Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ và
trở thành một xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là
việc ra đời của các liên kết khu vực và quốc tế như ASEAN, EU, WTO… mục tiêu
là thúc đẩy tự do hóa thương mại quốc tế, giảm dần và tiến tới xóa bỏ các hàng rào
bảo hộ do các quốc gia áp đặt nhằm cản trở tự do hóa thương mại. Việt Nam cũng
không nằm ngoài xu thế đó, với việc gia nhập hiệp hội ASEAN, ký kết hiệp định
thương mại song phương với Hoa Kỳ, và gần đây nhất là sự kiện nước ta chính
thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO đã đánh dấu quá trình hội nhập đầy đủ
của Việt Nam vào kinh tế thế giới.Có thể nói, việc chính thức là thành viên của
WTO đem lại cho Việt Nam những cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức. Muốn
thành công chúng ta phải thấy được hết thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy lùi
thách thức. Suy cho cùng cơ hội và thách thức chính là động lực thúc đẩy sự phát
triển của nền kinh tế.
Ngân hàng là một trong những lĩnh vực được mở cửa mạnh nhất sau khi Việt
Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất của ngành ngân hàng là đối mặt với sự
cạnh tranh ngày càng quyết liệt mạnh mẽ hơn. Để giành thế chủ động trong tiến
trình hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam cần cải tổ cơ cấu một
cách mạnh mẽ để trở thành hệ thống ngân hàng đa dạng về hình thức, có khả năng
cạnh tranh cao, hoạt động an toàn và hiệu quả, huy động tốt các nguồn vốn trong
xã hội và mở rộng đầu tư đáp ứng nhu cầu của phát triển đất nước.
Mục tiêu nghiên cứu
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, hoạt động của ngân hàng ACB và đặc biệt là
toàn hệ thống ngân hàng thương mại đều có những nghiệp vụ gần giống nhau như:
huy động vốn, cho vay phát triển sản xuất kinh doanh và các dịch vụ ngân hàng
quen thuộc như chuyển tiền trong nước và quốc tế, thu đổi ngoại tệ… Từ những
1
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
điểm giống nhau giữa các ngân hàng thương mại nên đã tạo ra một làn sóng cạnh
tranh ngày càng gay gắt. Ngân hàng nào cũng phải tạo ra nhiều dịch vụ sản phẩm
vậy hội nhập quốc tế thực chất cũng là sự chủ động tham gia vào quá trình toàn
cầu hóa, khu vực hóa. Nói cách khác, hội nhập bao hàm các nỗ lực về mặt chính
sách và thực hiện của các quốc gia để tham gia vào các định chế, tổ chức kinh tế
toàn cầu và khu vực.
Quá trình hội nhập làm cho nền kinh tế mỗi nước ngày càng liên kết chặt chẽ
với các nền kinh tế thành viên khác, từ đó làm cho nền kinh tế thế giới phát triển
theo hướng tạo ra một thị trường chung thống nhất trong đó những cản trở đối với
sự giao lưu và hợp tác quốc tế giảm và dần dần mất đi, sự cạnh tranh trở nên gay
gắt. Bởi vậy hội nhập kinh tế quốc tế cũng có nghĩa là tham gia vào cuộc cạnh
tranh kinh tế ở cả trong và ngoài nước. Ngày nay, để khỏi bị gạt ra ngoài lề của sự
phát triển, các quốc gia đều nỗ lực hội nhập vào xu thế chung, ra sức cạnh tranh
kinh tế vì sự tồn tại và phát triển của mình.
Hội nhập quốc tế trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ: Là quá trình mà các
nước, các khu vực thực hiện mở cửa cho sự tham gia của các yếu tố bên ngoài vào
lĩnh vực tài chính - tiền tệ, bao gồm vốn đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), công nghệ,
tín dụng và lao động có trình độ chuyên môn cao.
