MỤC LỤC
M C L CỤ Ụ 1
DANH M C CH VI T T TỤ Ữ Ế Ắ 2
Ch cái vi t t t/ ký hi uữ ế ắ ệ 2
C m t y ụ ừđầ đủ 2
ATVSL &MTĐ 2
An to n v sinh lao ng & Môi tr ngà ệ độ ườ 2
BHXH 2
B o hi m xã h iả ể ộ 2
CBCNVC 2
Cán b công nhân viên ch cộ ứ 2
CPH 2
C ph n hóaổ ầ 2
CT 2
Công ty 2
CTCP 2
Công ty c ph nổ ầ 2
DN 2
Doanh nghi pệ 2
Doanh nghi p nh n cệ à ướ 2
HCM 2
H Chí Minhồ 2
H i ng qu n trộ đồ ả ị 2
KT 2
Kinh tế 2
NNL 2
Ngu n nhân l cồ ự 2
QLCL 2
Qu n lý ch t l ngả ấ ượ 2
SXKD 2
S n xu t kinh doanhả ấ 2
TNHH
Trách nhiệm hữu hạn
UBND Ủy ban nhân dân
VHDN Văn hóa doanh nghiệp
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
M C L CỤ Ụ 1
DANH M C CH VI T T TỤ Ữ Ế Ắ 2
Ch cái vi t t t/ ký hi uữ ế ắ ệ 2
C m t y ụ ừđầ đủ 2
ATVSL &MTĐ 2
An to n v sinh lao ng & Môi tr ngà ệ độ ườ 2
BHXH 2
B o hi m xã h iả ể ộ 2
CBCNVC 2
Cán b công nhân viên ch cộ ứ 2
CPH 2
C ph n hóaổ ầ 2
CT 2
Công ty 2
CTCP 2
Công ty c ph nổ ầ 2
DN 2
Doanh nghi pệ 2
Doanh nghi p nh n cệ à ướ 2
HCM 2
H Chí Minhồ 2
H i ng qu n trộ đồ ả ị 2
KT 2
Kinh tế 2
NNL 2
Nhà nước thành sở hữu của các Cổ đông. Theo đó, người lao động từ người
“làm thuê” trở thành những người “làm chủ doanh nghiệp”. Vì thế, lợi ích của
người lao động gắn liền với lợi ích của doanh nghiệp và đóng vai trò quan
trọng trong doanh nghiệp. Vì vậy, quản trị nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết
định sự thành bại của doanh nghiệp trên thương trường sau khi tiến hành cổ
phần hóa.
Do tính cấp thiết của tái cơ cấu, sắp xếp, đổi mới nguồn nhân lực trong
quá trình cổ phần hóa (CPH) nên em đã chọn đề tài “Hoàn thiện công tác
quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Nhà nước tiến hành cổ phần
hóa” để nghiên cứu.
2. Đối tượng nghiên cứu
Quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Nhà nước tiến hành cổ
phần hóa.
3. Phạm vi nghiên cứu
Doanh nghiệp Nhà nước tiến hành cổ phần hóa giải đoạn 2011-2013
1
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nêu được cơ sở lý luận về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước
- Phân tích, đánh giá và chỉ ra mặt tích cực, hạn chế trong công tác
quản trị nguồn nhân lực của những doanh nghiệp Nhà nước tiến hành
cổ phần hóa
- Xây dựng được hệ thống những quan điểm, giải pháp để hoàn thiện
công tác về quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Nhà nước sau cổ
phần hóa.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Tra cứu, phân tích, tổng hợp tài liệu
- Thực hiện Phỏng vấn trực tiếp, điều tra các chuyên gia, Nhà quản lý,
người lao động thuộc các doanh nghiệp đang tiến hành CPH.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài gồm 3 chương:
quá trình quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con người gắn với
công việc của họ trong bất cứ tổ chức nào.
