Các bệnh thiếu dinh dưỡng - Pdf 27

Các bệnh thiếu dinh dưỡng có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng

Những kết quả nghiên cứu của khoa học dinh dưỡng đã chỉ ra trong thức ǎn có chứa các thành
phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein, lipit, các vitamin, các chất
khoáng và nước: Sự thiếu một trong các chất này có thể gây ra nhiều bệnh tật thậm chí chết
người ví dụ như bệnh scobut do thiếu vitamin C đã lấy đi sinh mạng 100 trong số 160 thủy thủ
theo
Vasco de Gam tìm đường sang phương đông, bệnh viêm da Pellagra hay gặp ở các vùng ǎn
toàn ngô do thiếu vitamin PP, bệnh tê phù do thiếu vitamin B1...
Người ta gọi đó là các bệnh thiếu dinh dưỡng đặc hiệu, nghĩa là nguyên nhân chủ yếu là do thiếu
một thành phần dinh dưỡng nào đó. Nhờ áp dụng kiến thức dinh dưỡng. vào chǎm sóc sức
khỏe; nhiều loại bệnh này được đẩy lui về quá khứ. Tuy vậy ở các nước nghèo vẫn còn nổi trội
lên các vấn đề sức khỏe do thiếu dinh dưỡng, các bệnh thiếu dinh dưỡng quan trọng nhất hiện
nay là thiếu Protein nǎng lượng, thiếu vitamin A và bệnh khô mắt, thiếu máu dinh dưỡng, thiếu
iot và bệnh bướu cổ.
THIếU DINH DƯõNG PROTEIN-NǍNG LƯợNG
I. ĐạI CƯƠNG Về THIếU DINH DƯỡNG PROTEIN NǍNG LƯợNG .
Thiếu dinh dưỡng Protein nǎng lượng là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng nhất ở trẻ em, với biểu
hiện lâm sàng bằng tình trạng chậm lớn và hay đi kèm với các bệnh nhiễm khuẩn .
Thiếu dinh dưỡng Protein nǎng lượng ở trẻ em thường xảy ra do:
- Chế độ ǎn thiếu về số lượng và chất lượng .
- Tình trạng nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh đường ruột, sởi, và viêm cấp đường hô hấp. Các
bệnh này gây tǎng nhu cầu, giảm ngon miệng và hấp thu.
Mối quan hệ giữa suy đinh dưỡng- nhiễm khuẩn thể hiện qua vòng sau đây:
Tình trạng phổ biến của suy dinh dưỡng có liên quan chặt chẽ với tình trạng kinh tế xã hội, sự
nghèo đói, sự kém hiểu biết vì tình trạng vǎn hóa thấp, mù chữ, thiếu thức ǎn, vệ sinh kém,
đồng thời với sự lưu hành bệnh nhiễm khuẩn. ở cộng đồng các nguyên nhân thường đan xen
nhau rất phức tạp cần lưu ý tới những trẻ em sinh ra

các gia đình nghèo túng, ở những bà mẹ
đẻ quá dày, cân nặng khi trẻ sinh ra thấp, những đứa trẻ sinh đôi, những bà mẹ sau sinh mất

Cân nặng/ chiều cao

Rất thấp

Thấp, có thể không rõ do
phù

Biến đổi tâm lý

Đôi khi lặng lẽ mệt mỏi

Hay quấy khóc, mệt mỏi
Các biểu hiện có thể gặp

Ngon miệng

Khá

Kém

ỉa chảy

Thường gặp

Thường gặp

Biến đổi ở da

chiều cao theo tuổi, cân nặng theo chiều cao, vòng cánh tay) để phân loại tình trạng suy dinh
dưỡng. Khi đo vòng cánh tay cần sờ nắn để đánh giá tình trạng lớp mỡ dưới da.
ở cộng đồng, cách phân loại thông dụng nhất trước đây do Gomez F. đưa ra từ nǎm 1956 dựa
vào cân nặng theo tuổi quy ra phần trǎm của cân nặng chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 1 tương ứng
75%-90% của cân nặng chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60%-75% của cân nặng
chuẩn. Thiếu dinh dưỡng độ 2 tương ứng 60% của cân nặng chuẩn. Cách phân loại của Gomez
F. đơn giản nhưng không phân biệt được thiếu dinh dưỡng mới xẩy ra hay đã lâu.
Để khắc phục nhược điểm đó, Wate*ow J.C. đề nghị cách phân loại như sau: Thiếu dinh dưỡng
thể gầy còm (tức là hiện đang thiếu dinh đường) biểu hiện bằng cân nặng theo chiều cao thấp so
với chuẩn, thiếu dinh dưỡng thể còi cọc (tức là thiếu dinh dưỡng trường diễn) dựa vào chiều cao
theo tuổi thấp so với chuẩn.
Bảng phân loại theo Waterlow

