Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ những năm đổi mới 1986 đến nay, nước ta đã có nhiều thay đổi, sự phát
triển của Công nghiệp cùng việc đi lên của Thương mại - dịch vụ đã biến Việt
Nam thành đất nước năng động hơn. Tuy nhiên một thực tế không thể phủ nhận
là đến nay, kinh tế nước ta vẫn phụ thuộc nhiều vào nền Nông nghiệp lâu đời,
trong đó chăn nuôi là lĩnh vực không thể thiếu và góp phần quan trọng trong
nông nghiệp Việt Nam. Thói quen chăn nuôi của người dân cũng thay đổi rõ rệt
khi chuyển từ việc chăn nuôi nhỏ lẻ, cho ăn những thức ăn dư thừa, có sẵn sang
chăn nuôi theo quy mô trang trại chuyên nghiệp hóa, với việc sử dụng các thức
ăn được sản xuất riêng cho vật nuôi. Sự phát triển của ngành chăn nuôi cũng kéo
theo sự phát triển của ngành sản xuất – kinh doanh thức ăn gia súc. Và tính đến
nay trên cả nước đã có trên 500 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Sự
cạnh tranh ngày càng lớn buộc các doanh nghiêp phải hoàn thiện các chiến lược,
chính sách của mình, cải tiến sản phẩm cũng như đưa ra những giải pháp nhằm
đáp ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng.
Công ty TNHH Lạc Hồng cũng không ngoại lệ, đã có 10 năm kinh nghiệm
trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi nhưng với sự thay đổi nhanh chóng của thị
trường cũng như khoa học công nghệ thì công ty cũng cần có những bước đi
mới để có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Nhu cầu của khách hàng luôn thay
đổi cùng với những diễn biến khó lường của thị trường thì một vấn đề không chỉ
của Lạc Hồng là cần có hệ thống nghiên cứu Marketing hoàn chỉnh, nắm bắt
được mọi thông tin của môi trường.
SV: Nguyễn Tiến Phúc 1
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Qua quá trình thực tập tại phòng kinh doanh của công ty TNHH Lạc Hồng
em đã có được nhiều thông tin, cũng như đánh giá về công ty. Chính vì thế em
xin chọn đề tài: Hoàn thiện hệ thống nghiên cứu Marketing nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh đối với công ty TNHH Lạc Hồng, làm đề tài xây dựng
luận văn của mình.
hệ thống và logic.
Phần I
SV: Nguyễn Tiến Phúc 3
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIÊN CỨU MARKETING ĐỐI VỚI
VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1. NGHIÊN CỨU MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1.1. Khái quát về nghiên cứu Marketing
1.1.1.1. Khái niệm
Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó các cá nhân và tập
thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và
trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.
Nghiên cứu Marketing là một quá trình thu thập và phân tích có hệ thống các dữ
liệu về các vấn đề liên quan đến các hoạt động Marketing về hàng hóa và dịch
vụ.
1.1.1.2. Vai trò
Nghiên cứu Marketing giúp các nhà lãnh đạo nắm bắt được những thông tin thị
trường và khách hàng đầy đủ và chính xác nhất. điều đó giúp cho các quyết định
quản trị có tính khả thi hơn.
Nghiên cứu Marketing là căn cứ để xác lập các chiến lược Marketing cũng như
xây dựng cá giải pháp và nỗ lực Marketing cho doanh nghiệp
Nghiên cứu Marketing đảm bảo cho các nhà quản trị phản ứng linh
hoạt và chính xác trước nhưng biến động của môi trường.
Nghiên cứu Markeing là loại hình nghiên cứu ứng dụng, nó làm gia tăng tính
thực tiễn và khả năng thích ứng của mọi hoạt động kinh doanh với những điều
kiên cụ thể của doanh nghiệp và những vấn đề đặt ra từ phía thị trường.
