Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Thị trường chứng khoán ( TTCK) là một kênh huy động vốn trung, dài hạn
rất có hiệu quả của một nền kinh tế hiện đại. Vì vậy sự ra đời và phát triển của
TTCK ở một đất nước như đất nước ta là rất cần thiết và là yếu tố quan trọng cho sự
phát triển nền kinh tế của đất nước trong tương lai, để đạt được sự phát triển đó các
công ty chứng khoán ( CTCK) có một vai trò rất quan trọng cho sự phát triển của cả
TTCK. Thông qua các nghiệp vụ của các CTCK như hoạt động mối giới chứng
khoán, nghiệp vụ tự doanh chứng khoán, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành, nghiệp vụ
quản lý danh mục đầu tư, nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán và các nghiệp vụ
khác… các CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa những người sử
dụng vốn và những người có tiền nhàn rỗi, cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch, tao
ra tính thanh khoản cao cho chứng khoán, góp phần điều tiết và bình ổn thị trường.
Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội
được thành lập vào năm 2005, chính thức đi vào hoạt động vào T4/ 2006. Ra đời
vào thời kỳ chứng khoán Việt Nam bắt đầu phát triển mạnh. Tuy là công ty có quy
mô trung bình nhưng công ty đã phát triển không ngừng và đạt được những thành
tựu đáng kể, dần dần khẳng định được vai trò của mình trên TTCK Việt Nam.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được công ty còn có những mặt
hạn chế cần khắc phục. Vấn đề đặt ra là cần phải tìm hiểu, phân tích những hạn chế,
tìm ra nguyên nhân để từ đó đưa ra các giải pháp khắc phục những hạn chế và phát
triển công ty trong tương lại.
Với mục đích đó, trong thời gian thực tập tại công ty TNHH chứng khoán
Ngân hàng thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội, em chọn đề tài : “ Một số giải pháp
phát triển thị trường cho công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Nhà Hà Nội”
Bố cục đề tài gồm ba chương, cụ thể:
Chương I. Những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động của CTCK.
Chương II. Thực trạng TTCK của Công ty TNHH chứng khoán Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (HBBS).
Chương III. Một số giải pháp triển rhij trường cho công ty TNHH chứng
danh đối với nhà đầu tư trong vai trò là nhà trung gian- những người môi giới
thường hợp thành công ty, gọi là công ty môi giới chứng khoán.
Ngoài ra những thương gia kinh doanh chứng khoán ngày càng gia tăng về
số lượng. Họ là những người mua bán chứng khoán bằng nguồn vốn cửa mình để
hưởng chênh lệch giá. Để đủ sức cạnh tranh trên lĩnh vực kinh doanh chứng khoán
họ cũng thành lập ra các công ty kinh doanh chứng khoán. Những công ty môi giới
kinh doanh chứng khoán này khi hoạt động phát triển họ không chỉ dừng lại ở hoạt
động ban đầu mà đã có sự đan xen, phát triển thêm và một loại hình công ty trong
lĩnh vực chứng khoán xuất hiện- đó là CTCK.
Từ cuối thế kỷ 17 và sang thế kỷ 18, 19 sự phát triển rầm rộ của các công ty
cổ phần ở các nước tư bản ở châu Âu đã dẫn đến sự phát triển cổ phiếu ồ ạt của các
cộng ty cổ phần. Khi đó, các công ty cổ phần này phát hành cổ phiếu đều thông qua
tổ chức nhận mua cổ phiếu và bán lại cho các nhà buôn. Tổ chức nhận mua này là
các CTCK và ngân hàng đầu tư. Như vậy, các CTCK đảm nhận việc phân phối
chứng khoán cho các công ty cổ phần. Sau này, hoạt động này không chỉ dừng lại ở
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
việc phân phối chứng khoán mà đã phát triển hơn, cung cấp nhiều dịch vụ liên quan
tới việc phát hành của các công ty cổ phần- đó là hoạt động bảo lãnh phát hành.
Sang thế kỷ 20, chủ nghĩa tư bản chuyển sang tự do cạnh tranh sang giai
đoạn lũng loạn. Tư bản lũng loạn hình thành trước tiên ở châu Âu, Mỹ và sau đó là
châu Á. Trong giai đoạn này, CTCK phát triển mạnh, trực tiếp làm các nghiệp vụ về
chứng khoán, đặc biệt nghiệp vụ môi giới chứng khoán. Qua đó, thu hút được đông
đảo khách hàng tham gia trên đầu tư trên thị trường chứng khoán.