•Doanh nghiệp Nhà nước
Theo điều 1 luật Doanh nghiệp Nhà nước ngày 26 tháng 11 năm 2003
3
“Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn
bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, được tổ chức dưới hình
thức Công ty Nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty TNHH”.
Khái niệm Công ty Cổ phần
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó:
a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa;
c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;
d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người
khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của
Luật này.
- Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh.
- Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động
vốn.
Cổ phần
Cổ phần là phần chia nhỏ nhất vốn điều lệ của công ty, được thể hiện
dưới hình thức cổ phiếu. Cổ phần là chứng chỉ chứng minh tư cách thành viên
công ty. Người mua cổ phần sẽ trở thành thành viên công ty bất kể họ có tham
gia thành lập công ty hay không. Từ cổ phần phát sinh các quyền và nghĩa vụ
của thành viên. Người ta có thể mua cổ phần bằng tiền, bằng vàng, bằng
ngoại tệ, bằng hiện vật hoặc bằng bản quyền sở hữu công nghiệp. Việc mua
cổ phần bằng tiền để thành lập công ty phải gửi vào một tài khoản phong toả
khác sau khi đã trả hết nợ.
+ Cổ phiếu không ghi danh (chuyển nhượng có điều kiện) màu vàng tím
dùng cho các sáng lập viên, các đối tượng khác theo quy định của pháp luật
5
và điều kiện của công ty. Cổ phiếu ghi danh màu vàng tím khi chuyển nhượng
phải có sự đồng ý của HĐQT.
+ Cổ phiếu vô danh: Là cổ phiếu không ghi tên người chủ sở hữu, được
tự do mua bán, chuyển nhượng, thừa kế nhưng phải được ký vào sổ cổ đông
của công ty.
Cổ phiếu có một giá trị danh nghĩa gọi là mệnh giá cổ phiếu. mệnh giá
cổ phiếu và giá cổ phiếu có thể khác nhau. Mệnh giá cổ phiếu là giá trị được
công ty xác nhận, còn giá cổ phiếu phụ thuộc vào khả năng thực tế của công
ty và các yếu tố thị trường, giá cổ phiếu có thể cao hơn hoặc thấp hơn mệnh
giá cổ phiếu. Cổ phiếu vô danh và ghi danh đều có một loại 1 cổ phần, 2 cổ
phần, 5 cổ phần, 10 cổ phần, 20 cổ phần, 50 cổ phần, 100 cổ phần, 200 cổ
phần, 500 cổ phần, 1000 cổ phần.
Cổ đông
Cổ đông là những người mua cổ phần của công ty, sau mua cổ phần họ
trở thành thành viên của công ty, là những người chủ công ty. Cổ đông có thể
là tổ chức, cá nhân, thường không có sự hạn chế tối đa mà chỉ hạn chế số
lượng tối thiểu. Cổ đông có thể là người Việt Nam ở trong nước hoặc là người
Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài định cư tại Việt Nam.
Cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp của mình.
+Theo điều 4,5,6 của NĐ 64/2002/NĐ-CP quy định:
Nhà đầu tư nước ngoài có nhu cầu mua cổ phần ở các DNNN cổ phần
hoá phải mở tài khoản tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam và tuân thủ theo pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động
mua bán cổ phần, nhận sử dụng cổ tức và các khoản thu khác từ đầu tư mua,
bán cổ phần đều phải thông qua tài khoản này.
phần trong Luật Doanh nghiệp.