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng
Các nhân tố bên trong
Để hoạt động marketing thành công, bộ phận marketing của công ty đã
thu thập và xử lý thông tin cũng vô cùng quan trọng. Chất lượng nguồn nhân lực
quyết định chất lượng thông tin thu thập được.
Sản phẩm của công ty: Do đặc điểm sản phẩm của doanh nghiệp có tính
phân hóa theo lãnh thổ địa lý nên việc thu thập thông tin phải nghiên cứu vấn đề
này trong việc là hiệu quả sử dụng không bộc lộ ngay khi sử dụng, nó có ảnh
hưởng lớn tới quá trình xây dựng và quản trị hệ thống kênh phân phối của công
ty.Công ty cần phải chú trọng và quan tâm đên việc xây dựng hệ thống kho tàng
của các đại lý đủ các tiêu chuẩn giữ ẩm, dung tích Việc lựa chọn vị trí địa lý
và khí hậu cũng cần đặc biệt quan tâm để tránh những yếu tố bất ngờ.
Các nhân tố bên ngoài
Ngoài các nhân tố thuộc môi trường nội bộ của công ty thì các nhân tố khác
thuộc môi trường kinh doanh ngoài công ty cũng có những ảnh hưởng rất lớn tới
việc hoàn thiên hệ thống Nghiên cứu Marketing. Các nhân tố này bao gồm cả
các nhân tố thuộc môi trường Marketing vĩ mô và môi trường marketing vi mô.
Môi trường nhân khẩu học: Những nhân tố thuộc môi trường nhân khẩu
học luôn là mối quan tâm của các nhà quản trị Marketing, nó ảnh hưởng trực tiếp
tới đối tượng và khu vực của khách hàng. Chính vì vậy nó cũng ảnh hưởng tới
việc lựa chọn địa điểm tiến hành nghiên cứu Marketing. Do đặc thù của công ty
là sản phẩm sản xuất phục vụ cho đối tượng là những người chăn nuôi ở nông
thôn, do đó các địa bàn hoạt động sẽ tập trung vào những khu vực dân cư hoạt
động trong lĩnh vực nông nghiệp tức là chủ yếu là vùng nông thôn Việt Nam do
đó việc tiến hành nghiên cứu Marketing của công ty tập trung vào những khu
vực này là chủ yếu, ở các thành phố hay thị xã chủ yếu chỉ có các đại lý giới
thiệu sản phẩm và số lượng các đại lý này cũng rất hạn chế.
SV: Nguyễn Tiến Phúc 6
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Môi trường kinh tế: Sự phát triển hay suy thoái của nền kinh tế có tác
động tới mọi thành viên hoạt động trong nó, vì vậy nó cũng ảnh hưởng tới mục
tiêu Nghiên cứu Marketing. Hiện nay tình hình kinh tế nước ta và thế giới có thể
nói là vẫn chưa phục hồi sau suy thoái, giá cả các loại gia súc – gia cầm giảm,
cần thiết hay không mà nó còn được xem xét trên phạm vi của nó như thế nào.
Để lựa chọn được những vấn đề nghiên cứu thật sự thích hợp cho một cuộc
nghiên cứu marketing cụ thể thị thường người ta phải tính đến các yếu tố là khả
năng ngân sách dự định dành cho cuộc nghiên cứu đó, thời gian để tiến hành
nghiên cứu, trình độ, khả năng của những người tiến hành nghiên cứu và cuối
cùng là khả năng có được những thông tin cần thiết có liên quan đến việc nghiên
cứu.
Để xác định được vấn đề trong cuộc nghiên cứu thì đòi hỏi phải sử dụng
những phương pháp cụ thể để tiến hành tiếp cận và lựa chọn chúng. Do đó
chúng ta sẽ sử dụng các cách tiếp cận là sử dụng phương pháp hình phễu, phân
tích hoàn cảnh, tình huống và thực hiện điều tra sơ bộ.