TTCK ngày càng phát triển thì ngày càng có nhiều nhà đầu tư tham gia thị
trường. Tuy nhiên, không phải nhà đầu tư nào cũng có thể tự đưa ra quyết định mua
bán cho chính mình. Với những nhà đầu tư không có kinh nghiệm, trình độ, thời
gian họ có thể nhờ tới CTCK. Và lúc này hoạt động nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng
khoán, quản lý danh mục đầu tư của CTCK xuất hiện.
Cùng với sự phát triển nền kinh tế các nước, CTCK hình thành ngày càng
Như vậy : CTCK được hiểu là một tổ chức tài chính trung gian được thành
lập theo pháp luật, thực hiện một và/ hoặc một số hoạt động trên thị trường chứng
khoán.
2.2 Đặc điểm
2.2.1 Đặc điểm về vốn
Đối với công ty hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương
mại dịch vụ thì yêu cầu của pháp luật về vốn cho việc thành lập công ty là không
có. Tuy nhiên, đối với CTCK lại khác, CTCK muốn thành lập phải đáp ứng yêu cầu
về mức vốn pháp định mà luật pháp quy định. Ở mối nước việc quy định mức vốn
này là khác nhau, và có thể là quy định chung cho mọi loại hình kinh doanh chứng
khoán mà cũng có thể riêng cho từng loại hình.
Đây là quy định quan trọng nhất quyết định CTCK có được phép thực hiện
hoạt động trên TTCK. Đặc điểm này nhằm bảo đảm mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà
đầu tư.
2.2.2 Đặc điểm về nhấn sự
Đây là lĩnh vự hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ
ảnh hưởng tới đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên của CTCK phải là
người có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành ngân hàng, tài chính,
TTCK, có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có
thẩm quyền cấp.
2.2.3 Đặc điểm về đội ngũ lãnh đạo
Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo trong bất cứ yêu cầu lĩnh vực nào đều phải có
kiếm thức chuyên môn, có đạo đức trong kinh doanh, không vi phạm pháp luật và
có trình độ quản lý. Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo của CTCK cũng vậy. Tuy nhiên,
đối với lĩnh vực chứng khoán, ngoài những yêu cầu trên lãnh đạo còn phải có chứng
chỉ hành nghề và phải có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp. Và yêu
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
cầu đối với đội ngũ lãnh đạo về trình độ học vấn và kinh nghiệm công tác phải cao
hơn đội ngũ nhân viên.
ranh giới giữa kinh doanh chứng khoán và kinh doanh tiền tệ ngày càng được xóa
bỏ dần.
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
2.3.2 Công ty đa năng kinh doanh tiền tệ và chứng khoán.
Theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ
thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia
thành 2 loại:
- Loại đa năng một phần : các ngân hàng muốn kinh doanh chứng
khoán , kinh doanh bảo hiểm phải lập công ty độc lập tách rời.
- Loại đa năng hoàn toàn : các ngân hang kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
Mô hình này có ưu điểm là ngân hàng có thể đa dạng hóa, kết hợp nhiều lĩnh
vực kinh doanh, nhờ đó giảm bớt rủi ro cho hoạt động kinh doanh chung, khả năng
chịu đựng các biến cố của thị trường chứng khoán là cao. Mặt khác, ngân hàng tận
dụng được thế mạnh về vốn để kinh doanh chứng khoán ; khách hàng có thể sử
dụng được nhiều dịch vụ đa dạng và lâu năm của khách hàng.
Tuy nhiên, mô hình này bộc lộ một số hạn chế như : không phát triển được
thị trường cổ phiếu do các ngân hàng có xu thế bảo thủ, thích hoạt động tín dụng
truyền thống hơn là bảo lãnh phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Mặt khác, theo mô hình
này, nếu có biến động trên TTCK sẽ có ảnh hưởng mạnh đến kinh doanh tiền tệ của
ngân hàng, dễ dẫn đến các cuộc khủng hoảng tài chính.