Cân nặng theo chiều cao
(80 % hay -2SD)
Trên

Dưới

Trên

Bình thường

Thiếu dinh dưỡng
gày còm

Chiều cao theo tuổi


Kwashiorkor

Thiếu dinh dưỡng

Dưới 60

Marasmus - Kwashiorkor

Marasmus

Theo tính toán, 1 SD tương đương 10% như vậy 60% tương đương mức -4SD của cân nặng
chuẩn.
Phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em đòi hỏi sự lồng ghép của nhiều hoạt động trong đó có các
biện pháp lớn sau đây:
1. Theo dõi biểu đồ phát triển trẻ em.
2. Phục hồi mất nước theo đường uống khi trẻ ỉa chảy.
3. Nuôi con bằng sữa mẹ.
4. Tiêm chủng theo lịch phòng các bệnh sởi, uốn ván, ho gà, bạch hầu, bại liệt và lao. .
5. Kế hoạch hóa gia đình.
6. Giáo dục dinh dưỡng.
7. Xây dựng hệ sinh thái VAC tạo thêm nguồn thức ǎn bổ sung.
Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu sâu hơn về các biện pháp dinh dưỡng.
II. CáC BIệN PHáP PHòNG CHốNG SUY DiNH DƯỡNG
1 Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ.
Trong những nǎm gần đây, ít có vấn đề được quan tâm nhiều trong dinh dưỡng trẻ em bằng vấn
đề nuôi con bằng sữa mẹ. Không ít các cuộc hội nghị hội thảo quốc tế và trong nước dành riêng
cho chuyên đề này. Tổ chức quỹ nhi đồng quốc tế (UNICEF) đã coi nuôi con bằng sữa mẹ là một
trong 4 biện pháp quan trọng nhất (theo dõi biểu đồ phát triển, phục hồi mất nước do ỉa chảy
bằng orêzôn, nuôi con bằng sữa mẹ và tiêm chủng theo âm lịch tuổi) để bảo vệ sức khỏe trẻ em.

Trong 4 tháng đầu, sữa mẹ là thức ǎn hoàn chỉnh nhất đối với đứa trẻ . Nhưng từ tháng thứ. 5
trở đi, số lượng sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu của đứa trẻ đang lớn nhanh. Do đó các bà
mẹ cho con ǎn sam (ǎn bố sung), thông thường ở nước ta là các loại bột, nhất là bột gạo.
Mấy điểm sau đây cần lưu ý: .
a) Thức ǎn bổ sung cần có đǎm độ nǎng lượng thích hợp:
Trong sữa mẹ, 50% nǎng lượng là do chất béo, trong bột gạo chỉ có 1-3% nǎng lượng do chất
béo. Chế độ ǎn có đậm độ nǎng lượng thấp thì phải ǎn nhiều hơn mới đáp ứng được nhu cầu,
điều đó không dễ thực hiện vì dạ dày