Hội nhập quốc tế về tài chính - tiền tệ là thực hiện quá trình tự do hóa tài
chính tức là xóa bỏ các hạn chế, các định hướng hay ràng buộc trong việc phân bổ
nguồn lực tín dụng. Tự do hóa tài chính cũng đồng nghĩa với việc mở rộng cạnh
tranh của các định chế tài chính, cùng với việc chấm dứt phân biệt đối xử về pháp
lý giữa các loại hoạt động khác nhau. Tự do hóa tài chính bao gồm tự do hóa lãi
suất, tự do hóa tỷ giá hối đoái, giảm thiểu tỷ lệ dự trữ bắt buộc, xóa bỏ bao cấp vốn
thông qua chỉ định tín dụng, tự do hóa các hoạt động của các tổ chức tài chính
3
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
trong nước và quốc tế trên nền tảng của tự do hóa các tài khoản vãng lai và tài
khoản vốn.
Hội nhập quốc tế là xu hướng phát triển tất yếu của kinh tế thế giới, nhất là
đối với các quốc gia đang phát triển. Hội nhập quốc tế nhằm mở cửa nền kinh tế,
thực hiện tự do hóa thương mại, dịch vụ để gia nhập vào cuộc canh tranh quốc tế
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
Đối với các giao dịch vốn:
- Nới lỏng các giao dịch chuyển vốn của các nhà đầu tư nước ngoài vào VN
và việc vay, hoàn trả nợ vay nước ngoài của các tổ chức cư trú; chỉ duy trì một số
hạn chế về các giao dịch chuyển vốn ra nước ngoài để đầu tư của các tổ chức cư
trú, việc chuyển vốn này phải được các cơ quan có thẩm quyền cho phép và phải
trong phạm vi số ngoại tệ thuộc sở hữu của các tổ chức này, các giao dịch này phải
đăng ký với NHNN VN.
- Các DN được tự do ký các hợp đồng vay nước ngoài, theo nghị định
134/2005/NĐ-CP (1/11/2005), nghĩa vụ đăng ký các hợp đồng trung dài hạn với
NHNN là vấn đề có tính thủ tục để phục vụ cho các mục đích thống kê giám sát
hoạt động vay nợ trung dài hạn nước ngoài của các DN và phối hợp với Bộ tài
chính để bảo đảm các khoản nợ nước ngoài của quốc gia trong phạm vi an toàn.
- Đối với việc hoàn trả các khoản vay, các khoản đầu tư vốn ra nước ngoài
của các DN, phải đáp ứng các điều kiện về giấy phép đầu tư ra nước ngoài, mở tài
khoản ngoại tệ, và các giao dịch chuyển vốn đầu tư, các giấy tờ cần thiết để xin
giấy phép đầu tư ra nước ngoài.
- Các DN được phép đầu tư ra nước ngoài, có thể chuyển lợi nhuận có được
từ các khoản đầu tư của họ tại VN ra bất cứ nơi nào ở nước ngoài, hoặc có thể mở
các tài khoản ngoại tệ để thực hiện vay nước ngoài trung dài hạn, được phép mở
tài khoản ngoại tệ cho các hoạt động khác trong các trường hợp đặc biệt.
- Các hạn chế để bảo đảm an toàn cán cân thanh toán được xem xét áp dụng
khi Việt Nam gặp phải những khó khăn về cán cân thanh toán quốc tế, các quy
định về ngoại hối của Việt Nam được IMF rà soát mỗi năm một lần.
- Về cân đối ngoại tệ: chính phủ xem xét cân đối nhu cầu ngoại tệ cho các
nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các dự án đặc biệt trong các chương trình của
chính phủ; hỗ trợ cân đối ngoại tệ cho các dự án cơ sở hạ tầng và một số dự án
quan trọng khác, trong trường hợp các NH được phép giao dịch ngoại hối nhưng
không thể đáp ứng yêu cầu về ngoại tệ.
* Các cam kết về chính sách thương mại dịch vụ liên quan đến NH
NHTMCP VN không được vượt quá 30% vốn điều lệ của NH.
* Những sản phẩm và dịch vụ ngân hàng được cam kết
Các cam kết về dịch vụ NH, các dịch vụ tài chính khác được thực hiện phù
hợp với các luật và các qui định liên quan được ban hành bởi các cơ quan có thẩm
quyền của Việt Nam và theo nguyên tắc chung, trên cơ sở không phân biệt đối xử.