Phương pháp hình phễu là một quá trình phân tích gồm nhiều bước công
việc kế tiếp nhau. Thoạt đầu người nghiên cứu chú ý đến một phạm vi đề tài
rộng lớn đang có những dấu hiệu bất thường, nổi cộm trong kinh doanh. Sau đó
sẽ thu hẹp dần chúng lại để có thể tìm được những vấn đề cốt lõi nhất và tăng
dần mức độ quản lý đối với chúng. Như vậy, phương pháp hình phễu là quá
trình loại trừ dần những cái không phải là vấn đề hay là những vấn đề không
không quan trọng, không cấp thiết ra khỏi tổng số những khả năng có thể xảy ra
SV: Nguyễn Tiến Phúc 8
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
trước một tình huống của công ty để lựa chọn đúng được vấn đề quan tâm. Với
việc sử dụng phương pháp hình phễu như vậy sẽ giúp cho nhà nghiên cứu tránh
được khả năng chọn nhầm hay bỏ sót vấn đề, đảm bảo một độ an toàn tin cậy
cho sự lựa chọn của mình.
Song hành với phương pháp hình phễu đó là việc phân tích tình huống và
điều tra sơ bộ. Đây là những phương pháp cụ thể thuộc loại hình nghiên cứu
thăm dò dùng để phát hiện vấn đề. Thực hiện phân tích tình huống có nghĩa là
các nhà nghiên cứu tiến hành quan sát, theo dõi và tìm hiểu một cách liên tục
những tình hình hoạt động kinh doanh chung của toàn công ty và những biến đổi
thị trường để phát hiện ra những tình huống có vấn đề, từ đó đưa ra các giả
tình hình và cách thức giải quyết thì sẽ loại bỏ chúng ra. Chính vì vậy, sau khi
đã xem xét và sàng lọc các vấn đề nghiên cứu đang đứng trước công ty thì công
ty đã lựa chọn mục tiêu nghiên cứu về sự nhận biết của người tiêu dùng, một
khía cạnh mà hiện này công ty dường như không có một ít thông tin gì về nó.
.
1.1.2.2. Thu thập thông tin nghiên cứu
Sau khi đã xác định được vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phạm
vi nghiên cứu thì công việc tiếp theo của người làm nghiên cứu là phải xác định
được những dạng và nguồn dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu. Trong cuộc
SV: Nguyễn Tiến Phúc 10
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
nghiên cứu này, những dữ liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu gồm hai dạng,
đó là những dữ liệu thứ cấp và những dữ liệu sơ cấp.
Việc thu thập dữ liệu thứ cấp
Việc thu thập dữ liệu thứ cấp đơn giản hơn rất nhiều so với việc thu thập dữ
liệu sơ cấp. Nó có thể được thu thập từ những sổ sách của lực lượng bán hàng,
của các phòng ban khác trong công ty. Ngoài ra, dữ liệu thứ cấp còn có thể thu
thập từ bên ngoài từ những ấn phẩm, những báo cáo thống kê hay từ những cơ
sở dữ liệu trên các đĩa CD-ROM…Những dữ liệu thứ cấp thu thập một mặt tạo
cho người làm nghiên cứu có những thuận lợi như dễ tìm kiếm, chi phí cho việc
thu thập dữ liệu thứ cấp ít hơn rất nhiều so với việc thu thập dữ liệu sơ cấp,
những thông tin mà dữ liệu thứ cấp mang lại có thể dùng ngay vào một mục tiêu
cụ thể nào đó mà không cần phải tốn nhiều thời gian, và dữ liệu thứ cấp cũng
phần nào làm tăng hiệu quả của những thông tin, dữ liệu sơ cấp mà người làm
nghiên cứu thu thập được, nhưng mặt khác, việc thu thập dữ liệu thứ cấp cũng
tạo ra những khó khăn cho người làm nghiên cứu vì có thể những đơn vị đo
lường của dữ liệu là không phù hợp với cuộc nghiên cứu, hay những khái niệm
phân chia, phân loại của dữ liệu là không phù hợp với người làm nghiên cứu,
hoặc đó cũng có thể là những tài liệu được thu thập gián tiếp thông qua những
tài liệu khác( hay đó là tài liệu được tìm thấy trong lần nghiên cứu thứ hai).
