1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) mạnh mẽ, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động cũng theo đó mà thay
đổi theo hướng tích cực. Những chính sách thu hút đầu tư đang ngày càng
được hoàn thiện, theo đó là hàng loạt diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổi
mục đích sử dụng thành đất công nghiệp và dịch vụ. Các khu công nghiệp và
đô thị được hiện ra cũng là thời điểm người nông dân không còn đất canh tác.
Từ đây, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được chú trọng hơn bao giờ
hết. Bởi lẽ, chỉ khi chất lượng nguồn lao động nông thôn được cải thiện thì
nguồn lao động mới có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành nghề mới, công
việc mới nói riêng, và của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói
chung.
Để giải quyết vấn đề cấp bách trên, Đảng và Nhà nước đã có những hành
động cụ thể mang tính tích cực. Nghị quyết số 26/2008/NQ-TW của Ban chấp
hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyết
Tam nông) ra đời ngày 5/8/2008, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để công
tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai ở nhiều nơi. Cụ thể
hơn, ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành
"Chương trình hành động của Chính phủ", trong đó có nêu mục tiêu: "Tập trung
đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một
bước cho người nông dân"[1]. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong
Chương trình hành động của Chính phủ là: "Xây dựng Chương trình quốc gia về
đào tạo nguồn nhân lực nông thôn. Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp
đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các
2
cơ sở công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ; chuyển nghề; bộ phận nông dân
còn tiếp tục sản xuất nông nghiệp về kiến thức và kỹ năng để thực hành sản xuất
nông nghiệp hiện đại. [1]
Đề án ở khắp các tỉnh, thành phố vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập cần được
khắc phục, chấn chỉnh và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả triển khai
thực hiện Đề án trong giai đoạn tiếp theo.
Tác giả Nguyễn Tiến Dũng, Nguyên Tổng Cục trưởng Tổng cục dạy
nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, với bài viết: “Đào tạo nghề cho
lao động nông thôn trong thời kỳ hội nhập quốc tế” đăng trên website của Bộ
Lao động - Thương binh và Xã hội. Tác giả đã nêu ra một số kết quả bước
đầu trong công tác đào tạo nghề cho lao động ở nước ta và đề cập đến một số
hướng giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông
thôn. Những giải pháp mà tác giả đưa ra còn mang tính khái quát và chung
chung. Bài viết có tính chất tham khảo hữu hiệu cho những nghiên cứu về đào
tạo nghề cho lao động nông thôn ở từng địa phương cụ thể.
Tác giả Nguyễn Văn Đại (2012),Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
Luận án tiến sĩ Đại học KTQD. Tác giả đã đánh giá một cách khách quan
thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng
trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời chỉ ra những giải pháp
để giải quyết khó khăn, và đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn
trong khu vực này.
Trong thời gian tổ chức thực hiện đề án 1956, từ năm 2010 – 2012, đã có
nhiều các cuộc hội thảo, đưa ra các báo cáo đánh giá tổng kết tình hình thực
hiện đề án trong 3 năm vừa qua. Tại các cuộc hội nghị, hội thảo này, các cơ
4
quan quản lý Nhà nước đã tổ chức đánh giá, rút kinh nghiệm rất nhiều vấn đề
còn vướng mắc trong quá trình thực hiện. Các địa phương thuộc diện được
cấp chỉ tiêu đào tạo cũng có những báo cáo thường niên với cơ quan cấp trên
về quá trình thực hiện đề án. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào
đánh giá và có những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn theo đề án 1956 trên địa bàn TP Hà Nội. Do vậy, tác giả đã
mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
- Phương pháp chuyên gia : xin ý kiến các chuyên gia về quản lý nguồn
nhân lực, quản lý hành chính nhà nước.
7. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Về lý luận : Hoàn thiện hệ thống lý luận về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn. Xây dựng quy trình thực hiện, đưa ra một số mục tiêu mới phù
hợp với sự biến đổi của tình hình kinh tế chính trị xã hội thời gian qua.
- Về thực tiễn : làm rõ thực trạng chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn TP Hà Nội, so sánh với mục tiêu mà đề án hướng đến.
Chỉ ra các tồn tại và nguyên nhân gây ra chúng
Đề xuất giải pháp giải quyết các vấn đề còn tồn tại.
8. Kết cấu luận văn
Luận văn ngoài các phần: mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Chương 2: Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP
Hà Nội theo đề án 1956.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn TP Hà Nội theo đề án 1956.