Những sản phẩm, dịch vụ đã cam kết:
(1) Nhận tiền gửi và các khoản phải trả khác từ công chúng.
(2) Cho vay dưới tất cả các hình thức, bao gồm TD tiêu dùng, TD cầm cố thế
chấp, bao thanh toán và tài trợ giao dịch TM.
(3) Thuê mua tài chính.
6
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
(4) Mọi dịch vụ thanh toán và chuyển tiền, bao gồm thẻ TD, thẻ thanh toán
và thẻ nợ, séc du lịch và hối phiếu NH.
(5) Bảo lãnh và cam kết.
(6) Kinh doanh trên tài khoản của mình hoặc của KH, tại sở giao dịch, trên
thị trường giao dịch thoả thuận hoặc bằng cách khác, như: công cụ thị trường tiền
tệ (gồm: séc, hối phiếu, chứng chỉ tiền gửi); ngoại hối; các công cụ tỷ giá và lãi
suất, (gồm: các sản phẩm như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng kỳ hạn); vàng nén.
(7) Môi giới tiền tệ.
(8) Quản lý tài sản, như quản lý tiền mặt hoặc danh mục đầu tư, mọi hình
thức quản lý đầu tư tập thể, quản lý quỹ hưu trí, các dịch vụ lưu ký và tín thác.
(9) Các dịch vụ thanh toán và bù trừ tài sản tài chính, (gồm: chứng khoán,
các sản phẩm phái sinh, và các công cụ chuyển nhượng khác).
(10) Cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, và xử lý dữ liệu tài chính
và phần mềm liên quan của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính khác.
(l1) Các dịch vụ tư vấn, trung gian môi giới và các dịch vụ tài chính phụ trợ
khác đối với tất cả các hoạt động được nêu từ các tiểu mục (1) đến (10), kể cả
tham chiếu và phân tích TD, nghiên cứu và tư vấn đầu tư và danh mục đầu tư, tư
vấn về mua lại và về tái cơ cấu và chiến lược DN.
trong nước phải cải tiến quản lý, tuân thủ các nguyên tắc thị trường, đổi mới kiểm
soát nội bộ, phòng ngừa rủi ro và giám sát an toàn hoạt động, mở rộng phạm vi
cung cấp dịch vụ tốt hơn, cải thiện vị thế của mỗi ngân hang trên thị trường thế
giới.
Ba là, hội nhập vào cộng đồng tài chính quốc tế, cùng với dòng vốn vào là
kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật phòng ngừa rủi ro, công nghệ và sản phẩm mới
được đưa vào thị trường nội địa. Các yếu tố này làm tăng hiệu quả cung cấp dịch
vụ của các ngân hàng và các tổ chức tài chính, tăng cường khả năng quản lý rủi ro
đối với các hoạt động tài chính trong nước và quốc tế.
Bốn là, hội nhập đã thúc đẩy sự phát triển và trao đổi các dịch vụ tài chính,
ngân hàng giữa các nước. Các nước đang phát triển, nơi mà các ngân hàng trong
nước thường có chi phí hoạt động cao và lợi nhận thấp hơn các đối thủ cạnh tranh
nước ngoài thì sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài trên thị trường nội địa sẽ có
ảnh hưởng tích cực. Do sức ép cạnh tranh tăng lên đã thúc đẩy các ngân hàng nội
địa hoạt động hiệu quả hơn, nâng cao chất lượng dịch vụ để giữ vững và phát triển
thị phần, quản lý chặt chẽ chi phí để có lợi nhuận.
Năm là, việc hình thành các tập đoàn ngân hàng lớn cùng với quá trình mở
rộng hoạt động của chúng trên thế giới sẽ tạo cho ngân hàng này có nhiều lợi thế
trong cạnh tranh cũng như khả năng đối phó với những biến động thị trường. Sự
tham gia của các ngân hàng nước ngoài có tên tuổi này trên thị trường nội địa sẽ có
ảnh hưởng tích cực trong việc cải thiện các quy định giám sát và phòng ngừa rủi
8
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
ro, tuân thủ các chuẩn mực quốc tế về kế toán, công bố công khai. Mặt khác,
những ngân hàng ở các nước đang phát triển muốn thâm nhập vào thị trường các
nước cần phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn của những thị
trường này mới nhận được giấy phép hoạt động.