Do những hạn chế trên đây, Mỹ và nhiều nước khác đã áp dụng mô hình này
sau cuộc khủng hoảng năm 1933 đa số đã chuyển sang mô hình chuyên doanh
chứng khoán, chỉ có Đức vẫn duy trì đến ngày nay.
Tại Việt Nam, do quy mô của các ngân hàng thường mại nói chung là rất nhỏ
bé, và đặc điểm vốn dài hạn lại thấp, hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt
Nam chủ yếu trong lĩnh vực tín dụng thương mại ngắn hạn, trong hoạt động của
TTCK thuộc lĩnh vực vốn dài hạn. Khả năng khắc phục những yếu kém của các
ngân hàng thương mại Việt Nam còn rất lâu dài. Do đó, để bảo vệ an toàn cho các
khoản nợ và nghĩa vụ của công ty trên cơ sở vốn góp; (2) huy động vốn linh hoạt và
đơn giản hơn; và (3) đội ngũ quản lý năng động hơn không bị bó hẹp trong một số
đối tác như công ty hợp doanh.
Bên cạnh đó, hình thái công ty TNHH cũng có một số hạn chế trong vấn đề
chuyển nhượng vốn góp hoặc việc tăng giảm số lượng thành viên cũng như cồn cụ
được phép sử dụng để tăng thêm vốn, cụ thể :
- Việc chuyển nhượng vốn góp được thực hiện theo ưu tiên theo thứ tự
cho các thành viên hữu hạn của công ty trước đó mới đến các cá nhân, tổ chức
ngoài công ty.
- Việc tăng hay giảm số lượng thành viên cũng bị hạn chế bởi các quy
định pháp luật và sự chấp thuận của các thành viên hữu hạn trong công ty.
- Công ty không được phép phát hành cổ phiếu để tăng thêm vốn.
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Với ưu điểm trên, loại hình công ty này được thành lập phổ biến hơn loại
hình công ty hợp doanh.
2.4.3 Công ty cổ phần
Là doanh nghiệp trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau
gọi là cổ phần. Người sở hữu cổ phần gọi là cỏ đông của công ty. Cổ đông có thể là
cá nhân hoặc tổ chức, tối thiểu là 3 người không hạn chế tối đa. Đây là loại hình
doanh nghiệp có ưu điểm nổi trội hơn hẳn hai hình thái doanh nghiệp nêu trên, cụ
thể : (1) là loại hình doanh nghiệp được phép huy động vốn băng cổ phiếu, do đó
khả năng tăng thêm vốn cho quá trình kinh doanh dễ dàng hơn ; (2) sự tồn tại của
công ty là liên tục không phụ thuộc vào việc thay đổi cổ đông; ( 3) rủi ro mà cổ
đông gánh chịu được gánh chịu được hạn chế ở mức nhất định trên cơ sở số vốn
góp ; ( 4) việc chuyển đổi quyền sở hữu được thực hiện dễ dàng thông qua việc mua
bán cổ phiếu theo pháp luật qui định; (5) hình thức tổ chức quản lý, chế độ báo cáo
và công bố thông tin tốt hơn hai loại hình công ty trên.
Tuy nhiên, đối với hình thái doanh nghiệp này thì tính ổn định về mặt tổ
chức của công ty không cao bằng công ty TNHH.
chứng khoán, giúp các nhà đầu tư giảm được chi phí trong từng giao dịch. Mặt khác
với trình độ chuyên môn cao uy tín nghề nghiệp, CTCK sẽ giúp các nhà đầu tư thực
hiện đầu tư một cách hợp lý nhất.
- Đối với thị trường chứng khoán
+ Vai trò trước hết của CTCK là tổ chức trung gian môi giới trên TTCK
thông qua việc bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, và thực hiện một số dịch vụ khác
cho cả nhà đầu tư và tổ chức phát hành. CTCK huy động vốn từ nơi nhàn rỗi để đầu
tư chứng khoán có hiệu quả, làm cầu nối cung cầu chứng khoán.