Sữa mẹ giữ vị trí trung tâm. Các loại thức ǎn ở 4 ô xung quanh bổ sung cho sữa mẹ tùy theo nhu
cầu, mỗi Ô có vị trì riêng của nó. Trong thức ǎn bổ sung đơn giản nhất thường gồm 2 thành
phần, bột ngũ cốc phối hợp với bột đậu đỗ. Tuy nhiên thức ǎn bổ sung hoàn chỉnh cần đại diện 4
ô trong hình vuông thức ǎn tỷ lệ thích hợp.
d) Theo dõi biểu đồ phát triển:
Khác với bệnh nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng ở trẻ em tiến triển theo một con đường quanh co
khúc khuỷu, đến khi nhận thấy thường là giai đoạn muộn Do đó, vấn đề quan trọng là nhận biết
sớm để có biện pháp can thiệp kịp thời.
Trong những nǎm gần đây, người ta nói nhiều đến giá trị của việc sử dụng biểu đồ phát triển, coi
đó là biện pháp quan trọng để phòng chống suy dinh dưỡng. Cân nặng định kì đứa trẻ đều hàng
tháng, đứa trẻ tǎng cân, đó là biểu hiện bình thường, cân đứng yên là biểu hiện đe dọa, nếu
xuống cân là biểu hiện nguy hiểm. .
Theo dõi và sử dụng biểu đồ phát triển là công việc tự giác có ý thức của bà mẹ chứ không phải
là hoạt động chuyên môn kỹ thuật riêng của cơ quan y tế Trong phòng chống suy dinh dưỡng,
vai trò người mẹ là trung tâm. Người mẹ nào cũng tràn đầy tình yêu và trách nhiệm đối với con
mình, biểu đồ phát triển giúp họ đánh giá đúng đắn tình hình sức khỏe của con họ.
Chính vì vậy, sứ dụng biểu đồ phát triển đã được tổ chức quỹ nhi đồng quốc tế (UNICEF) coi là
một trong các biện pháp chủ yếu trong chǎm sóc sức khỏe trẻ em.
Tóm lại, sử dụng biểu đồ phát triển, nuôi con bằng sữa mẹ và thức ǎn bổ sung hợp lí, giáo dục
kiến thức dinh dưỡng cho người mẹ đó là các biện pháp quan trọng trong phòng chống suy dinh
dưỡng trẻ em. Cùng với việc xây dựng hệ sinh thái VAC (vườn, ao, chuồng) để tạo thêm nguồn


Trẻ em từ 6 tháng- 6 tuổi

11

Trẻ em từ 6 tuổi- 14 tuổi

12

Nam trưởng thành

13

Nữ trưởng thành

12

Nữ có thai

11

Có những người có lượng hemoglobin thấp hơn các giới hạn trên không bị thiếu máu (nghĩa là
cho thêm các chất dinh dưỡng tạo máu vào mà lượng Hb vẫn không tǎng ), tuy vậy trong một
quần dân cư. tỉ lệ số người có lượng Hb thấp hơn các "ngưỡng" trên càng cao thì vấn đề thiếu
máu càng lớn.
II. ý NGHĩA SứC KHỏE CộNG ĐồNG
1. Tỉ lệ mắc bệnh.
Dựa theo các giới hạn "ngưỡng" đề nghị ở trên và số liệu nhiều cuộc điều tra, Tổ chức Y tế thế
giới ước tính có 30% dán số thế giới bị thiếu máu.
Bảng 2: Tỉ lệ phần trǎm thiếu máu trên thế giới (1980)

3
26

14
59

11
47

Chung

43

37

48

51

35

Thiếu máu hay gặp ở các nước đang phát triển (36%) so với các nước phát triển (8%). Tỉ lệ thiếu
máu cao nhất ở châu Phi, nam á rồi đến châu Mỹ La Tinh còn các vùng khác thấp hơn. Thiếu
máu hay gặp nhất ở phụ nữ có thai 51%) rồi dện trẻ em (43%) học sinh (37%) còn ở nam giới
trưởng thành thấp lơn cả (18%) .
Người ta ước tính toàn thế giới có khoảng 700 - 800 triệu người bị thiếu náu. Cần chú ý thêm
rằng thiếu máu chỉ là giai đoạn cuối của một quá trình hiếu sắt tương đối dài vời nhiều ảnh
hường bất lợi đổi vời sức khỏe và số giời bị thiếu sắt nhưng chưa bộc lộ thiếu máu còn cao hơn
nhiều số người bị hiếu máu thực sự.
Các điều tra dịch tể học ở nước ta bước đầu cho thấy: tỉ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai ở Hà nội

ở người trưởng thành lượng sắt mất đi vào khoảng 0,9mg mỗi ngày ở nam (65kg) và 0,8mg ở nữ
(65kg). ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ ,lượng sắt mất theo kinh nguyệt dao động khá nhiều, trung bình
vào khoảng 0,4- 0,5mg mỗi ngày.
Như vậy ở đối tượng phụ nữ lứa tuổi này tổng lượng sắt mất trung bình hằng ngày là 1,25mg và
có khoảng thiếu máu xuất hiện.
Bảng 3: Nhu cầu sắt hấp thu hằng ngày (mg)

Nhóm tuổi

Cân nặng (kg)

Nhu cầu

Trẻ em: 0.25-1

8

0.96

1-2

11

0.61


Trưởng thành (nữ) - Tuổi hành kinh

55

2.38


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status