7
Từ Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng khoá VII
(6/1992), tiếp theo đó là quyết định số 202/CT(6/1992) của Chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), rồi tới các Nghị định số
28/CP(7/5/1996), 25/CP(23/7/1997), Nghị định 44/CP(29/6/1998), Nghị định số
64/2002/NĐ-CP ngày 19 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ về chuyển DNNN
thành công ty cổ phần. Cổ phần hoá luôn được Đảng và Nhà nước xác định là
việc chuyển các DNNN thành các Công ty cổ phần nhằm thực hiện các mục
tiêu:
• Chuyển một phần sở hữu Nhà nước sang sở hữu hỗn hợp
• Huy động vốn của toàn xã hội
• Tạo điều kiện để người lao động trở thành người chủ thực sự trong
doanh nghiệp
• Thay đổi phương thức quản lý trong doanh nghiệp
Như vậy có thể thấy: so với các nước đã và đang tiến hành CPH trên
thế giới, thì ở nước ta, chủ trương Cổ phần hoá DNNN lại xuất phát từ đường
lối kinh tế và đặc điểm kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay: chúng ta đang
bố trí lại cơ cấu kinh tế và chuyển đổi cơ chế quản lý cho phù hợp với nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản của Nhà nước. Đó là đặc điểm lớn nhất chi phối, quyết định mục đích
nội dung và phương thức Cổ phần hoá DNNN. Vì vậy về thực chất CPH ở
nước ta là nhằm sắp xếp lại DNNN cho hợp lý và hiệu quả, còn việc chuyển
đổi sở hữu của Nhà nước thành sở hữu của các cổ đông trong công ty cổ phần
chỉ là một trong những phương tiện quan trọng để thực hiện mục đích trên.
1.2. Điều kiện và các đối tượng DNNN được phép cổ phần hóa
- Điều kiện DNNN được phép cổ phần hoá: Có đủ điều kiện hạch toán
độc lập, không gây khó khăn hay ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh của
DN và các bộ phận còn lại.
- Đối tượng DNNN cổ phần hoá:
Thứ tư, bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn nhà nước tại DN chuyển
thành cổ phần. Theo đó, Nhà nước không nắm giữ cổ phần của công ty, toàn
bộ sở hữu của Nhà nước ở DN trở thành sở hữu của các cổ đông,trong đó các
cổ đông là người lao động trong công DNNN này.
1.4. Quy trình cổ phần hóa DNNN
Theo các văn bản hiện hành về cổ phần hoá DNNN, kết hợp với kinh
nghiệm thực tiễn chỉ đạo công tác cổ phần hoá các DNNN thuộc bộ Xây
dựng, quy trình cổ phần hóa bao gồm các bước sau:
(1). Hội đồng quản trị tổng công ty quyết định thành lập Ban CPH tổng
công ty.
(2). Tổng công ty, hoặc công ty độc lập trực thuộc bộ, lựa chọn DNNN
cổ phần hoá theo một trong ba hình thức: giữ nguyên giá trị hiện có phát hành
cổ phiếu nhằm thu hút thêm vốn để phát triển DN; hoặc bán một phần giá trị
hiện có của DN hoặc tách một bộ phận của DN đủ điều kiện để cổ phần hoá,
sau đó báo cáo cho bộ bằng văn bản.
(3). Tổ chức tập huấn cho Ban cổ phần hoá và cán bộ, công nhân viên
chức của DNNN cổ phần hoá.
(4). Xử lý các tồn tại về tài chính của DNNN trước khi cổ phần hoá
(5). Giải quyết các văn bản pháp lý về bản đồ địa chính, giấy cấp đất,
giấy phép xây dựng các công trình đã có diện tích đất thuộc khu vực sản xuất
kinh doanh của công ty cổ phần và thuộc phúc lợi tập thể
(6). Lập dự toán chi phí thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp theo quy
định tại Thông tư số 50 TC/ TCDN ngày 30-8-1996 của bộ Tài Chính.
(7). DNNN cổ phân hoá phải tiến hành khoá sổ kế toán và lập Báo cáo
Tài chính của doanh nghiệp đến thời điểm doanh nghiệp cổ phần hoá,
(8). Ban cổ phần hoá DNNN thành lập Ban kiểm kê đánh giá giá trị
doanh nghiệp (hoặc bộ phận) cổ phần hoá, đối chiếu với số liệu sổ kế toán
tính đến thời điểm cổ phần hoá doanh nghiệp
10
(9). Đối với doanh nghiệp lớn, phức tạp, Ban chỉ đạo cổ phần hoá của
Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, cử giám đốc, kế toán trưởng.