+ Góp phần tạo lập giá, điều tiết và bình ổn giá trên thị trường
Giá chứng khoán là do thị trường quyết định, nhưng để đưa ra mức giá cuối
cùng người mua và người bán phải thồn qua CTCK làm trung gian mua bán. Các
CTCK là thành viên của thị trường nên họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường
thông qua đấu giá. Trên thị trường sơ cấp các CTCK cùng với các nhà phát hành
đưa ra mức giá đầu tiên, do vậy, giá cả của mỗi chứng khoán giao dịch đều có sự
tham gia định giá của các CTCK. Trên thị trường thứ cấp: tất cả các lệnh mua bán
thông qua các CTCK được tập trung tại thị trường giao dịch và trên cơ sở đó, giá
chứng khoán cũng được xác định thơ quy luật cung cầu.
+ Góp phần tăng tính thanh khoản cho các tài sản tài chính
TTCK làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính nhưng các CTCK
mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị
trường. Trên thi trường cấp 1: qua hoạt động bảo lãnh phát hành, chứng khoán hóa,
các CTCK không những huy động được vốn lớn đi vào sản xuất kinh doanh cho nhà
phát hành mà còn tăng tính thanh khoản cho các tài khoản tài chính được đầu tư vì
các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được bán trên thị trường cấp 2. Điều này làm
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
giảm rủi ro và tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư. Trên thị trường cấp 2: do thực
hiện các giao dịch mua và bán chứng khoán, các CTCK giúp người đầu tư chuyển
đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Do đó, làm tăng tính thanh khoản cho
các tài sản tài chính.
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
khách hàng để mua bán chứng khoán của công ty trừ trường hợp được khách hàng
đồng ý bằng văn bản. Nguyên tắc này được đưa ra nhằm tránh rủi ro cho khách
hàng.
1.2. Nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp
Vì CTCK hoạt động trong lĩnh vực nhạy cảm, có tác động sâu rộng đến tâm
lý nhà đầu tư. Do vậy, đối với nhân viên của CTCK, họ phải tuân thủ theo bộ
nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp do hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán ban
hành. Bộ nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính trung thực, công bằng trong công việc
của các nhân viên trong CTCK. Bao gồm:
- Giao dịch công bằng trung thực vì lợi ích của khách hàng.
- Nhân viên của công ty phải là những người có kỹ năng, tận tụy và những
người có trách nhiệm.
- Ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước lệnh của công ty.
- Có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng, không được tiết lộ thông
tin về tài khoản của khách hàng khi chưa được khách hàng đồng ý bằng văn bản trừ
khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước.
- Không tham gia hoạt động kinh doanh ngoài phạm vi cho phép.
- Không tiến hành các hoạt động có thể làm cho khách hàng và công chúng
hiểu sai về giá cả, giá trị và bản chất của chứng khoán hoặc các hoạt động thiệt hại
cho khách hàng.
- Với các hoạt động mà CTCK cung cấp cho khách hàng, phải có hợp đồng
khi thực hiện giao dịch cho họ.
2. Hoạt động của công ty chứng khoán
2.1. Tự doanh chứng khoán
Là một trong các hoạt động cơ bản của CTCK. Hoạt động này được xem như
hoạt động đầu tư của CTCK. Khi tiến hành tự doanh công ty phải bỏ tiền ra mua,
công ty sẽ có lãi khi chứng khoán tăng và ngược lại, sẽ lỗ khi chứng khoán giảm.
Do đó, hoạt động tự doanh của CTCK cũng chứa đựng tiềm ẩn rủi ro về sự biến
- Nhà môi giới chuyên môn
TTCK phát triển đồng nghĩa với nó lượng nhà đầu tư tham gia thị trường
cũng ngày càng tăng lên, tất yếu sẽ dẫn đến quyền lợi của nhà đầu tư không được
đảm bảo. Vì vậy, để đảm bảo công bằng trong mua bán chứng khoán cũng như các
quyền lợi khác của nhà đầu tư, bản thân CTCK cũng như cơ quan quản lý cũng
nhận thấy cần phải có các quy định chặt chẽ đối với hoạt động môi giới chứng
khoán và yêu cầu các CTCK phải tuân theo.
2.3. Hoạt động bảo lãnh phát hành
Hoạt động bảo lãnh phát hành là hoạt động trông đó CTCK giúp các nhà
phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, tổ chức phân phối
chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn sau khi phát hành.
