luận văn quản trị marketing Các giải pháp Marketing nhằm bảo vệ và phát triển thị trường cho Công ty TNHH Việt Tường - Pdf 27

Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải xuất phát từ yêu cầu của
thị trường, nhằm trả lời được 3 câu hỏi: “Cái gì? Như thế nào? Và cho ai?”.
Thị trường vừa được coi là điểm xuất phát cũng vừa là điểm kết thúc của quá
trình sản xuất kinh doanh, là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng. Có thể nói
một doanh nghiệp chỉ làm ăn có hiệu quả khi nó xuất phát từ thị trường, tận
dụng một cách năng động, linh hoạt những cơ hội trên thị trường. Hay nói
cách khác, thông qua thị trường, sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp được
tiêu thụ, giúp cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được diễn
ra một cách liên tục trên cơ sở thực hiện được các mục tiêu đã đề ra. Vì thế
bảo vệ và phát triển thị trường được coi là một trong những nhiệm vụ cơ bản
và lâu dài của doanh nghiệp, đặc biệt trong quá trình hội nhập của nền kinh tế
đất nước với nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên hoạt động trong cơ chế thị trường
cũng đồng nghĩa với việc phải luôn luôn đối mặt với các rủi ro thách thức
trong quá trình cạnh tranh khốc liệt. Để phát triển thị trường một cách có hiệu
quả, trước hết doanh nghiệp cần nâng cao khả năng cạnh tranh, khả năng nhận
thức về thị trường. Tiếp đó doanh nghiệp cần phải tiến hành nghiên cứu môi
trường và khách hàng, sử dụng các thông tin, dữ liệu đó để phán đoán thị
trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị sản phẩm, lập kế hoạch chiến
lược kinh doanh, kế hoạch bảo vệ thị trường đã có, chiếm lĩnh thị trường mới.
Sau cùng là triển khai thực hiện kế hoạch thông qua 4 công cụ: sản phẩm, giá
cả, phân phối và xúc tiến hỗn hợp.
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu chăm sóc sắc đẹp của con người
cũng phát triển theo và trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc
sống. Ngày nay, nhu cầu làm đẹp không chỉ là mối quan tâm của riêng các chị
em gái mà còn là mong muốn của “đấng mày râu” và của cả gia đình nói
Sinh viên: Dương Đình Tiến 1 Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
chung, từ lớp trẻ đến những người trung niên cũng cần phải giữ gìn nhan sắc

cùng một nhu cầu và mong muốn cụ thể, có khả năng tham gia vào trao đổi và
giao dịch để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của mình”.
Theo cách hiểu này, thị trường được xem xét theo nhu cầu của từng sản
phẩm cụ thể. Quy mô của thị trường được quyết định bởi số lượng khách
hàng của từng sản phẩm đó. Các nhà kinh doanh khi nghiên cứu thị trường họ
quan tâm tới những người có cùng một mong muốn và có khả năng tham gia
vào trao đổi sản phẩm mà họ kinh doanh.
Trên thị trường xuất hiện hai chủ thể là người bán và người mua. Nhà
kinh doanh có thể xuất hiện với cả hai tư cách này. Song từ góc độ của
Marketing thị trường nhà kinh doanh sản xuất ra sản phẩm tập hợp thành nhà
cung ứng hàng hóa, còn tập hợp người mua chính là thị trường của doanh
nghiệp.
1.1.2.Vai trò của thị trường.
Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp góp phần vào việc thoả
mãn các nhu cầu của thị trường, kích thích sự ra đời của các nhu cầu mới và
nâng cao chất lượng nhu cầu Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, thị trường
có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Thị trường vừa là động lực, vừa là điều kiện và vừa là thước đo
Sinh viên: Dương Đình Tiến 3 Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
kết quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
* Là động lực: thị trường đặt ra các nhu cầu tiêu dùng, buộc các doanh
nghiệp nếu muốn tồn tại được phải luôn nắm bắt các nhu cầu đó, sản xuất
kinh doanh theo các nhu cầu đó và định hướng mục tiêu hoạt động cũng phải
xuất phát từ những nhu cầu đó. Ngày nay mức sống của người dân được tăng
lên rõ rệt do đó khả năng thanh toán của họ cũng cao hơn, nhu cầu nhiều hơn
nhưng lại khắt khe hơn. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất kinh doanh thay
nhau ra đời cạnh tranh dành giật khách hàng một cách gay gắt bởi vì thị
trường có chấp nhận thì doanh nghiệp mới tồn tại được nếu ngược lại sẽ bị
phá sản. Vậy thị trường là động lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