pháp phỏng vấn cá nhân trực tiếp vì phương pháp này cho phép người phỏng
vấn có thể thu được lượng thông tin một cách tối đa bởi vì người phỏng vấn có
thế đặt ra những câu hỏi không theo những khuôn mẫu có trước. Nó có thể được
SV: Nguyễn Tiến Phúc 12
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
sử dụng một cách có hiệu quả để nắm bắt được những phản ứng của người được
phỏng vấn về những bức tranh, sản phẩm hoặc những mẫu vật. Đồng thời nó
cũng cho phép người phỏng vấn hợp lý hoá những câu trả lời bằng cách quan sát
hoặc thăm dò liên tiếp đối tượng được phỏng vấn.
Tuy nhiên phương pháp này cũng có những hạn chế nhất định như đó là
một dạng phỏng vấn có chi phí cao vì để có thể tiến hành phỏng vấn thì công ty
cần phải có những đầu tư về đào tạo trình độ, kỹ năng cho những người tiến
hành phỏng vấn, những chi phí cho việc đi lại của những người tham gia phỏng
vấn. Mặt khác, kết quả của phỏng vấn cá nhân trực tiếp chịu ảnh hưởng rất lớn
từ người đi phỏng vấn. Trong khi cố gắng gây ấn tượng với người phỏng vấn,
người được phỏng vấn có thể sẽ đưa ra những câu trả lời hoàn toàn không chân
thật. Hơn nữa, những quan tâm cá nhân và quan điểm của người phỏng vấn có
thể đưa họ đến việc giải thích câu trả lời khác đi.
Nhìn chung, một cuộc nghiên cứu riêng lẻ chính thức không bị giới hạn
trong một phương pháp nghiên cứu duy nhất nào đó. Vì thế, vấn đề đặt ra ở đây
là chỉ nên dùng một dạng hay kết hợp nhiều dạng nghiên cứu phỏng vấn với
nhau. Người ta thường kết hợp giữa phỏng vấn qua điện thoại với phỏng vấn
qua thư tín hoặc cũng có thể kết hợp giữa phỏng vấn qua điện thoại với phỏng
vấn trực tiếp nhưng do điều kiện về mặt thời gian cũng như những điều kiện về
mặt chi phí cho cuộc nghiên cứu bị hạn chế cho nên người tiến hành cuộc
nghiên cứu này chỉ kết hợp giữa phỏng vấn cá nhân trực tiếp với phương pháp
nghiên cứu quan sát.
1.1.2.3. Thiết kế bảng hỏi trong nghiên cứu Marketing
SV: Nguyễn Tiến Phúc 13
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
quan tâm. Hơn nữa, nhà nghiên cứu cố gắng giảm đến mức tối thiểu sự thiên về
một khuynh hướng, hoặc khả năng biết sẵn các câu trả lời của câu hỏi do cách
hỏi hoặc cách sắp xếp câu hỏi tạo ra.
Cần phải lưu ý rằng việc soạn thảo và đánh giá các câu hỏi là những công
việc đan xem tiếp nối với nhau và được lặp đi lặp lại một cách liên tục và nhiều
lần. Nói cách khác, các câu hỏi phải trải qua một chuỗi các phác thảo và có rất
nhiều các bản thảo về chúng trước khi được chấp nhận ở dạng cuối cùng. Chỉ có
cách hành động như vậy mới có hy vọng thiết lập được các câu hỏi như mong
muốn.