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tổ chức phát hành được hưởng chi phí bảo lãnh hoặc một tỷ lệ hoa hồng
nhất định trên số tiền thu được từ đợt phát hành.
Hiện nay trên thế giới có một số hình thức bảo lãnh phát hành sau:
- Bảo lãnh cam kết chắc chắn
- Bảo lãnh cố gắn tối đa
- Bảo lãnh với hạn mức tối thiểu
Riêng tại Việt Nam hiện nay chỉ áp dụng hình thức bảo lãnh với cam kết
chắc chắn nhằm mục đích bảo vệ của nhà đầu tư và gắn kết trách nhiệm của các
CTCK. Điều này gây ra một số khó khăn cho các CTCK trong việc triển khai
nghiệp vụ này.
2.4. Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư
Khi thực hiện hoạt động này khách hàng sẽ đưa tiền và chứng khoán của họ đến
CTCK và ký hợp đồng ủy thác cho CTCK. Khi đã ký hợp đồng CTCK vừa bảo quản
hộ chứng khoán vừa đầu tư hộ cho khách hàng. Tùy theo mức độ ủy quyền trong hợp
đồng được ký giữa khách hàng và CTCK mà CTCK có toàn quyền quyết định hoặc có
quyền hạn chế trong các giao dịch mua bán chứng khoán trong hợp đồng.
Như vậy, hoạt động quản lý danh mục đầu tư là hoạt động mà khách hàng ủy
Bán khống chứng khoán cũng là một hình thức khuyến khích nhà đầu tư
tham gia thị trường, bởi họ vẫn có thể kiếm được lời khi cổ phiếu giảm giá, trong
khi mua bán theo cách bình thường họ chỉ kiếm được lời khi cổ phiểu tằng giá.
- Cho vay cầm cố chứng khoán : là một hình thức tín dụng mà trong đó
người đi vay sử dùng số chứng khoán sở hữu hợp pháp của mình làm tài sản cầm cố
để đi vay kiếm tiền nhằm mục đích kinh doanh, tiêu dùng…
- Cho vay bảo chứng : là một hình thức tín dụng mà khách hàng vay tiền để
mua chứng khoán, sau đó dùng số chứng khoán mua được từ tiền vay làm tài sản
thế chấp cho khoản vay.
- Cho vay ứng tiền tiền bán chứng khoán : là việc CTCK ứng trước tiền bán
chứng khoán của khách hàng được thực hiện tại sở giao dịch chứng khoán.
- Repo chứng khoán : là giao dịch mua hoặc bán chứng khoán có kỳ hạn
được sử dụng trên thị trường tài chính. Đây là loại hình giao dịch mà nhà đầu tư có
thể mua và bán chứng khoán của mình trong một khoảng thời gian thỏa thuận nhất
định với CTCK. Hiểu một cách đơn giản, giao dịch Repo là việc nhà đầu tư đi vay
tiền và dùng chứng khoán để thế chấp.
Trên thực tế tại Việt Nam, Repo trái phiếu đã được tiến hành từ cuối năm
2003 và Repo cổ phiếu là năm 2007, hoạt động Repo chứng khoán chưa sôi động và
có nhiều khoảng gián đoạn. Tháng 5/2008 UBCKNN đã yêu cầu các công ty ngừng
ký các hợp đồng Repo. Nhưng nghiệp vụ này đã được khởi động lại từ cuối năm
2008 và hoạt động đến nay.
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
III. Phát triển hoạt động của CTCK
1. Khái niệm
Phát triển hoạt động của CTCK được hiểu là sự biến đổi theo chiều hướng
gia tăng về số lượng các hoạt động cũng như sự đa dạng về hình thức tiến hành và
nâng cao chất lượng mỗi hoạt động. Tuy nhiên, khi các CTCK phát triển quá nhanh
có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng xấu tới chính các CTCK và sự phát triển chung
của cả TTCK. Do đó, phát triển hoạt động của các CTCK cần tính tới yếu tố bền
- Lợi nhuận : là chỉ tiêu cuối cùng phản kết quả hoạt động chung của CTCK,
đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế. Một phần lợi nhuận sau thuế được dùng để
chi trả cổ tức, đảm bảo lợi ích cho các cổ đông; một phần được giữ lai để tái đầu tư
và trích lập các quỹ. Do đó, lợi nhuận sau thuế cao công ty sẽ có khả năng trả cổ tức
cao cho các cổ đông hoặc có được nguồn vốn lớn từ lợi nhuận không chia để tăng
quy mô vốn phát triển các hoạt động.