6
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm nghề
Nghề là một khái niệm trừu tượng, khó có một cách hiểu cụ thể và rõ
ràng. nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chẳng
hạn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định
mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát
triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội. Mặc dù
khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể
thấy một số nét đặc trưng nhất định:
thái độ góp phần tạo ra tính hiệu quả trong công việc của mỗi người.
Kiến thức là những điều hiểu biết có được hoặc do từng trải, hoặc nhờ
học tập. Nó gồm 3 yếu tố: kiến thức tổng hợp (những hiểu biết chung về thế
giới), kiến thức chuyên ngành (về một vài lĩnh vực đặc trưng như kế toán, tài
chính, ) và kiến thức đặc thù (những kiến thức đặc trưng mà người lao động
trực tiếp tham gia hoặc được đào tạo).
Kỹ năng của người lao động là sự thành thạo, tinh thông về các thao tác,
động tác, nghiệp vụ trong quá trình hoàn thành một công việc cụ thể nào đó.
Những kỹ năng sẽ giúp cho người lao động hoàn thành tốt công việc quy định
tính hiệu quả của công việc.
Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai
trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình, đam mê đối với công việc, điều này sẽ
8
được thể hiện qua các hành vi của họ. Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độ
không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao.
Như vậy, nói đến năng lực của người lao động là nói đến cả ba yếu tố:
thái độ, kỹ năng và kiến thức. Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự
thành công của người lao động với công việc. Một người có thể có kiến thức
sâu rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, vô
trách nhiệm với xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc.
1.1.2.2 Chất lượng đào tạo nghề:
Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo
đếm và cảm nhận được và luôn luôn biến đổi theo thời gian và theo không
gian.
Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và
trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó. Sẽ không thể
biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ
thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng của người lao
động được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục tiêu và
hành điều tra Lao động - Việc làm hàng năm ở khu vực thành thị và nông
thôn trên phạm vi cả nước. Trong các cuộc điều tra này, khái niệm lực lượng
lao động được sử dụng như sau:
“Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm
toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm
kiếm việc làm. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (hay còn gọi là dân
số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ
10
tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55
tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu
cầu làm việc và sẵn sàng làm việc”.[16]
1.1.3.2 Lao động nông thôn:
Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm lao động nông thôn được
hiểu như sau:
Lao động nông thôn gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thuộc khu vực
nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, công
nghiệp và xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng vì lí do khác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh
tế. Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động
nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân như đang thất
nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc, và
những người thuộc tình trạng khác.[36]
Như vậy, nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao
động quốc gia, thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng trong
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
1.1.3.3 Các đặc điểm của nguồn lao động nông thôn
Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên
chúng tôi đưa ra một số đặc điểm của người lao động nông thôn như sau:
Một là: LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi.
Một là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn góp phần quan trọng trong
việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về kiến thức và kỹ năng, đáp ứng
được nhu cầu thị trường lao động trong nước, khu vực và trên thế giới.
12
Hai là, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
trong quá trình phát triển kinh tế theo hướng CNH – HĐH đất nước.
Ba là, góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm và phát triển
ngành nghề mới ở nông thôn. Giải quyết việc làm cho người lao động là một
trong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm khai thác và sử
dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất
nước. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm còn gặp
nhiều khó khăn, đa số lực lượng lao động hiện nay có kiến thức và chuyên
môn thấp, khó có thể tìm kiếm được việc làm. Để tháo gỡ vấn đề này, phát
triển công tác đào tạo nghề sẽ là một biện pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội
ngũ lao động nông thôn, giúp họ có thể tham gia thị trường lao động. Đối với
bộ phận lao động nông thôn, thông qua các lớp đào tạo nghề sẽ có thể bằng
những nghề mình học mà tạo lập nghề nghiệp ngay trên quê hương mình.
Đây không chỉ là vấn đề giải quyết lao động dư thừa tại chỗ mà còn là điều
kiện để phát triển ngành nghề mới ở nông thôn.
Bốn là, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động. Ngoài việc nâng cao chất
lượng tay nghề, chuyên môn cho người lao động, đào tạo nghề còn góp phần
nâng cao ý thức, tăng tính tổ chức kỷ luật. Đây là một điều kiện thuận lợi cho
bộ phận nhân lực đã qua đào tạo khi ra nước ngoài lao động. Vì vậy, phát
triển dạy nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, hòa nhập thị trường lao
động quốc tế là góp phần quan trọng trong việc đẩy mạnh xuất khẩu lao động
khu vực nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, từng bước đưa kinh tế
nước nhà lên một tầm cao mới.