1.1.2.4. Chọn mẫu trong nghiên cứu Marketing
Chọn mẫu trong Nghiên cứu Marketing là việc phát hiện một số phần tử
của tổng thể để đưa xác định bộ phận đại diện của tổng thể. Trên cơ sở đó,
nhũng nghiên cứu sẽ được tiến hành trên mẫu nhằm đưa ra những kết luận về
tỏng thể. Như vậy, tính đại diện của mẫu có ảnh hưởng trực tiếp tới độ chính xác
của các đặc điểm dự đoán của tổng thể.
1.1.2.5. Phân tích và xử lý thông tin
Quá trình phân tích và xử lý dữ liệu được bắt đầu ngay sau khi các dữ liệu
đã được thu thập đầy đủ và được tiến hành trên phần mềm phân tích dữ liệu
thống kê SPSS. Quá trình này bao gồm nhiều bước khác nhau:
SV: Nguyễn Tiến Phúc 15
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Thứ nhất: Đó là việc đánh giá giá trị của những dữ liệu thu được. Trong
bước này, người ta tiến hành xem xét một cách sâu sắc và chi tiết các phương
pháp thu thập và các biện pháp kiểm tra đã được sử dụng trong quá trình thu
thập dữ liệu. Ngoài ra, người làm nghiên cứu còn tiến hành thực hiện việc xem
xét kỹ lưỡng các bảng hỏi đã hoàn thành trong cuộc điều tra phỏng vấn để phát
hiện những sai sót và những nguyên nhân dẫn đến những sai sót đó.
Thứ hai: Người làm nghiên cứu tiến hành biên tập( hiệu chỉnh) các dữ liệu
đã thu thập được. Trong bước này, trước hết những người làm nghiên cứu tiến
hành biên tập lại những hồ sơ, nhằm hoàn thiện các bản ghi chép ban đầu bằng
kiếm một công cụ cạnh tranh để duy trì vị thế trên thị trường. Cạnh tranh tồn tại
vì công ty luôn tìm kiếm cho mình một chỗ đứng cao hơn trên thị trường, cố
gắng tạo lên tính độc đáo riêng cả mình. Mục tiêu của cạnh tranh là tạo lập cho
công ty một lợi thế riêng biệt cho phép công ty có một mũi nhọn hơn hẳn đối thủ
cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh công ty theo đuổi. Sự tìm kiếm không bao
giờ ngừng này đã tạo ra động lực cho cạnh tranh và chính họ tạo ra sự tiến bộ
trong đời sống con người.
Mặt khác, một trong những nguồn tạo ra lợi thế cạnh tranh là những hoạt
động Marketing. Trên thực tế, tùy nhận thức, tùy ngành, tùy thời điểm khác
nhau đối với các công cụ đó mà có các định nghĩa khác nhau về cạnh tranh.
Theo quan điểm Marketing, cạnh tranh được định nghĩa:
“Cạnh tranh là việc đưa ra những chiến thuật, chiến lược phù hợp với tiềm lực
của doanh nghiệp, xử lý tốt các chiến lược, chiến thuật của đối thủ, giành được
lợi thế trong kinh doanh hàng hoá và dịch vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận”.
SV: Nguyễn Tiến Phúc 17
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Như vậy, theo quan điểm của Marketing cạnh tranh là việc đưa ra những
biện pháp Marketing phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, phản ứng kịp thời
với những biến đổi của thị trường và đối thủ nhằm mục đích nâng cao khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Sự đa dạng của hàng
hoá trong nền kinh tế thị trường càng làm cho cạnh tranh cạnh tranh trở nên
khốc liệt. Quy luật cạnh tranh sẽ lần lượt đào thải các doanh nghiệp kinh doanh
yếu kém. Đồng thời nó buộc các doanh nghiệp phải tự vận động tạo ra cho
doanh nghiệp một lợi thế so với đối thủ để tồn tại và phát triển.