1.1.4.2. Những thách thức
Thứ nhất, hội nhập xuất hiện sự thâm nhập của ngân hàng nước ngoài có
thể gây khó khăn cho nền kinh tế và đe dọa đến chủ quyền kinh tế quốc gia. Mở
tế, ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh
tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy KH cũng như các
điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.
Cạnh tranh xuất phát từ hai điều kiện cơ bản là phân công lao động xã hội và
tính đa nguyên chủ thể lợi ích kinh tế, điều này làm xuất hiện các cuộc đấu tranh
giành lợi ích kinh tế giữa người sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ và các tổ
chức trung gian, thực hiện phân phối lại các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Cuộc đấu
tranh này dựa trên sức mạnh về tài chính, kỹ thuật công nghệ, chất lượng đội ngũ
lao động, quy mô hoạt động của từng chủ thể. Mục đích cuối cùng của các chủ thể
kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, với người sản xuất KD là lợi
nhuận và với người tiêu dùng là tiện ích tiêu dùng.
Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế
so sánh, để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác, là nỗ
lực hoạt động đồng bộ của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho khách
hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, chi phí rẻ nhằm khẳng định vị trí
của ngân hàng vượt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy.
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các NHTM
trong kinh doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên so với sự
cạnh tranh của các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các NHTM có những đặc
trưng nhất định:
Một là, các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác
với nhau trong một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm.
Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh,
tránh xảy ra rủi ro hệ thống.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của Ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia hoặc của khu vực.
Bốn là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài
ngân hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ
tầng cơ sở…
Năm là, cạnh tranh ngân hàng nằm trong vùng ảnh hưởng thường xuyên của
NH sẵn sàng cung ứng cho xã hội (về mặt này các NHTM VN chưa có sự chuẩn bị
tốt, tuy gần đây, vấn đề “thương hiệu” đang dần được các NHTM quan tâm hơn),
do vậy, thương hiệu có ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các
NHTM trên thị trường tài chính - tiền tệ. Một thương hiệu nổi tiếng sẽ hỗ trợ cho
NH thu hút được nhiều KH đến với mình, qua đó NH sẽ có được những KH truyền
thống và lòng trung thành đối với thương hiệu của KH cho phép NH có thể dễ dự
báo và kiểm soát thị trường, hơn nữa, đồng thời nó sẽ tạo nên một rào cản vô hình,
gây khó khăn cho các NH đối thủ khác khi muốn thâm nhập thị trường.
11
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
Về công nghệ
Sản phẩm NH là loại hình sản phẩm đặc thù mang hàm lượng công nghệ càng
cao càng hiệu quả và càng bảo mật, các NHTM hiện nay đã và đang cố gắng tạo ra các
SP ngày càng tiện ích và đa dạng để cung cấp cho KH, như: thẻ ATM (Automatic
Teller Machine), thẻ POS, giao dịch homebanking,phonebanking,internetbanking Vì
thế, việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành NH đang là sự quan
tâm hàng đầu của các NHTM. Đến nay, hơn 80% các nghiệp vụ NH đã được xử lý
bằng máy tính và hầu hết được xử lý trên mạng nội bộ, các giao dịch nghiệp vụ
huy động vốn, thanh toán, cho vay, KD ngoại hối,…bước đầu được chuẩn hóa phù
hợp với điều kiện của mỗi NHTM.