- Mức độ nhanh chóng thuận tiện : khi khách hàng tới giao dịch tại CTCK
khách hàng sẽ nhận được sự hỗ trợ thuận tiện nhất từ phía công ty, đó là các thủ tục
liên quan tới việc mở tài khoản, thủ tục sử dụng các dịch vụ của CTCK, đặc biệt là
nhận lệnh của các nhà đầu tư. Việc tạo điều kiện từ phía các CTCK giúp cho các
nhà đầu tư có thể đặt lệnh mua bán chứng khoán bất cứ họ ở đâu và với hình thức
đặt lệnh nào.
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY
TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
NHÀ HÀ NỘI (HBBS)
I. Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam
Cùng với sự tăng lên nhanh chóng các công ty niêm yết trên cả hai sàn giao
dịch thì số lượng CTCK cũng có sự phát triển chóng mặt vào năm 2006. Tính đến
hết 2005, thị trường mới chỉ có 14 CTCK, trong vòng một năm ( 2006) số lượng
CTCK được UBCKNN cấp phép hoạt động là 41 CTCK, nâng tổng số CTCK lên
55 công ty. Và trong năm 2007, có thêm 24 CTCK được cấp phép và chính thức
hoạt động, năm 2008 là 102, và đến tháng 8/2009 là 104.
Đơn vị: công ty
Biểu 1 : Số lượng CTCK qua các năm
1. Giai đoạn 2000 – 2005
1.1. Số lượng và quy mô hoạt động của CTCK
Ngày 28/11/1996, Chính phủ ra nghị định thành lập Ủy Ban Chứng khoán
trực tuyến, đặt lệnh giao dịch qua điện thoại, Internet… được các CTCK đưa vào áp
dụng ngày càng nhiều, đem lại lợi ích thiết thực cho người đầu tư. Nguồn vốn điều
lệ của các CTCK đã lên tới trên 810 tỷ đồng, hoạt động kinh doanh đã ổn định hơn
sau một số năm đầu khó khăn, đến năm 2004 các CTCK đều có lãi và đã thực hiện
trích quỹ dự phòng tài chính để tăng vốn điều lệ.
19
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
2.Giai đoạn 2006 - 2007
Trước tiên cần phải khẳng định giai đoạn 2006-2007 là thời kì bùng nổ mạnh
mẽ của TTCK nói chung và CTCK nói riêng. Sự gia tăng mạnh mẽ cả về số lượng,
quy mô và mở rộng nghiệp vụ của các CTCK là rất đáng kinh ngạc.
Qua sáu năm hoạt động, khởi điểm từ vài công ty năm 2000 tính đến cuối
năm 2006 số lượng công ty đã tăng lên 55 và sang năm 2007 là 78.
Bên cạnh đó, các CTCK cũng chú trọng đến việc mở rộng mạng lưới giao
dịch thông qua các chi nhánh, các đại lý nhận lệnh,…Tuy nhiên về địa bàn hoạt
động còn rất nhiều hạn chế chủ yếu chỉ tập trung tại hai thành phố lớn là Hà Nội và
TP.HCM. Việc phân tích một cách tương đối đơn giản các con số như trên cho thấy,
sự gia tăng của số lượng các CTCK trong thời gian vừa qua có xu hướng phù hợp
với xu hướng gia tăng của quy mô và hàng hóa trên thị trường. Giá trị thị trường
tăng mạnh, số lượng hàng hóa lớn đòi hỏi một lực lượng trung gian thị trường mạnh
có tiềm lực tài chính, công nghệ, chuyên môn tốt. Mặt khác, khi thị trường phát
triển trong giai đoạn nóng, số lượng CTCK dù tăng nhanh vẫn chưa thể đáp ứng
được đòi hỏi giao dịch của nhà đầu tư, cũng như nhu cầu về tư vấn cổ phần hóa, tư
vấn niêm yết. Năm 2001 chỉ có 8.700 tài khoản nhà đầu tư, năm 2006 tăng lên
72.700 tài khoản, năm 2007 là 303.980 tài khoản và đến đầu năm 2008 là 383.980
tài khoản. Có thể thấy sự quá tải của các CTCK trong giai đoạn 2006-2007 trong
việc thực hiện các nghiệp vụ môi giới, tư vấn niêm yết. Mặt khác, số lượng CTCK
tuy tăng nhưng về cơ bản, số lượng chi nhánh vẫn hạn chế (tính đến cuối 2007 chỉ
có 45 chi nhánh/78 CTCK).