(23). Ban cổ phần hoá DN mua cổ phiếu tại Cục kho bạc Nhà nước và
viết chính thức cổ phiếu cho các cổ đông là pháp nhân và thể nhân.
(24). Ban cổ phần hoá DN tổ chức bàn giao tài sản, vốn doanh nghiệp
(hoặc bộ phận) cổ phần hoá từ DNNN sang công ty cổ phần.
(25). Ban cổ phần hoá DN báo cáo Ban chỉ đạo cổ phần hoá của bộ về
biên bản giao nhận tài sản, vốn của doanh nghiệp (hoặc bộ phận) cổ phần hoá
để trình Bộ trưởng quyết định chuyển DNNN thành công ty cổ phần.
(26). Ban chỉ đạo CPH của bộ gửi công văn đề nghị cơ quan công an
cho phép khắc dấu công ty cổ phần và thu hồi dấu cũ của DNNN (nếu có).
(27). Ban chỉ đạo cổ phần hoá của bộ có văn bản gửi sở kế hoạch và
đầu tư, nơi công ty cổ phần đặt trụ sở để đăng ký kinh doanh.
(28). Khai trương hoạt động công ty theo Luật công ty và điều lệ,
phương án của công ty cổ phần đã được đại hội cổ đông nhất trí và bộ duyệt.
Các bước trên đây có mối liên hệ hữu cơ nhưng không nhất thiết phải
tiến hành lần lượt, một số bước có thể tiến hành song song để rút ngắn thời
gian. Quy trình này được xây dựng cho các DNNN thuộc bộ quản lý vì vậy
các DN thuộc địa phương quản lý thì trong quy trình này cấp bộ được thay thế
bằng UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
1.5. Sự cần thiết phải cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước
- Tại sao phải cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước
Một điều dễ nhận thấy nhất là ngay cả trong những điều kiện thuận lợi
thì hiệu quả của doanh nghiệp quốc doanh vẫn thấy hơn nhiều so với mức
trung bình của DN trong khu vực kinh tế tư nhân.
Ở những nước đang phát triển và Đông Âu, các DN quốc doanh hoạt
động có hiệu quả cũng cần được xem xét đến yếu tố cạnh tranh nhằm đáp ứng
12
các yêu cầu của kinh tế thị trường. Do vậy, ở Việt Nam việc sắp xếp và thay
đổi doanh nghiệp Nhà nước là cần thiết, trong đó cổ phần hóa là biện pháp
hữu hiệu nhất, nhằm mục tiêu huy động vốn, khai thác hiệu quả các nguồn lực
chịu trách nhiệm thực hiện. Bộ phận nhân sự cũng sẽ lưu trữ và bảo quản các
hồ sơ nhân viên một cách có hiệu quả, chẳng hạn như các hồ sơ về vắng mặt,
kỷ luật và đánh giá hoàn thành công tác.
1.7.2.Vai trò hỗ trợ lao động
Bao gồm hoạt động:
Giúp nhân viên quản lý khủng hoảng.
Bên cạnh những vấn đề trong công việc như tiền lương, phúc lợi, bảo
hiểm… của người lao động thì bộ phận nhân sự cũng sẽ có vai trò trong việc
tìm hiểu rõ về nhân viên của mình, xem họ có những vướng mắc gì trong quá
trình làm việc hay đang gặp phải khó khăn gì hay không để từ đó có những
chính sách, việc làm giúp cho người lao động cảm thấy thoải mái và làm việc
có hiệu quả hơn. Vai trò này xuất phát từ quan điểm coi người lao động cũng
như những người thân của mình, cùng tạo dựng một DN có tinh thần đoàn
kết, tương thân tương ái với nhau.
Giải đáp mọi thắc mắc và khiếu nại của nhân viên.