Những tiện ích trên thực hiện được là nhờ vào vai trò của công nghệ, công
nghệ càng hiện đại, NH cung cấp ngày càng nhiều tiện ích cho KH, đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng của KH, công nghệ NH nào càng hiện đại thế cạnh tranh và
năng lực cạnh tranh của NH đó càng tăng. Theo tính toán và kinh nghiệm của các
NH nước ngoài, công nghệ thông tin có thể làm giảm 76% chi phí hoạt động NH,
nhưng đây là lĩnh vực đòi hỏi đầu tư rất lớn, và cũng chính là hạn chế đối với hệ
thống NHTM VN do qui mô vốn còn kém.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng công nghệ của các NHTM VN vẫn còn
nhiều yếu kém so với các NH nước ngoài. Cụ thể:
- Theo WB, công nghệ trong lĩnh vực NH VN vẫn còn ở mức thấp kém, chỉ
Về giá cả và sự đa dạng hóa dịch vụ sản phẩm
Kinh tế càng phát triển, đời sống được nâng lên, nhu cầu đòi hỏi về tính đa
dạng SP của KH ngày càng cao, trước yêu cầu đó, các SP NH đưa ra thị trường
phải ngày càng đa dạng hơn. Điển hình là các sản phẩm: thẻ ATM, các hình thức
gửi tiết kiệm khác như (tiết kiệm hưởng lãi suất bậc thang, tiết kiệm online…), các
hình thức cho vay đa dạng (cho vay mua nhà trả góp hưởng lãi suất ưu đãi, tài sản
đảm bảo hình thành từ vốn vay…).Trong chiến lược KD, các NHTM càng có
nhiều SP khác biệt sẽ có lợi thế hơn, trong cạnh tranh trên thị trường, nhất là các
SP mang hàm lượng công nghệ cao.
Cùng với việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của KH bằng nhiều SP mới tiện ích,
giá cả cũng là mối quan tâm hàng đầu của NH, bởi “thị hiếu” của mỗi nhà đầu tư
có thể khác nhau nhưng họ đều có ít nhất một mục tiêu chung đó là “ tính toán và
lựa chọn hướng đầu tư có lợi nhất”.Vì thế, giá cả là một trong những yếu tố ảnh
hưởng
trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của các NHTM. Hiện nay trên thị trường
tiền tệ luôn có sự cạnh tranh giữa các NH thông qua lãi suất và phí, các NHTM sẵn
long giảm doanh thu để thu hút KH tạo ra thế cạnh tranh mạnh về giá cả, tuy nhiên
không như các loại hình KD khác, trong hoạt động NHTM, việc sử dụng giá để tạo
13
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
lợi thế cạnh tranh còn phải phụ thuộc nhiều yếu tố nhưng quan trọng, nhất là phải
chịu.sự quản lý của NHNN.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các NH luôn cho ra đời nhiều loại hình ưu
đãi, nhiều tiện ích để thu hút KH. Tuy nhiên, ngoài chủng loại SP cung cấp cho
KH, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, hồ sơ (cũng là hình thức tiết kiệm chi phí
cho KH vì “thời giờ là vàng bạc”), đây cũng là một yếu tố cạnh tranh về giá cả và
chất lượng của NH trong chiến lược cạnh tranh.
Về năng lực tài chính của các đối thủ cạnh tranh
Các NHTM hoạt động trên cùng địa bàn, tạo nên môi trường cạnh tranh và
tất yếu lợi thế sẽ thuộc về NH nào có chuẩn bị tốt về chiến lược. Có nhiều yếu tố
đáp ứng đúng, đầy đủ và kịp thời nhu cầu của KH trong thời hiện đại này.
1.1.2. Ý nghĩa và vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các
NHTM
Hội nhập quốc tế đã buộc các NH phải nâng cao khả năng cạnh tranh để
đủ sức đứng vững trên thương trường.Một thực trạng phổ biến hiện nay là: năng
lực cạnh tranh của các NH Việt Nam còn nhiều hạn chế và yếu kém nên khả năng
tồn tại và khẳng định vị thế trên thị trường rất thấp (đặc biệt là thị trường quốc tế).
Vì vậy, Xây dựng năng lực cạnh tranh của các NH là một tất yếu khách quan
trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.Nếu không làm được điều này,
các NH Việt không chỉ thất bại trên “sân khách” mà còn gánh chịu những hậu quả
tương tự trên chính “sân nhà”.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh thì những công việc mà các chủ ngân hàng
cần chủ động làm là: hiểu được thế nào là năng lực canh tranh của doanh nghiệp?