2.1. Về quy mô vốn
lượng CTCK là 104.
Quy mô giao dịch trên thị trường không ổn định. Từ những tháng cuối năm
2008, khối lượng và giá trị giao dịch giảm dần, đặc biệt giảm mạnh vào đầu năm
2009. Từ tháng 02/2009 khối lượng và giá trị giao dịch đã có dấu hiệu đi lên và dần
vào ổn định.
Sự gia tăng trở lại của khối lượng giao dịch từ 2/2009 là do ảnh hưỏng lớn từ
các chính sách kích cầu của chính phủ và sự phục hồi dần của nền kinh tế.
3.2. Về hoạt động của các CTCK:
Theo nghị định số 14/2007/NĐ-CP ngày 19/01/2007 quy định, CTCK đã
được cấp giấy phép hoạt động kinh doanh nhưng không đáp ứng đủ điều kiện về
vốn sẽ phải làm thủ tục tăng vốn trong thời hạn hai năm kể từ ngày Nghị định có
hiệu lực.
Điều này dẫn đến một tình trạng: các CTCK nếu muốn đáp ứng đủ các điều
kiện về vốn theo quy định mà không gây ảnh hưởng đến thị trường thì thường cắt
giảm 2 nghiệp vụ: bảo lãnh phát hành, tự doanh. Trong khi đó tự doanh chính là
nghiệp vụ đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty trong thời kì trước đó.Theo thống kê
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
của UBCKNN, khoảng 35 CTCK thuộc diện phải tăng vốn hoặc cắt bớt nghiệp vụ
đã thực hiện gần như đầy đủ. Một số công ty đang trong quá trình hoàn tất thủ tục
để trình lên UBCKNN.
Một sự kiện nổi lên trong hoạt động của các CTCK những tháng đầu tiên
năm 2009 là liên kết với các sàn vàng mở đại lý nhận lệnh. Tận dụng nhân lực, cơ
sở vật chất, khách hàng hiện có để được thêm khoản phí môi giới hàng tháng, đây
chính là lý do khiến các sàn vàng mọc lên nhanh chóng. Tuy nhiên, đến cuối tháng
3/2009 UBCKNN đã có văn bản yêu cầu các CTCK phải tạm ngừng mở sàn vàng
đề chờ văn bản hướng dẫn cụ thể. Theo đó, đối với các công ty chưa mở sàn giao
dịch vàng, Ủy ban Chứng khoán yêu cầu không được mở sàn giao dịch vàng cho
đến khi có văn bản hướng dẫn. Đối với những sàn đã mở, Ủy ban Chứng khoán yêu
cầu các CTCK phải báo cáo thời gian mở sàn giao dịch vàng; hình thức pháp lý; đối
Trái Phiếu:
1. Công ty Cổ phần chứng khoán Sài Gòn SSI 32,651%
2. Công ty Cổ phần chứng khoán Ngân hàng Công thương
Việt Nam Vietinbank 32,259%
3. Công ty Cổ phần chứng khoán Bảo Việt BVSC 12,139%
4. Công ty Cổ phần Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh HSC 12,139%
5. Công ty TNHH Chứng khoán ACB ACBS 10,806%
6. Công ty Cổ phần Chứng khoán Thăng Long TSC 0,004%
7. Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư & Phát triển Việt Nam
BSC 0,003%
(Trong Quý III/2009, chỉ có 7 CTCK tham gia giao dịch môi giới Trái Phiếu)
Đối với lĩnh vực môi giới cổ phiếu, 10 CTCK lớn nhất chiếm 42,13% thị
phần. Chứng khoán Thăng Long (TSC) dẫn đầu với 8,13% thị phần, cách biệt lớn
so với công ty ở vị trí thứ 2 là Sacombank-SBS với 4,76% thị phần. Đây là cũng hai
công ty dẫn đầu về thị phần môi giới tại HoSE trong quý III.