triển của thị trường, đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: quan hệ
cung - cầu trên thị trường, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, thu nhập bình
quân trên đầu người, lãi suất ngân hàng, cán cân thanh toán, chính sách tài
chính, tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái…
Tốc độ phát triển của nền kinh tế, xu hướng GDP, tỷ lệ lạm phát ảnh
hưởng trực tiếp đến sức mua của thị trường từ đó tác động đến đặc điểm mua
hàng của người dân. Kinh tế phát triển, thu nhập tăng làm quy mô thị trường
tăng. Mức độ thu nhập bình quân trong từng thời kỳ của các tầng lớp dân cư
trong toàn quốc cũng làm ảnh hưởng tới thị trường vì thu nhập tăng hay giảm
làm ảnh hưởng tới sức mua của người tiêu dùng. Khi thu nhập tăng, khả năng
thanh toán của người tiêu dùng được đảm bảo thì thị trường tiêu thụ sản phẩm
sẽ có cơ hội mở rộng thị trường và phát triển.
Lãi suất ngân hàng cũng ảnh hưởng đến thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Nếu mức lãi suất cao, người dân sẽ thu hẹp tiêu dùng, làm cho thị trường tiêu
thụ co lại. Nhưng nếu mức lãi suất thấp sẽ khuyến khích người dân tiêu dùng,
kích thích tiêu thụ sản phẩm. Các doanh nghiệp cần phải dựa vào tình hình
biến động trên nhằm đưa ra các giải pháp tối ưu để tăng tiêu thụ sản phẩm.
b. Nhân tố nhân khẩu học
Sinh viên: Dương Đình Tiến 5 Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
Các yếu tố thuộc môi trường nhân khẩu học tác động đến thị trường
bao gồm quy mô và mật độ dân số, sự phân bố dân cư, tốc độ tăng dân số, độ
tuổi, giới tính, sắc tộc, nghề nghiệp.
Quy mô và tốc độ tăng dân số là yếu tố quyết định quy mô của thị
trường hiện tại và tương lai. Nghiên cứu dân số theo độ tuổi, giới tính giúp
công ty biết được cơ cấu khách hàng theo độ tuổi cũng như hành vi khách
hàng ở các độ tuổi, giới tính khác nhau.
Sự đô thị hóa và phân bố dân cư buộc các hoạt động Marketing cần
nhanh chóng hướng vào các khu dân cư mới, một vùng thị trường tiềm năng
hấp dẫn cho nhiều doanh nghiệp.

những nơi mà tình hình chính trị ổn định. Vì ở đó tạo môi trường thuận lợi đối
với các hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về đầu tư, về quyền sở hữu …
e. Nhân tố thuộc về tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên (khí hậu, đất
đai, nguyên vật liệu, năng lượng dùng cho sản xuất ) ảnh hưởng nhiều mặt
tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các doanh nghiệp và do vậy chúng ta
có thể gây biến động lớn trên thị trường. Sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu thô,
sự gia tăng chi phí năng lượng, sự cạn kiệt những nguyên liệu không phục hồi
như dầu mỏ, than đá, các loại khoáng sản khác ngày càng trở nên nghiêm
trọng. Xu thế chung đòi hỏi các doanh nghiệp phải tìm kiếm, nghiên cứu sử
dụng các nguồn năng lượng thay thế.
Hoạt động công nghiệp hầu như bao giờ cũng gây tổn hại cho môi
trường. Ngày nay ý thức bảo vệ môi trường của người dân đang lên cao nên
đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo ra những sản phẩm có độ an toàn cao về
sinh học và môi trường, mặc dù giá cả có tăng lên nhưng người tiêu dùng vẫn
chấp nhận, thị trường về các sản phẩm mạnh nhiều chất độc hại tới môi
trường qua đó thu hẹp lại và thị trường công nghệ xử lý các chất thải được mở
rộng hơn.
Sinh viên: Dương Đình Tiến 7 Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
f. Nhân tố công nghệ.
Mức độ tăng trưởng kinh tế của các nước đang phát triển bị chi phối
bởi các công nghệ hiện đại một cách mãnh liệt. Các nước phát triển có trình
độ công nghệ hiện đại cao, trái lại các nước đang phát triển thì lại phải sử
dụng những công nghệ đã lạc hậu, thị trường cũ kỹ, tốn kém nguyên nhiên
liệu. Vì vậy, công nghệ được xem là vấn đề quan trọng trong sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia.
Đối với các doanh nghiệp, các yếu tố công nghệ như quyền công nghệ,
đổi mới công nghệ, bí quyết công nghệ, chuyển giao công nghệ đều có thể
vừa là cơ hội, vừa là nguy cơ cần phải được quan tâm xem xét đúng mức.