Nguyên nhân tạo ra năng lực cạnh tranh yếu kém đó, những hạn chế về khả năng
cạnh tranh của các doanh nghiệp và cuối cùng là giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh của các NH Việt Nam cũng như các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh
của một NHTM.
1.3. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của một NHTM
Để đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng cần căn cứ vào
các chỉ tiêu sau:
Năng lực tài chính
Tốc độ tăng trưởng vốn bình quân phải trên 10%/năm, các NHTM đều phải
có tỷ lệ vốn tối thiểu tương ứng với tài sản sinh lời. Để đánh giá chỉ tiêu này,
thường người ta đánh giá thông qua quy mô vốn chủ sở hữu và quy mô tài sản có
của NH.
Năng lực tài chính của một ngân hàng thường biểu hiện qua các mặt:
- Khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu
- Khả năng sinh lời
- Khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro
Khả năng sinh lời
+ Các phương thức gửi tiền khác nhau về kỳ hạn, lãi suất, sự thuận tiện…
+ Các nhu cầu vay vốn khác nhau về kỳ hạn vay, trả, về loại đồng tiền (nội
tệ, ngoại tệ), về cách giải ngân, cách trả lãi, cách sử dụng vốn vay…
+ Cách thanh toán chi phí tiêu dùng, thanh toán hàng hóa dịch vụ trong nước,
ra nước ngoài, bằng tiền mặt, phi tiền mặt…
16
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
+ Quản lý ngân quỹ, tài sản, tư vấn, môi giới, bảo hiểm, đầu tư chứng khoán,
mua bán ngoại tệ…
* Năng lực quản trị, điều hành.
Đánh giá năng lực quản trị, điều hành của NHTM thông qua các tiêu chí sau:
- Mô hình một ngân hàng hiện đại.
- Cơ cấu, trình độ, thực hiện của bộ máy lãnh đạo, của lực lượng lao động
chủ yếu, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
- Khả năng ứng phó của cơ chế điều hành trước diễn biến của thị trường.
- Cơ chế vận hành một ngân hàng hiện đại (quản trị tài sản nợ, tài sản có,
quản trị dịch vụ phi tín dụng, quản trị kế toán và ngân quỹ, quản trị nhân sự…)
* Năng lực công nghệ thông tin.
Năng lực công nghệ của NHTM thường được đánh giá thông qua các
tiêu chí:
- Khả năng trang bị công nghệ mới bao gồm thiết bị và nhân lực.
- Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của thị trường
để giữ được thị phần dịch vụ.
- Tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ
của mỗi ngân hàng.
Ngoài ra, còn có thể đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hang qua
danh tiếng và uy tín của mỗi ngân hàng đó. Về hình thức, danh tiếng và uy tín biểu
hiện qua thương hiệu. Về bản chất, danh tiếng và uy tín được tạo ra từ chất lượng,
quy mô của sản phẩm dịch vụ.
1.4. Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của một NHTM.
Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian đe dọa lợi thế của các
NHTM khi cung cấp các dịch vụ tài chính mới cũng như các dịch vụ truyền thống
vốn vẫn do các NHTM đảm nhiệm. Các trung gian này cung cấp cho khách hàng
những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ hội
chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác
động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm thị phần.
Ngày nay, người ta cho rằng, khi các NHTM mạnh lên nhờ sự rèn luyện
trong cạnh tranh, thì hệ thống NHTM sẽ mạnh hơn và có sức đàn hồi tốt hơn sau
các cú sốc của nền kinh tế.