Trong số 10 doanh nghiệp trên, có 7 doanh nghiệp cũng nằm trong top 10
doanh nghiệp có thị phần môi giới lớn nhất tại HoSE. Bảy doanh nghiệp này chiếm
32,33% thị phần tại HNX và 41,82% thị phần tại HoSE.
Tính thanh khoản của TTCK Việt Nam được cải thiện mạnh trong thời gian
qua. Điều này được thể hiện ở giá trị giao dịch trong năm 2009, con số 65 phiên
giao dịch, trung bình trên HOSE mỗi phiên có 50 triệu cổ phiếu được sang tên với
giá trị chuyển nhượng 2200 tỷ đồng - những con số mơ ước, vượt xa mức kỷ lục
năm 2008 (38,5 triệu cổ phiếu, xác lập vào ngày 23/9/2008). Trên HNX, tuy giao
dịch kém sôi động hơn một chút, nhưng giá trị giao dịch cũng luôn ở mức bằng 1/2
- 2/3 giá trị giao dịch tại HOSE. Cùng với thanh khoản cải thiện, doanh thu từ hoạt
động môi giới tại các CTCK tăng mạnh.
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Tuy nhiên bên cạnh các CTCK lớn chiếm được thị phần môi giới lớn thì vẫn
còn những công ty nhỏ. Dù không đủ vốn để được thực hiện nghiệp vụ tự doanh,
trường hợp vi phạm. Repo (repurchase agreement) chứng khoán là nghiệp vụ trong
đó người đi vay sử dụng chứng khoán làm tài sản thế chấp để vay tiền với lãi suất
đã định trước.
24
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Hình thức này có thể phát sinh rủi ro khi người vay không thể trả nợ (tức là
mua lại chứng khoán), khiến CTCK phải bán ra để thu hồi tiền hoặc sở hữu luôn số
chứng khoán đó.
Ngoài ra, UBCKNN cũng chấn chỉnh hoạt động giao dịch OTC tại một số
CTCK. Theo quy định hiện nay, chỉ Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm giao
dịch chứng khoán mới được phép tổ chức TTCK.
UBCKNN yêu cầu các CTCK thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh đã được
cấp phép. Đối với các sản phẩm, dịch vụ tài chính khác, trước khi thực hiện, các
công ty phải báo cáo cho UBCKNN phương án, quy trình thực hiện, các biện pháp
quản trị rủi ro.
4.4. Vấn đề Đòn bẩy tài chính mà các CTCK phối hợp với ngân hàng
cung cấp cho nhà đầu tư chủ yếu dưới dạng hợp đồng hợp tác đầu tư.
Thời gian này, TTCK đang có những dấu hiệu sôi động dần, chỉ số VN-
Index đã lên hơn 600 điểm; giá trị giao dịch nhiều phiên lên đến lên tới 3.000 -
4.000 tỷ đồng/phiên, cá biệt có phiên lên đến gần 6.000 tỷ đồng.
Tuy nhiên, nhiều chuyên gia chứng khoán cho rằng, chỉ số VN- Index lên
điểm một phần không nhỏ đến từ đòn bẩy tài chính dưới các hình thức: bảo lãnh
nghĩa vụ thanh toán, cầm cố, hợp đồng hợp tác đầu tư…
Đòn bẩy tài chính mà các CTCK phối hợp với ngân hàng cung cấp cho nhà đầu
tư chủ yếu dưới dạng hợp đồng hợp tác đầu tư. Tùy đặc thù của mỗi công ty, đòn bẩy
được thực hiện dưới các hình thức khác nhau, phổ biến nhất là hình thức cho vay ký
quỹ. Khi giá trị cổ phiếu giảm khoảng 20% hoặc 30% so với giá mua, ngân hàng sẽ
yêu cầu nhà đầu tư đóng thêm tiền hoặc giải chấp chứng khoán để thu hồi vốn.
Hiện tại, nhiều CTCK mời chào các sản phẩm cho vay đầu tư chứng khoán
với tỷ lệ khá hấp dẫn, một số nơi lên đến 300% giá trị khách hàng ký quỹ. Ngoài ra,