được các đối thủ cạnh tranh của mình là điều kiện hết sức quan trọng trong
việc mở rộng thị trường. Bởi chỉ có hiểu rõ đối thủ cạnh tranh, nhận thức
được đâu là điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ thì mới có khả năng giành
thắng lợi trên thị trường của đối thủ. Các doanh nghiệp cần biết 5 vấn đề về
các đối thủ cạnh tranh. Nhưng ai là đối thủ cạnh tranh của Doanh nghiệp?
Chiến lược của họ như thế nào? Mục tiêu của học là gì? Những điểm mạnh và
điểm yếu của họ là gì? Cách thức phản ứng của họ ra sao? Doanh nghiệp cần
biết các chiến lược của từng đối thủ cạnh tranh để phát hiện ra những đối thủ
cạnh tranh gần nhất và có những bước đi phù hợp. Doanh nghiệp cần phải biết
những mục tiêu của đối thủ cạnh tranh để dự đoán những biện pháp và những
phản ứng sắp tới. Khi biết được những mặt mạnh và mặt yếu của đối thủ cạnh
tranh, doanh nghiệp có thể hoàn thiện chiến lược của mình để giành ưu thế
trước những hạn chế của đối thủ cạnh tranh, xâm nhập vào những thị trường
mà đối thủ cạnh tranh còn kém lợi thế và tránh xâm nhập vào những thị
trường mà đối thủ cạnh tranh mạnh. Biết được các phản ứng điển hình của đối
thủ cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp xác định thời gian thực hiện các biện
pháp nhằm mở rộng và phát triển thị trường.
Sinh viên: Dương Đình Tiến 9 Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
c. Nhà cung ứng
Để có thể ổn định và phát triển thị trường, không thể không quan tâm
đến vai trò của các nhà cung ứng. Nhà cung ứng là người cung cấp nguồn
hàng, nguồn nguyên vật liệu các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
phụ thuộc nhiều vào các nhà cung ứng. Vì vậy, cần phải thiết lập các mối
quan hệ thật vững chắc với các nhà cung ứng.
Đối với doanh nghiệp Thương mại, việc tổ chức nguồn hàng nhằm tạo
điều kiện vật chất cho lưu chuyển hàng hoá để lưu thông được tiến hành
thường xuyên, liên tục, góp phần thực hiện chức năng và mục tiêu của doanh
nghiệp. Đồng thời cũng còn thể hiện sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp để
cạnh tranh với doanh nghiệp khác trên thị trường.