Năm là, góp phần tăng sức cạnh tranh cho khu vực kinh tế nông thôn,
thúc đẩy phát triển kinh tế. Đối với những lao động nông thôn được đào tạo,
chắc chắn họ sẽ thay đổi nhận thức, tư duy về vấn đề nghề nghiệp, lao động.
hành chính, quản lý, điều hành kinh tế - xã hội và thực thi công vụ phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. [30]
1.2.2.2 Mục tiêu cụ thể cho t`ng giai đoạn
Ngoài các mục tiêu đặc thù như trên, đề án cũng đưa ra các chỉ tiêu cụ
thể cho từng giai đoạn thực hiện, mà cụ thể là:
- Giai đoạn 2009 - 2010
+ Tiếp tục dạy nghề cho khoảng 800.000 lao động nông thôn theo mục
tiêu của Dự án “Tăng cường năng lực dạy nghề” thuộc Chương trình mục tiêu
quốc gia giáo dục - đào tạo đến năm 2010 (Dự án 7) bằng các chính sách của
Đề án này;
+ Thí điểm các mô hình dạy nghề cho lao động nông thôn với khoảng
18.000 người, 50 nghề đào tạo và đặt hàng dạy nghề cho khoảng 12.000
người thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu
hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề
theo các mô hình này tối thiểu đạt 80%;
+ Phấn đấu hoàn thành “Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã
giai đoạn 2006 - 2010” được phê duyệt theo Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg
ngày 15 tháng 02 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ.
- Giai đoạn 2011 - 2015
Đào tạo nghề cho 5.200.000 lao động nông thôn, trong đó:
+ Khoảng 4.700.000 lao động nông thôn được học nghề (1.600.000
người học nghề nông nghiệp; 3.100.000 người học nghề phi nông nghiệp),
trong đó đặt hàng dạy nghề khoảng 120.000 người thuộc diện hộ nghèo,
người dân tộc thiểu số, lao động nông thôn bị thu hồi đất canh tác có khó
khăn về kinh tế. Tỷ lệ có việc làm sau khi học nghề trong giai đoạn này tối
thiểu đạt 70%;
15
+ Đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao kiến thức, năng lực quản lý hành
chính, quản lý kinh tế - xã hội theo chức danh, vị trí làm việc đáp ứng yêu cầu
của công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành và thực thi công vụ cho khoảng
- Định hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Các xu thế phát triển của thị trường lao động địa phương, các
ngành nghề đang có tiềm năng phát triển trong tương lai.
- Thế mạnh của địa phương so với các địa phương khác về một
ngành nghề, hay một sản phẩm đặc trưng.
- Các ngành nghề truyền thống hiện có tại địa phương.
Nhìn chung lại, xác định nhu cầu đào tạo là một công tác hết sức cần
thiết để địa phương, cũng như cơ sở đào tạo nghề định hướng nghề nghiệp
cho người lao động. Đồng thời có những thông tin cần thiết về nhu cầu học
nghề của lao động địa phương về ngành nghề đào tạo, trình độ đào tạo, thời
gian đào tạo,…để lập kế hoạch đào tạo phù hợp.
1.3.2 Xây dựng kế hoạch đào tạo
Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện pháp, dự báo
trước và quyết định phương thức để thực hiện mục tiêu đó. Nói cách khác lập
kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và
ai làm. Căn cứ thực trạng ban đầu và căn cứ vào mục tiêu cần phải hướng tới
để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ cử tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai
đoạn. Từ đó tìm ra con đường, biện pháp đạt được mục tiêu.
Vậy có thể hiểu, xây dựng kế hoạch đào tạo là xác định các mục tiêu,
thời gian, biện pháp, cách thức thực hiện và nhân sự thực hiện công tác đào
tạo nghề để đạt được mục tiêu đã đề ra. Dựa trên nhu cầu đào tạo nghề, cần
xác định mục tiêu đào tạo nghề và các yếu tố cần thiết để đảm bảo người lao
động sau khi được đào tạo sẽ đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
Những yếu tố đảm bảo được vấn đề trên chính là số lượng đào tạo, ngành
17
nghề đào tạo, đối tượng đào tạo, thời gian đào tạo và trình độ đào tạo của
người lao động.