1.2.2. Vai trò của năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp sản xuất
Cạnh tranh thúc đẩy quá trình sản xuất, kinh doanh, đem lại cho xã hội
những sản phẩm có chất lượng cao nhất, sàng lọc các đối thủ kinh doanh kém
hiệu quả, tạo ra sự phát triển cho xã hội, mang lại sự thoả mãn những nhu cầu và
mong muốn của con người một cách tốt nhất. Mặt khác, cạnh tranh giúp các
doanh nghiệp tự hoàn thiện mình, luôn có sự chủ động sáng tạo, phát triển để
Công ty TNHH Lạc Hồng nằm trong khu công nghiệp Phố Nối, xã Nhân
Hòa, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
SV: Nguyễn Tiến Phúc 19
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Mã số thuế: 0900214283 Điện thoại: +84-0321-395214
Số máy Fax: +84-0321-395214.
Đây có thể coi là trung tâm của miền Bắc giao thông phục vụ cho vận
chuyển hàng hóa tương đối thuận lợi. Đường 5 nối Hải Dương, Hải Phòng…
giúp cho việc vận chuyển hàng hóa ra các tỉnh Bắc Giang, Hải Dương… vào các
tỉnh Thái Bình, Nam Định tương đối dễ dàng. Thức ăn chăn nuôi là mặt hàng
tiêu thụ hàng ngày nên nhu cầu diễn ra liên tục, có giao thông thuân lợi sẽ giúp
Lạc Hồng dễ dàng tiếp cân các vùng có tiềm năm, chiếm lĩnh cơ hội của thị
trường.
Nằm trên khu đất rộng 15.000m2 tại khu công nghiệp Phố Nối A, Công ty
TNHH Lạc Hồng gồm bốn khu nhà chính là: khu nhà sản xuất nằm trong cùng,
tiếp đến là khu nhà kho, khu nhà văn phòng và ngoài cùng là khu nhà kho bao
bì. Trong thời gian tới nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường ngày càng tăng, Lạc
Hồng đã có kế hoạch mở rộng quy mô công ty sang phần đất đối diện rộng
25.000m2. Điều đó cho thấy rằng công việc kinh doanh của công ty vẫn đang
phát triển tốt mặc cho trong thời gian qua kinh tế thế giới nói chung và kinh tế
Việt Nam nói riêng gặp không ít khó khăn.
Ngày 27/02/2003 Công ty TNHH Lạc Hồng được thành lập bởi: ông Hoàng
Dương Hải, ông Lê Hoàng Long, bà Tân Thị Quỳnh mà nay làn lượt đang là:
Tổng giám đốc, Giám đốc kinh doanh, Giám đốc hành chính nhân sự. Trong
quãng thới gian 10 năm tồn tại và phát triển của mình, Lạc Hồng đã trải qua
không ít khó khăn. Tuy nhiên với bản lĩnh của những người thành lập cùng nỗ
lực của toàn bộ nhân viên thì cho đến ngày hôm nay đã mang lại cho công ty rất
nhiều thành công nổi bật như: có được đội ngũ 102 nhân viên luôn hết lòng vì
SV: Nguyễn Tiến Phúc 20
Tổng Giám Đốc
Đương nhiệm: Ông Hoàng Dương Hải
Giám đốc hành chính nhân sự
Là người điều hành các hoạt động của phòng hành chính - nhân sự. Chịu
trách nhiêm về mọi hoạt động của phòng cũng như báo cáo với Tổng giám đốc
những hoạt động của phòng.
Bộ phận hành chính: Dự toán các khoản thu - chi của doanh nghiệp từ đó có
chiến lược chuẩn bị nguồn tài chính, chủ động trước cơ hội. Có nhiệm vụ lập
báo cáo về tình hình tài chính của Công ty, kiểm tra các khoản thu, chi trong
doanh nghiệp.