mới trong tiêu dùng sản phẩm, luôn có quan điểm theo Mod. Trong tổng số
những khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm, những người đi tiên phong
này chiếm một tỉ lệ rất nhỏ. Đối với doanh nghiệp, giai đoạn này doanh số
còn thấp, các loại chi phí kinh doanh rất lớn, thông thường ở giai đoạn này
các doanh nghiệp ở vào tình trạng doanh thu chưa bù đắp được chi phí – lỗ
vốn. Doanh nghiệp và sản phẩm của doanh nghiệp chưa tạo dựng được
thương hiệu, danh tiếng, hình ảnh và giá trị sử dụng của sản phẩm chưa đi vào
tiềm thức của khách hàng và công chúng. Hầu hết các quyết định trong sản
xuất kinh doanh đều xuất phát và phụ thuộc vào thực tế, diễn biến của thị
trường, ngoài ra các quyết định tầm chiến lược còn tùy thuộc vào vấn đề
doanh nghiệp là người đi đầu hay theo sau trong việc sản xuất kinh doanh loại
sản phẩm này.
Trong thực tế kinh doanh, dù đi đầu hay theo sau trên thị trường, các
doanh nghiệp đều quan tâm đến chiến lược Marketing nhằm tạo dựng hình
ảnh của sản phẩm. Từ đó doanh nghiệp lựa chọn các quyết định đầu tư đúng
đắn như kết cấu vốn hay tỉ lệ đầu tư cho chiến lược Marketing hay chiến lược
mở rộng sản xuất. Ngoài các chiến lược chủ yếu ở giai đoạn này các doanh
Sinh viên: Dương Đình Tiến 11
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
nghiệp còn chuẩn bị phương án chiến lược cạnh tranh để bước vào giai đoạn
thứ hai của chu kỳ sống của sản phẩm.
1.1.4.2.Chiến lược bảo vệ thị phần.
Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất
định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng
doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó
trên thị trường liên quan (theo quy định tại Khoản 5, Điều 3, Luật Cạnh
tranh).
Chiến lược bảo vệ thị phần là chiến lược mà các đơn vị kinh doanh
thực hiện để chống lại cuộc tấn công của các đối thủ cạnh tranh.

dùng nhiều hơn cho sản phẩm của mình.
- Tìm kiếm người tiêu dùng mới: để lôi kéo những người tiêu dùng mới
cho sản phẩm của mình các công ty có thể áp dụng 3 chiến lược:
+ Chiến lược xâm nhập thị trường.
+ Chiến lược mở rộng thị trường theo khách hàng.
+ Chiến lược mở rộng thị trường theo địa lý.
- Tìm kiếm công dụng mới của sản phẩm.
Nhờ vào việc phát hiện và quảng cáo cho các công dụng mới của sản
phẩm mà công ty có thể mở rộng được thị trường, đồng thời kéo dài vòng đời
của sản phẩm đó.
Nhiều nghiên cứu cho rằng, hầu hết các công dụng mới của sản phẩm
đều do người tiêu dùng đề xuất trước tiên chứ không phải do phòng nghiên
cứu và phát triển của công ty. Vì vậy, công ty cần phải thường xuyên theo dõi
quá trình sử dụng sản phẩm của khách hàng, thu thập những ý kiến của họ và
đề xuất cho việc phát triển sản phẩm mới.
- Khuyến khích tiêu dùng sản phẩm.
Chiến lược mở rộng và phát triển thị trường còn được thực hiện bằng
việc thuyết phục khách hàng tiêu dùng nhiều sản phẩm hơn trong mỗi lần
Sinh viên: Dương Đình Tiến 13
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
dùng hoặc tăng số lượt tiêu dùng trong ngày.
Marketing với việc bảo vệ và phát triển thị trường.
1.2.1.Vai trò của Marketing.
Marketing là khoa học và nghệ thuật kinh doanh xuất hiện ở các nước tư
bản chủ nghĩa phát triển. Với sự ra đời và phát triển của lý thuyết Marketing
hiện đại, người ta đã tìm ra chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn trong giai đoạn
khủng hoảng kinh tế trầm trọng ở những năm 30. Đó chính là mâu thuẫn giữa
sản xuất xã hội và sự phát triển của nhu cầu thị trường. Các nhà kinh tế học tư
sản đã xem lý thuyết Marketing hiện đại như một cứu cánh của chủ nghĩa tư