Xây dựng kế hoạch đào tạo có nhiều loại, nhưng ta có thể chia ra làm 2
loại chính:
- Kế hoạch vĩ mô, là loại kế hoạch mang tính định hướng, tổng quát,
mô hình có hiệu quả.
Ngoài phương thức đào tạo ra, một số vấn đề quan trọng khác trong khâu
tổ chức đào tạo cũng cần được chú ý, đó là các thiết bị phục vụ cho đào tạo,
kinh phí cho đào tạo, đội ngũ giảng viên, giáo viên, các hình thức theo dõi nội
dung và tiến độ đào tạo, định kỳ gặp gỡ người dạy và người học để nắm bắt
tình hình và các phát sinh, nắm bắt kết quả từng bước trong quá trình đào tạo
để có thể phối hợp và điều chỉnh kịp thời…đảm bảo điều kiện và sự phục vụ
tốt nhất cho quá trình đào tạo.
1.3.4 Quản lý hoạt động đào tạo
Quản lý hoạt động đào tạo chính là quá trình theo dõi, kiểm tra, đánh giá
kết quả hoạt động đào tạo. Kết quả đào tạo phản ánh kiến thức, kỹ năng, thái
độ học viên lĩnh hội được sau đào tạo. Điều này có đáp ứng được mục tiêu
đào tạo và các yêu cầu thực tiễn sản xuất và nhu cầu của thị trường hay
không? Và thường được đánh giá một cách toàn diện như sau: sự phản ứng
của người học đối với chương trình đào tạo, các kết quả thu nhận được của
người học, công tác tổ chức của chương trình đào tạo và tỷ lệ học viên sử
dụng nghề đào tạo sau đào tạo, khả năng tạo việc làm sau đào tạo của người
học có giúp họ cải thiện thu nhập, ổn định đời sống hay không?…
Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo có ý nghĩa quan trọng trong
đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Thông qua đó sẽ rút ra được những ưu
điểm và hạn chế của chương trình cũng như hình thức đào tạo để có kinh
nghiệm đào tạo hiệu quả hơn nữa cho các chương trình đào tạo lần sau.
1.4 Các yêu cầu đối với chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn.
19
TP Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa một cách nhanh chóng. Hơn
bao giờ hết, thủ đô cần phải khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế cả
nước; do đó, TP Hà Nội cần phải có những chiến lược cùng với những hướng
đi phù hợp với điều kiện kinh tế của mình. Một trong những vấn đề cần được
quan tâm và giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn chính là
Người lao động phải thực sự tiếp thu được kiến thức và kỹ năng sau quá trình
đào tạo, đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động.
Ba là, kết quả đào tạo phải hướng tới các mục tiêu của đào tạo nghề cho
lao động nông thôn và sát với các kế hoạch đặt ra. Đào tạo phải gắn liền với
bố trí việc làm một cách bền vững.
Để có thể đánh giá công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề
án 1956 có đạt được những yêu cầu trên không, ta có thể dựa vào một số tiêu
chí định lượng như sau:
- Tiêu chí thứ nhất là số lượng học viên đã đào tạo được so với số lượng
trên kế hoạch của TP.
- Tiêu chí thứ hai là số lượng người lao động có việc làm sau quá trình
đào tạo.
- Tiêu chí thứ ba là tiêu chí về năng lực của học viên sau khi được đào
tạo.
Để có thể đánh giá được hai tiêu chí trên thì Sở có thể kiểm tra được,
nhưng với tiêu chí thứ ba cần có sự đánh giá của giáo viên tham gia giảng
dạy, của chính bản thân người học nghề, và của những đơn vị nhận lao động
sau đào tạo vào làm việc. Một vài tiêu chí kể trên sẽ đánh giá tương đối chính
xác chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo kỹ năng nghề của người học nghề
21
đã tốt chưa, có đáp ứng được các yêu cầu của thực tế hay không. Cùng với
việc mở rộng qui mô đào tạo, nâng cao chất lượng dạy nghề là một đòi hỏi
khách quan, cấp bách để thực hiện được mục tiêu của công tác đào tạo nghề
cho lao động nông thôn.
1.5 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
1.5.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề tại một số nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa khá
thành công,. Với dân số đông nhất thế giới, lên tới hàng tỉ người, hàng năm có
triển.