Bộ phận nhân sự: Có nhiêm vụ tổ chức nhân sự, thực hiện các chế độ chính
sách do nhà nước ban hành, thực hiện các chính sách đối với người lao động và
xây dựng kế hoạch tuyển dụng, tuyển chọn, đào tạo nghiệp vụ chuyên môn cho
các bộ phân trong Trung tâm. Phòng nhân sự còn dự doán nguồn nhân lực trong
tương lai, tổ chức phân bổ nguồn nhân lực hợp lý, sắp xếp, bố trí nhân viên vào
vị trí thích hợp nhằm phát huy điểm mạnh cá nhân, tạo được kết quả cao nhất
trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Đương nhiệm Giám đốc hành chính nhân sự: Bà Tân Thị Quỳnh
Giám đốc sản xuất
Là người điều hành mọi hoạt động của phòng sản xuất. Chịu trách nhiêm
về mọi hoạt động của phòng cũng như báo cáo với Tổng giám đốc những hoạt
động của phòng.
Bộ phận phụ trách nguyên liệu: Quản lý tình hình nguyên liệu sản xuất của
công ty. Lựa chọn nguồn cung cấp, dự toán số lượng nguyên liệu cần cho tương
lai, phối hợp cùng giám đốc sản xuất đưa ra các chiến lược họp lý cho kinh
doanh.
SV: Nguyễn Tiến Phúc 22
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Bộ phận sản xuất: Quản lý việc sản xuất sản phẩm, đảm bảo về số lượng và
chất lượng. Nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu khách
hàng. Phối hợp cùng phòng kinh doanh để cùng tìm hiểu những nhu cầu của
kinh doanh về các quyết định của mình, báo cáo với cấp trên về tình hình kinh
doanh của bộ phận. Phối hợp với cấp trên và các bộ phận khác để cùng thực hiên
chiến lược kinh doanh đã đề ra hướng tới mục tiêu chung.
2.1.3. Sản phẩm của công ty TNHH Lạc Hồng
Lạc Hồng là doanh nghiệp hàng đầu chuyên nghiên cứu, và phát triển dinh
dưỡng vật nuôi. Với đội ngũ chuyên gia giàu kinh nghiệm, cùng hệ thống dây
truyền thiết bị sản xuất thức ăn chăn nuôi tiên tiến nhất hiện nay, doanh nghiệp
luôn đi đầu trong quá trình cải tiến sản phẩm nâng cao chất lượng sản phẩm giúp
tăng năng suất vật nuôi. Bằng việc sử dụng phần mềm tổ hợp dinh dưỡng tiên
tiến nhất của Hoa Kỳ và hệ thống quản lý tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, Công ty
đã cung cấp trên thị trường nhiều sản phẩm thức ăn chất lượng cao cho Gia súc,
gia cầm, thủy cầm… mang nhãn hiệu SEVEN. GOOD FEED. THIÊN LONG.
Với tiêu chí: Tăng năng suất – giảm chi phí và tạo ra sản phẩm sạch. Trên cơ sở
nghiên cứu thị trường về nhu cầu sản phẩm cùng với nghiên cứu tiềm lực của
công ty, Lạc Hồng đă có chiến lược đầu tư vào các mặt hàng thức ăn chăn nuôi
đa dạng.
SV: Nguyễn Tiến Phúc 24
Luận văn tốt nghiệp Học Viện Tài Chính
Hình 2: Sản phẩm cám đậm đặc D99 và cám hỗn hợp F25 thương hiệu
Seven của công ty TNHH Lạc Hồng
Phân loại theo gia súc – gia cầm
• Thức ăn cho lợn: Hỗn hợp cho lợn siêu nạc, hỗn hợp cho lợn nái, hỗn hợp
cho lợn thịt, đậm đặc cao cấp cho lợn.
• Thức ăn cho gà: Đậm đặc cao cấp cho gà, hỗn hợp cho gà thịt, hỗn hợp cho
gà đẻ.
• Thức ăn cho gan, vịt: Hỗn hợp cho ngan, vịt thit; hỗn hợp cho ngan, vịt đẻ.
• Thức ăn cho cút: Hỗn hợp cho cút đẻ.
Phân theo hình thức sản phẩm
Cũng như bất cứ sản phẩm nào, những nhà sản xuất luôn đa dạng hoá sản