nhà hoạt động thị trường thông qua những thông tin, những thông tin này có
thể sử dụng để nhận dạng và xác định các vấn đề cũng như cơ hội Marketing;
là cơ sở cho sự cải tiến và đánh giá các hoạt động Marketing.
Người nghiên cứu thị trường là người tìm kiếm các thông tin của người
mua cũng như nhu cầu mong muốn và các phản ứng của họ để cải tiến hoàn
thiện hàng hoá dịch vụ nhằm thoả mãn tối đa người mua. Nghiên cứu thị
trường có thể được định nghĩa như sau: Nghiên cứu thị trường là việc nhận
dạng, lựa chọn thu thập, phân tích và phổ biến thông tin với mục đích hỗ trợ
việc ra quyết định có liên quan đến sự xác định và xử lý những vấn đề và cơ
hội Marketing.
Như vậy về thực chất: nghiên cứu thị trường là quá trình đi tìm kiếm
thu thập những thông tin cần thiết, phục vụ cho việc ra quyết định về
Marketing của các nhà quản trị.
1.2.2.2. Xác định thị trường mục tiêu và định vị sản phẩm.
a. Xác định thị trường mục tiêu.
Sau khi đánh giá được mức độ hấp dẫn của từng bộ phận thị trường,
nắm vững mục tiêu và phân tích kỹ khả năng của mình, doanh nghiệp cần
quyết định nên chọn đoạn thị trường nào cần xâm nhập hay doanh nghiệp có
thể xâm nhập vào bao nhiêu đoạn thị trường. Doanh nghiệp có thể lựa chọn
thị trường mục tiêu theo 5 cách sau:
Sinh viên: Dương Đình Tiến 15
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
- Doanh nghiệp chỉ tập trung vào một phân đoạn thị trường.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn một đoạn thị trường đơn lẻ để xâm nhập.
Đoạn thị trường này có thể phù hợp với nguồn lực còn hạn chế của doanh
nghiệp hoặc đó là những đoạn thị trường nhỏ mà các đối thủ cạnh tranh mạnh
trên thị trường đã bỏ qua hoặc là chưa có đối thủ cạnh tranh. Hiệu quả nhất là
đoạn thị trường trong đó có sự phù hợp giữa nhu cầu của thị trường với sản
phẩm của công ty. Mặt khác, đoạn thị trường được lựa chọn có thể chỉ đơn

một loại sản phẩm nhưng có thể đáp ứng được cho nhiều đoạn thị trường khác
nhau.
Với phương án này, doanh nghiệp sẽ thuận lợi hơn trong việc xây dựng
hình ảnh, quảng bá thương hiệu cũng như việc nâng cao danh tiếng của mình
trên thị trường khi kinh doanh một sản phẩm chuyên dụng. Rủi ro lớn nhất
doanh nghiệp cần phải đối mặt đó là sự xuất hiện của sản phẩm thay thế có
đặc tính và ưu thế vượt trội hơn hẳn. Mặt khác, với một loại sản phẩm cung
ứng cho nhiều đoạn thị trường khác nhau thì doanh nghiệp khó có thể thỏa
mãn một cách tốt nhất nhu cầu của khách hàng trên từng đoạn thị trường.
- Chuyên môn hóa thị trường.
Theo cách này, doanh nghiệp tập trung mọi nỗ lực của mình nhằm thỏa
mãn tốt nhất nhu cầu của một nhóm khách hàng chuyên biệt.
Với phương pháp này, doanh nghiệp có thể dễ dàng hơn khi tạo dựng
danh tiếng cho một nhóm khách hàng. Khi uy tín của công ty đã được khắc
họa rõ nét trong trí nhớ khách hàng thì việc phát triển sản phẩm mới sẽ trở
nên hết sức thuận lợi. Song nếu sức mua của thị trường có sự biến động lớn
thì doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi chiếm lĩnh một thị trường mới (đã
có sẵn các đối thủ cạnh tranh).
- Bao quát toàn bộ thị trường.
Với phương án này, doanh nghiệp cố gắng thỏa mãn được nhiều bộ
phận khách hàng trên thị trường thông qua một hệ thống bao gồm nhiều
chủng loại khác nhau. Phương pháp này thường được các doanh nghiệp lớn,
Sinh viên: Dương Đình Tiến 17
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
các công ty xuyên quốc gia thực hiện. Các công ty này thường kinh doanh
nhiều loại sản phẩm khác nhau và với mỗi loại sản phẩm lại bao gồm các
chủng loại đa dạng, phong phú, thỏa mãn được nhu cầu của nhiều bộ phận
khách hàng.
b. Định vị sản phẩm.