* Nhóm nhân tố chủ quan
Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến năng lực cạnh tranh của các
NHTM, trên thực tế, nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũng
ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:
- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng
- Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM
- Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng
- Chất lượng nhân viên
18
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
- Cấu trúc tổ chức
- Danh tiếng và uy tín của NHTM
Bên cạnh đó, đặc điểm sản phẩm và đặc điểm khách hàng của NHTM cũng là
nhân tố chi phối đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Cụ thể:
- Tác nhân về đặc điểm sản phẩm
Cạnh tranh trong kinh doanh của NHTM bị chi phối bởi các đặc điểm hoạt
động kinh doanh của nó. Sản phẩm chính sử dụng trong hoạt động kinh doanh của
NHTM là tiền, đó là loại sản phẩm có tính xã hội và có tính nhạy cảm cao, chỉ một
biến động nhỏ ( thay đổi lãi suất ) cũng có ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh
doanh của các NHTM nói riêng và hoạt động của toàn xã hội nói chung. Từ đặc
cung cấp mới đáp ứng đúng và đầy đủ, kịp thời nhu cầu từ phía khách hàng.
Trong môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, các NHTM phải
quản lý ngân hàng theo tư duy chiến lược để ban lãnh đạo ngân hàng sẽ luôn ở thế
chủ động, không lúng túng khi môi trường kinh doanh thay đổi, đồng thờikết hợp
hài hòa và phát huy tối đa sức mạnh của tất cả các nguồn lực, sử dụng các nguồn
lực ngân hàng một cách hiệu quả nhất góp phần tăng chất lượng sản phẩm dịch vụ
ngân hàng.
* Cạnh tranh bằng giá cả.
Giá cả phản ánh giá trị của sản phẩm, giá cả có vai trò quan trọng đối với
quyết định của khách hàng. Đối với các NHTM, giá cả chính là lãi suất và mức phí
áp dụng cho các dịch vụ cung ứng cho các khách hàng của mình.Cạnh tranh bằng
giá cả đang trở thành một biện pháp nghèo nàn nhất vì nó làm giảm bớt lợi nhuận
của các NHTM.
* Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối.
Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình kinh
doanh. Tổ chức tiêu thụ sản phẩm chính là hình thức cạnh tranh phi giá cả gây ra
sự chú ý và thu hút khách hàng.
Kênh phân phối là phương tiện trực tiếp đưa sản phẩm, dịch vụ của ngân
hàng đến khách hàng, đồng thời giúp ngân hàng nắm bắt chính xác và kịp thời nhu
cầu của khách hàng, qua đó, ngân hàng chủ động trong việc cải tiến, hoàn thiện
sản phẩm dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc cung cấp sản phẩm dịch vụ
cho khách hàng.
Để cạnh tranh bằng hệ thống phân phối NHTM phải thực hiện tốt chiến lược
Marketing kết hợp với việc tổ chức mạng lưới.
20
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NH TMCP
Á CHÂU
2.1. Giới thiệu về Ngân hàng TM ACB Việt Nam.
quản lý theo định hướng khách hàng và được thiết kế phù hợp với từng phân đoạn
khách hàng; quan tâm đúng mức việc phát triển kinh doanh và quản lý rủi ro.
Cuối năm 2001, ACB chính thức vận hành hệ thống công nghệ ngân hàng lõi
là TCBS (The Complete Banking Solution: Giải pháp ngân hàng toàn diện), cho
phép tất cả chi nhánh và phòng giao dịch nối mạng với nhau, giao dịch tức thời,
dung chung cơ sở dữ liệu tập trung.
Năm 2003: ACB xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO
9001:2000 và được công nhận đạt tiêu chuẩn trong các lĩnh vực (i) huy động vốn,
(ii) cho vay ngắn hạn và trung dài hạn, (iii) thanh toán quốc tế và (iv) cung ứng
nguồn lực tại Hội sở.
Năm 2005: ACB và Ngân hàng Standard Charterd ký kết thỏa thuận hỗ trợ
kỹ thuật toàn diện; và SCB trở thành cổ đông chiến lược của ACB. ACB triển khai
giai đoạn hai của chương trình hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, bao gồm các cấu
phần (i) nâng cấp máy chủ, (ii) thay thế phần mềm xử lý giao dịch thẻ ngân hàng
bằng một phần mềm mới có khả năng tích hợp với nền công nghệ lõi hiện nay, và
(iii) lắp đặt hệ thống máy ATM.
Năm 2006: ACB niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội.
