụ, hoa, lá do tác động điển hình là tăng độ mềm dẻo của
vách tế bào.
• Có vai trò chính trong hướng quang và hướng địa. Ánh sáng từ một phía tác
động lên thân hay lá mầm gây nên sự chuyển dịch AIA về phần tối, vì thế
gây nên kích thích phát triển nhanh hơn so với phần sáng, là nguyên nhân
gây cong thân và lá mầm về nguồn sáng. Cây bao giờ cũng mọc theo chiều
thẳng đứng (trừ các nhóm cây bò lan). Trường hợp này, AIA tập trung
nhiều hơn mặt bên dưới, tạo cho phần này có tế bào sinh trưởng mạnh hơn
làm cho cây cong theo chiều thẳng đứng. Do ngược với chiều trọng lực nên
còn gọi là tính hướng địa. Đặc tính này chỉ có ở phần gần chóp rễ, giúp cho
rễ cây luôn ăn thẳng xuống lòng đất theo chiều của trọng lực.
• Tạo nên tính chất ưu thế ngọn. AIA kìm hãm sinh trưởng của chồi phụ, do
đó tạo điều kiện thuận lợi cho chồi chính phát triển.
• Điều khiển hình thành và phát triển bộ rễ. AIA đóng vai trò quan trọng
trong việc điều khiển hình thành rễ phụ, là cơ sở để phát triển bộ rễ và hình
thành rễ trên thân do tác dụng kích thích của AIA là hoạt hóa phân chia tế
các nước như Angola, Trung Quốc, Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Srilanka,
Đông Ấn Ethiopia, Lybia, Malaysia, Nigieria, Philippin, Nam Phi, Đài Loan, Thái
Lan, Uganda, Hoa Kì, Việt Nam, Zambia.
Ở Việt Nam, bệnh héo xanh trên cây lạc do vi khuẩn R.solanacearum gây ra,
là một trong những bệnh gây hại rất phổ biến làm chết héo hàng loạt cây lạc trên
đồng ruộng, gây tổn thất lớn ở các vùng trồng lạc, nhất là ở vùng Đồng bằng sông
Hồng.
• Tính kháng R.solanacearum của Azotobacter
Thực tế cho thấy chỉ cần sử dụng thuốc hoá học, con người có thể kiểm soát
được hầu hết sâu, bệnh hại cây trồng. Biện pháp này giữ vị trí khá quan trọng
trong phòng trừ dịch hại cây trồng. Vì vậy, việc phòng trừ sâu bệnh hại bằng thuốc
hoá học ở nhiều nước đã bị lạm dụng, có khi còn khá tuỳ tiện. Dẫn tới sâu bệnh
hại có chiều hướng gia tăng bởi vì chúng đã quen dần với thuốc hoá học, bên cạnh
đó năng suất cây trồng đã không thể tăng lên được nữa mà bị chững lại [31].
Ảnh hưởng có ích của nhóm vi khuẩn này là do chúng sản sinh ra các chất
kích thích tăng trưởng, chất ức chế hoặc làm suy yếu tác nhân gây bệnh hoặc cả
hai. Cơ chế ban đầu ức chế tác nhân gây bệnh là tiết ra các chất kháng sinh. Tuy
nhiên những yếu tố khác như việc tiết ra các chất sidrophores, HCN, sự cạnh tranh
dinh dưỡng cũng có vai trò quan trọng trong việc ức chế các tác nhân gây bệnh
[21], [22], [24].
• Chế phẩm phân bón chứa Azotobacter và hiệu quả trong trồng trọt trong
những nghiên cứu ban đầu.
Hoạt động của vi sinh vật có ích giúp đẩy nhanh quá trình khoáng hóa các
hợp chất hữu cơ trong đất, nâng cao độ phì nhiêu của đất, phù hợp với mọi loại
đất. Đặc biệt là làm tăng độ mùn, cung cấp các chất dinh dưỡng và giúp cải tạo đất
xám, đất xám bạc màu, đất phèn. Khắc phục hiện tượng chai đất do sử dụng phân
bón hóa học lâu ngày, giúp cho đất tơi xốp màu mỡ trở lại. Bảo vệ đất chống rửa
trôi xói mòn. Cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết giúp cho cây tăng trưởng,
phát triển khỏe mạnh, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, nâng cao năng
suất cây trồng. Cung cấp các hệ vi sinh vật có ích, khả năng thích ứng cao, cải tạo
dụng phân vi sinh vật cố định nitơ hội sinh là rõ rệt. Nếu đầu tư 1 đồng cho việc sử
dụng phân vi sinh, lãi suất thu về từ 16,2 đến 19,1 đồng cho cây lúa.
Bón phân vi sinh vật cố định nitơ cho cây trồng có thể thay thế một phần
phân đạm khoáng. Kết quả nghiên cứu của các đề tài cấp Nhà nước
KC.08.01 (1991 - 1995) và KHCN.02.06 (1996 - 2000) cho biết, có thể tiết kiệm
được lượng phân đạm khoáng nhất định, từ 10,80 đến 22,40 kgN/ha/vụ tùy theo
từng loại đất và mùa vụ gieo trồng [6].
• Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh vật ở trong
nước và ngoài nước.
Ở trong nước
Chiến lược an toàn dinh dưỡng cho cây và đất trồng là sử dụng cân đối phân
bón hoá học và phân bón sinh học cho cây trồng phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng
và điều kiện đất đai, khí hậu, trong đó phân bón sinh học có vai trò vô cùng quan
trọng. Cùng với chất hữu cơ, vi sinh vật sống tồn tại trong đất, nước và vùng rễ
cây có ý nghĩa quan trọng trong các mối quan hệ giữa cây trồng, đất và phân bón.
Hầu như mọi quá trình xảy ra trong đất dều có sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp
của vi sinh vật (mùn hoá, khoáng hoá chất hữu cơ, phân giải, cố định chất vô cơ.
v.v.). Vì vậy từ lâu vi sinh vật đã được coi là một bộ phận của hệ dinh dưỡng cây
trồng tổng hợp.
Nhận thức được vai trò của phân bón vi sinh vật, từ những năm đầu của thập
kỉ 80, nhà nước đã triển khai hàng loạt các đề tài nghiên cứu thuộc chương trình
công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp giai đoạn 1986- 1990 và chương trình
công nghệ sinh học 1991-2005. Dưới dây là số liệu tổng hợp một số kết quả chính
trong công tác nghiên cứu ứng dụng vi sinh vật làm phân bón phục vụ phát triển
nông, lâm bền vững tại Việt Nam.
* Thu thập, phân lập, tuyển chọn chủng giống vi sinh vật.
Các chủng giống vi sinh vật được thu thập, phân lập tuyển chọn và lưu giữ
tại Quỹ gen vi sinh vật nông nghiệp. Ðây là bộ sưu tập giống của 30 họ vi khuẩn,
nấm, xạ khuẩn, nấm men, với số lượng gần 700 chủng, bao gồm các sinh vật cố
định nitơ sống cộng sinh với cây bộ đậu (Rhizobium, Bradyrhizobium), cố định