định vị của mình, doanh nghiệp sẽ hướng vào việc thiết kế sản phẩm và xây
dựng hệ thống Marketing hỗn hợp (Marketing – Mix) thích ứng đảm bảo cho
sự thành công của quá trình định vị sản phẩm trên thị trường. Khi xây dựng
hệ thống Marketing cần phải nhất quán trong việc khắc họa hình ảnh về doanh
nghiệp và nhãn hiệu sản phẩm đúng với vị trí mà doanh nghiệp đã chọn.
Marketing hỗn hợp phản ánh nghệ thuật phối hợp và điều chỉnh các
hoạt động Marketing của nhà kinh doanh cho phù hợp với từng hoàn cảnh và
điều kiện kinh doanh nhất định. Vì vậy, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn
cách thức phối hợp các yếu tố thành phần của Marketing một cách khác nhau.
Thực tiễn kinh doanh cho thấy các nhà kinh doanh đã thiết kế và điều
hành một số mô hình kết hợp và tạo nên các hệ thống Marketing – Mix không
giống nhau. Đó là Marketing hỗn hợp với bốn, sáu, tám thành phần. Tuy
nhiên, hỗn hợp Marketing bốn thành phần là loại Marketing hỗn hợp cơ bản
và phổ biến nhất trong kinh doanh.
Marketing hỗn hợp bốn thành phần còn gọi là hệ thống Marketing 4P,
bao gồm bốn chính sách Marketing chủ yếu sau:
-Chính sách sản phẩm (Product)
-Chính sách giá (Price)
-Chính sách phân phối (Place)
-Chính sách xúc tiến hỗn hợp (Promotion)
Trong bốn chính sách trên, chính sách sản phẩm là chính sách trụ cột có
tác động mạnh mẽ tới các chính sách khác.
Sinh viên: Dương Đình Tiến 19
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
Chính sách sản phẩm bao gồm các hoạt động và các giải pháp nhằm tạo
ra sản phẩm có uy tín, có khả năng tiêu thụ và khả năng cạnh tranh cao trên
thị trường. Các quyết định chủ yếu bao gồm: quyết định về nhãn hiệu sản
phẩm, quyết định về bao gói hàng hóa, quyết định về chủng loại sản phẩm,
quyết định về đổi mới sản phẩm và quyết định về dịch vụ cho sản phẩm.

TNHH Việt Tường luôn hoạt động theo phương châm: “Cung cấp cho khách
hàng những sản phẩm chất lượng tốt nhất, tinh xảo, an toàn và thỏa mãn mọi
nhu cầu của khách hàng”.
Ảnh hưởng từ văn hóa kinh doanh của Nhật Bản, Việt Tường luôn đặt
chất lượng sản phẩm và dịch vụ làm tôn chỉ cho mọi hoạt động kinh doanh
của mình.
Được đảm bảo bằng uy tín hàng trăm năm tuổi của các công ty mẹ tại
Nhật Bản (Kracie: năm 1887, Cow-Brand: năm 1908, Hakugen: năm 1923),
Việt Tường luôn tôn vinh từ những nhu cầu nhỏ bé nhất, riêng tư nhất của
người tiêu dùng Việt Nam.
Qua thời gian hoạt động, Công ty đã trở thành nhà phân phối có uy tín
và chất lượng tại thị trường Việt Nam. Với tâm niệm “Sự hài lòng của khách
Sinh viên: Dương Đình Tiến 21
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
hàng là mục tiêu của chúng tôi”.
Sứ mệnh: Nhập khẩu và phân phối những sản phẩm mỹ phẩm hàng đầu
Nhật Bản, chất lượng tốt, giá cả hợp lý, phục vụ theo phong cách Nhật Bản.
Tầm nhìn: Việt Tường trở thành doanh nghiệp hàng đầu về doanh số,
được người tiêu dùng Việt Nam tin tưởng về chất lượng sản phẩm, yêu mến
về phong cách phục vụ.
Tiêu chí hoạt động: “Lấy khách hàng làm trọng”.
Quan điểm nghề nghiệp: “Lao động nghiêm túc cùng với công nghệ
hiện đại sẽ mang lại giá trị đích thực cho sản phẩm”.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty TNHH Việt Tường.