Bộ phận nhân sự sẽ có nhiệm vụ giải thích và làm rõ mọi thắc mắc của
người lao động về những trách nhiệm và quyền lợi mà họ được hưởng; giải
quyết những khiếu nại của nhân viên về tiền lương, bảo hiểm, phúc lợi, an
toàn lao động…
1.7.3. Vai trò tác nghiệp
Hoạt động quản trị NNL sẽ xây dựng và triển khai các chương trình,
chính sách về nhân sự như tuyển dụng, đào tạo và phát triển, đánh giá thành
tích và đãi ngộ…Đây là lĩnh vực chuyên môn có tính chất chuyên nghiệp nên
bộ phận nhân sự thực hiện hay cố vấn hoặc đảm trách phần lớn các công việc
14
đó có hiệu quả hơn là các bộ phận khác tự đảm trách. Ít có trường hợp nào
mà các bộ phận khác đảm nhận các công việc này từ A đến Z mà không tham
khảo ý kiến bộ phận nhân sự cung cấp các dịch vụ liên quan đến thủ tục
tuyển mộ và tuyển chọn nhân viên. Ngoài ra, các chương trình đào tạo đều
được bộ phận nhân sự sắp đặt kế hoạch và tổ chức, và thường được các bộ
khi tái cơ cấu, sắp xếp, đổi mới NNL là ban hành, sửa đổi một loạt các văn
bản, chính sách mới phù hợp với doanh nghiệp CPH, nhằm thu hút, tạo động
lực cho người lao động ở lại và cống hiến, cũng bởi từ nay, vai trò của người
lao động đã thay đổi: Họ là người làm chủ doanh nghiệp, vị trí của họ có giá
trị là những cổ phần trong doanh nghiệp.
Làm tốt công tác Quản trị nguồn nhân lực là làm tốt các chính sách đối
với người lao động nhằm hướng dẫn người lao động vào các hoạt động sản
xuất kinh doanh cụ thế: tổ chức NNL hợp lý, khoa học sẽ khai thác triệt để
các yếu tố sản xuất tạo ra lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Vì thế quản trị
NNL là một nội dung quan trọng để thúc đẩy sự phát triển bền vững, lâu dài
của doanh nghiệp.
1.9. Nội dung của quản trị nguồn nhân lực
• Phân tích đánh giá công việc
- Khái niệm:
Phân tích công việc là việc xác định một công việc hoàn chỉnh để thu
thập những thông tin có liên quan đến quản lý, phân tích và tổng hợp những
hoạt động mạng tính nền tảng của việc quản lý nguồn nhân lực. Đây là công
việc cơ bản nhất để thực hiện việc khóa học hóa, thể chế hóa công tác quản lý
trong các doanh nghiệp hiện đại.
16
- Sự cần thiết:
“Đúng người, đúng việc” là một trong những mục tiêu cơ bản của quản
trị nhân sự hiện đại. Nhiệm vụ công tác quá cao hoặc quá thấp đối với năng
lực của mỗi nhân viên đều có thể ảnh hưởng đến công tác của họ. Vì vậy để
mỗi nhân viên phát huy được tối đa và hiệu quả khả năng của mình, nhà quản
trị nhân sự không những phải biết rõ năng lực của mỗi nhân viên mà còn phải
phân tích, xác định nội dung chi tiết của công việc trên cơ sở đó đưa ra yêu
cầu cụ thể của từng vị trí công tác. Bên cạnh đó phân tích công việc cũng góp
phần hỗ trợ cho các hoạt động trong quản trị nhân sự như quy hoạch, tuyển
chọn, bố trí công việc, đánh giá thành tích. Như vậy, phân tích đánh giá công
nhân, kỹ sư, cán bộ, giám đốc Công ty…các tổ chức, đào tạo và nâng cao
trình độ chuyên môn không chỉ có mặt ở các DN, các Công ty mà trong phạm
vi toàn quốc. Thậm chí có nhiều lớp hội thảo có tính chất quốc tế. Vì vậy việc
nâng cao đào tạo trình độ chuyên môn ngày càng trở nên quan trọng đối với
DN nhất là trong điệu kiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và
chuyển đổi nền kinh tế.