Năm 2007: ACB mở rộng mạng lưới hoạt động, thành lập mới 31 chi nhánh
và phòng giao dịch, thành lập Công ty Cho thuê tài chính ACB, hợp tác với các đối
tác như Open Solutions (OSI) – Thiên Nam để nâng cấp hệ ngân hàng cốt lõi, hợp
tác với Microsoft về việc áp dụng công nghệ thông tin vào vận hành và quản lý,
hợp tác với Ngân hang Standard Chartered về việc phát hành trái phiếu. ACB phát
hành 10 triệu cổ phiếu mệnh giá 100 tỷ đồng, với số tiền thu được là hơn 1.800 tỷ
đồng.
Năm 2008: ACB thành lập mới 75 chi nhánh và phòng giao dịch, hợp tác với
American.
Ngành tài chính của Việt Nam hiện nay đang bùng nổ và trở thành một lực
lượng then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế quốc gia, và ACB – ngân hàng
thương mại cổ phần lớn nhất về tổng tài sản và vốn hóa thị trường – đang ở tuyến
đầu trong khu vực năng động này. ACB tập trung vào thị trường bán lẻ và doanh
bằng Sông Cửu Long và miền Trung để giúp khách hàng tiếp cận dễ dàng với các
dịch vụ và sản phẩm của ngân hàng. Các khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp
nhỏ vẫn được ngân hàng chú trọng.
Vốn điều lệ: Kể từ ngày 8/12/2008 vốn điều lệ của ACB là 6.355.812.780.000
đồng (Sáu nghìn ba trăm năm mươi lăm tỷ tám trăm mười hai triệu bảy trăm tám
mươi nghìn đồng).
Sản phẩm dịch vụ chính
- Huy động vốn (nhận tiền gửi của khách hàng) bằng đồng Việt Nam, ngoại
tệ và vàng
23
Nguyễn Thu Hằng – QTKDTM 48D Đề án kinh tế thương mại
- Sử dụng vốn (cung cấp tín dụng, đầu tư, hùn vốn liên doanh) bằng đồng
Việt Nam, ngoại tệ và vàng
- Các dịch vụ trung gian (thực hiện thanh toán trong và ngoài nước, thực hiện
dịch vụ ngân quỹ, chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh, bảo hiểm nhân thọ
qua ngân hàng.
- Kinh doanh ngoại tệ và vàng.
- Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ.
Công ty trực thuộc
Công ty Chứng khoán ACB (ACBS).
Công ty Quản lý và khai thác tài sản Ngân hàng Á Châu (ACBA).
Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu (ACBL).
Công ty liên kết
Công ty Cổ phần Dịch vụ Bảo vệ Ngân hàng Á Châu (ACBD).
Công ty Cổ phần Địa ốc ACB (ACBR).
Công ty liên doanh
Công ty Cổ phần Sài Gòn Kim hoàn ACB- SJC (góp vốn thành lập với
SJC).
Cổ đông nước ngoài :
(Tỷ lệ cổ phần nắm giữ: 30%) Connaught Investors (Jardine Matheson Group),
ngoài (Standard Chartered Bank, IFC ) để phát triển các sản phẩm mới, và đa
dạng hóa lĩnh vực kinh doanh thông qua các công ty trực thuộc hoạt động trong
nhiều lĩnh vực khác nhau (chứng khoán, địa ốc, bảo hiểm ).
2.2.1 Năng lực tài chính
Nguồn vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu ACB và các ngân hàng thương mại khác qua các năm
ĐVT: nghìn tỷ VNĐ
Ngân hàng Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
ACB 1.283 1.653 6.258 7.767
Sacombank 1.887 2.870 7.349 7.758
Techcombank 1.010 1.762 3.573 5.500
Vietcombank 8.416 11.228 13.552 13.1
Nguồn: Báo cáo thường niên các ngân hàng thương mại
Từ bảng số liệu có thể thấy vốn chủ sở hữu của ngân hàng ACB tăng qua các
năm từ năm 2005 đến nay, đặc biệt tăng cao từ năm 2006 sang năm 2007 mà
nguyên nhân chính là đợt tăng vốn điều lệ của năm 2007 và phát hành cổ phiếu ra
25