- So với các nước khác, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì
Trung Quốc đã thực hiện chính sách kiểm soát được ở mức độ nhất định dòng
di chuyển lao động đến các thành phố lớn, tuy nhiên hạn chế của chính sách
này là làm giảm khả năng cạnh tranh lao động trên phạm vi lớn của thị trường
lao động bao gồm cả thành thị và nông thôn. Do đó, ở mức độ nhất định đã
làm giảm tính kích thích lao động nông thôn tham gia đào tạo học nghề. Để
khắc phục tình trạng này, Chính phủ Trung Quốc có chính sách phát triển các
đô thị loại vừa và nhỏ ở nông thôn để phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch
vụ, thúc đẩy đào tạo, dạy nghề cho lao động nông thôn trong quá trình đô thị
hóa. Ngoài ra, Chính phủ còn có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp
nông thôn hợp tác với các doanh nghiệp nhà nước để đào tạo lao động chuyên
môn kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu đổi mới lao động trong các trường hợp tiếp
nhận công nghệ sản xuất mới.
* Kinh nghiệm Hàn Quốc
23
Hàn Quốc là con rồng Châu Á đã đạt được những thành tựu huyền diệu
trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa. Trong các năm 1960-1970,
tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc thuộc loại cao nhất thế giới, GNP
bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình 6,7%/năm. Quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn cho
Chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo nguồn nhân lực nông thôn để
đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Có thể nói, Hàn Quốc
là nước thành công trong việc kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn với chính sách phát triển nguồn nhân lực nông
thôn. Thành tựu trong vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Hàn
Quốc phải kể tới vai trò của việc tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho
mọi người dân, trong đó có dân cư khu vực nông thôn được giáo dục đào tạo
với quy mô lớn, ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế.
Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị
Mô hình liên kết “3 nhà” (nhà nông - người lao động, nhà trường - cơ sở
đào tạo, nhà sử dụng lao động - doanh nghiệp) được xem là hướng đi hiệu quả
để Nam Định thực hiện được mục tiêu dạy nghề gắn với việc làm theo "Đề án
đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020".
Được đánh giá là một trong những đơn vị triển khai thành công đề án dạy
nghề của tỉnh Nam Định, ngay khi bắt đầu thực hiện, huyện Hải Hậu đã khảo
sát nhu cầu học nghề của bà con. Kết quả cho thấy người lao động ở các xã
ven biển muốn học nghề dệt lưới; dân ở các xã vùng nội đồng muốn học dệt
cói xuất khẩu, móc sợi, trồng nấm, nghề mộc Riêng nghề may, tất cả các xã,
thị trấn trong huyện đều có lao động có nhu cầu học. do đặc thù lao động ở
khu vực nông thôn đa dạng về đối tượng, độ tuổi, khả năng tiếp thu, điều kiện
25
học tập khác nhau nên việc tổ chức dạy nghề theo hình thức tập trung sẽ
không phát huy hiệu quả. Hơn nữa muốn kéo nông dân đi học, không chỉ
tuyên truyền kêu gọi mà điều quan trọng là phải có mô hình điểm hiệu quả
cho người dân nhìn, có thế họ mới hăng hái tham gia học nghề. Nếu dạy nghề
mà không tạo thu nhập cho nông dân thì không đầy một tuần bà con sẽ nghỉ
hết.
Để khắc phục những "cái khó" trên, Trung tâm Dạy nghề huyện Hải Hậu
đã xây dựng chương trình đào tạo gồm 12 nghề, trong đó: hàn điện, máy công
nghiệp, đan, thêu, móc là các nghề thị trường lao động có nhu cầu cao; tổ
chức dạy nghề ngay tại địa bàn khu dân cư, dạy nghề gắn với sản xuất, vừa
học vừa làm, đồng thời xây dựng đội ngũ cộng tác viên ở địa phương là
những người có tay nghề, nghiệp vụ sư phạm làm công tác tuyên truyền nghề,
dạy nghề. Nhờ đó, hầu hết học viên sau khi tốt nghiệp đều được các doanh
nghiệp, tổ hợp sản xuất trên địa bàn tiếp nhận vào làm việc. Một số học viên
sau khi được học nghề còn mạnh dạn vay vốn đầu tư mở cơ sở sản xuất, tạo
việc làm cho nhiều lao động khác.
Với phương châm đào tạo nghề theo hướng "cầm tay chỉ việc", "học đi
đôi với hành", các doanh nghiệp trên địa bàn đã tạo cho học viên tay nghề