• Quản trị tiền lương
Đây là một nội dung có tính quyết định của quản trị NNL vì nó liên
quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động. Một chế độ tiền lương hợp lý
và thúc đẩy nhân viên hoàn thành công việc. Do vậy, xây dựng một chế độ
tiền lương có tính cạnh tranh là điều hết sức quan trọng đối với DN nhằm thu
hút nhân tài, tăng niềm tin của cán bộ nhân viên tạo nền tảng vững chắc cho
DN cạnh tranh nên thương trường.
18
• Quan hệ lao động
Để duy trì nguồn nhân lực trong doanh nghiệp CPH
Quan hệ lao động là quan hệ giữa người với người hình thành trong quá
trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra giá trị vật chất hoặc tinh thần. Như vậy
quan hệ lao động là một yếu tố quan trọng của quản trị nhân lực. Đây là việc
thiết lập mối quan hệ giữa các nhân viên với nhau, giữa cán bộ quản lý, cấp
trên với nhân viên cấp dưới.
Nếu DN xây dựng được sự hợp tác hài hòa, năng động thì sẽ góp phần
xây dựng được nét văn hóa DN đặc trưng. Qua đó khẳng định được vị trí của
DN trên thương trường.
1.10. Điểm khác biệt về công tác Quản trị nhân lực giữa doanh nghiệp
nhà nước và doanh nghiệp cổ phần
• Quản trị nhân lực trong Doanh nghiệp nhà nước
- Cán bộ công nhân viên là người “làm thuê”
Trong DNNN người lao động hoạt động hoàn toàn do ý muốn chủ quan
của cán bộ lãnh đạo. Họ làm việc chỉ để hoàn thành nhiệm vụ được giao,
làm chủ.
Sau khi CPH người lao động không còn đóng vai trò là người làm thuê
như trong DNNN mà họ đã trở thành người làm chủ Công ty. Trên thực tế, tại
thời điểm CPH hầu hết người lao động đều được mua cổ phần. Do đó lợi ích
của họ luôn gắn với sự thành bại của DN và người lao động làm việc với thái
độ trách nhiệm cao hơn. Họ có điều kiện để phát huy năng lực bản thân, qua
đó đóng góp vào sự phát triển chung của DN.
- Vấn đề hiệu quả dưới tác động của cơ chế quản lý
20
Cơ chế quản lý có tính quyết định đến việc hoạch định các chính sách
phát triển của DN nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của DN.
Cơ chế quản lý khác nhau giữa DNNN và DNNN đã cổ phần dẫn đến
hiệu quả sản xuất kinh doanh khác nhau.
Qua các năm ta thấy tỷ suất lợi nhuận trong DNNN đã CPH cao hơn
nhiều trong DNNN (cao hơn gần gấp đôi).
Năm 2011 doanh nghiệp nhà nước đạt 2,351%
Trong khi đó DNNN đã cổ phần đạt 4,721%
Theo kết quả khảo sát 500 doanh nghiệp đã cổ phần hoạt động trên
1 năm thì lợi nhuận của những doanh nghiệp này tăng 263%. Doanh thu tăng
43%
Có thể thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh
hưởng của nhiều nhân tố trong đó cơ chế quản lý có ảnh hưởng quyết định
nhất. Và khi CPH thì cơ chế quản lý của Công ty cổ phần này đã có nhiều
thay đổi. Đặc biệt là sự hình thành HĐQT và người lao động giữ vai trò làm
chủ doanh nghiệp, cơ chế này lại hoạt động linh hoạt thông thoáng hơn và đáp
ứng được yêu cầu của thị trường nên đã có được hiệu quả sản xuất kinh doanh
tốt hơn hẳn DNNN.
Tuy nhiên, trên thực tế một số doanh nghiệp thực hiện CPH vẫn chưa
triệt để, cơ chế quản lý chưa thay đổi nhiều so với khi vẫn còn là DNNN.