Nguồn: Phòng Marketing – Công ty TNHH Việt Tường
Sinh viên: Dương Đình Tiến 22
Lớp CQ46/32.01
THƯ KÝ

Nhiệm vụ:
- Ký nhận hóa đơn bán hàng, hóa đơn VAT, phiếu xuất kho. Nhận và
vận chuyển hàng từ kho Công ty đến kho khách hàng bàn giao cho người
nhận hàng. Bàn giao hóa đơn, phiếu xuất kho đã có chữ ký xác nhận cho
người có trách nhiệm.
- Vệ sinh, sắp xếp hàng hóa trên quầy kệ tại các điểm bán.
- Tạo mối quan hệ tốt với nhân viên bán hàng tại quầy, PG, người đặt
hàng và báo cáo người có thẩm quyền.
- Thu thập thông tin liên quan đến đối thủ cạnh tranh và các hãng
khác.
- Đề nghị đặt hàng và tiếp nhận đơn hàng, bàn giao đơn hàng cho kế
toán bán hàng.
- Theo dõi công nợ khách hàng, lịch thanh toán.
- Thu hồi công nợ theo lịch.
- Nghiên cứu kỹ điều khoản thanh toán trong hợp đồng kinh tế.
- Đề xuất biện pháp thu hồi công nợ, điều chỉnh hợp đồng.
- Nộp tiền thu được cho người có trách nhiệm.
- Tiếp nhận và bàn giao hóa đơn phục vụ cho việc thu hồi công nợ.
 Phòng tài chính - kế toán.
Chức năng: Quản lý và thực hiện những nghiệp vụ chuyên môn tài
chính kế toán bảo đảm đúng quy định pháp luật của Nhà nước.
Nhiệm vụ:
Sinh viên: Dương Đình Tiến 23
Lớp CQ46/32.01
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Th.s Nguyễn Quang Tuấn
- Xây dựng kế hoạch ngân sách (vốn của Công ty).
- Tổ chức hoạch toán kinh tế về hoạt động kinh doanh của Công ty
(hoạch toán lỗ lãi).
- Cân đối nguồn vốn đảm bảo cho hoạt động hàng tháng, quý, dài
hạn…

dõi hiệu quả công việc của cán bộ, nhân viên trong Công ty.
- Tính lương, trả lương.
- Xây dựng lịch công tác, giao ban, hội họp, sinh hoạt định kỳ, bất
thường.
- Làm BHXH, BHYT cho cán bộ, nhân viên Công ty.
- Văn thư hành chính: quản lý công văn đi, đến, duy trì tổ chức sinh
hoạt, đảm nhiệm vai trò công đoàn: thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ…
- Quản lý, bảo dưỡng tài sản cố định: máy tính, máy fax, máy in, điện
thoại… tài liệu, văn phòng phẩm, điện nước, môi trường làm việc; quản lý
biên bản giao tài sản của Công ty cho từng nhân viên.
 Phòng kinh doanh.
Chức năng: Quản lý, phát triển thị trường tạo ra doanh thu cho Công
ty.
Nhiệm vụ:
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn, ngắn hạn.
- Tổ chức mạng lưới phân phối, chăm sóc khách hàng.
- Thúc đẩy hoạt động kinh doanh: Tìm đốc tác, địa bàn…
- Khảo sát, tìm thị trường mở rộng hình thức hoạt động kinh doanh (kể
cả nhỏ, lẻ).
- Tham mưu cho Ban giám đốc lựa chọm mẫu, mã hàng và khả năng
tài chính của đối tác cần ký hợp đồng kinh tế.
- Bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ nhân viên bán hàng theo quy
Sinh viên: Dương Đình Tiến 25
Lớp CQ46/32.01

Trích đoạn Đặc điểm nguồn cung ứng hàng hóa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status