1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH) mạnh mẽ, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động cũng theo đó mà thay
đổi theo hướng tích cực. Những chính sách thu hút đầu tư đang ngày càng
được hoàn thiện, theo đó là hàng loạt diện tích đất nông nghiệp bị chuyển đổi
mục đích sử dụng thành đất công nghiệp và dịch vụ. Các khu công nghiệp và
đô thị được hiện ra cũng là thời điểm người nông dân không còn đất canh tác.
Từ đây, vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn được chú trọng hơn bao giờ
hết. Bởi lẽ, chỉ khi chất lượng nguồn lao động nông thôn được cải thiện thì
nguồn lao động mới có thể đáp ứng được yêu cầu của ngành nghề mới, công
việc mới nói riêng, và của sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn nói
chung.
Để giải quyết vấn đề cấp bách trên, Đảng và Nhà nước đã có những hành
động cụ thể mang tính tích cực. Nghị quyết số 26/2008/NQ-TW của Ban chấp
hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (gọi là Nghị quyết
Tam nông) ra đời ngày 5/8/2008, đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để công
tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai ở nhiều nơi. Cụ thể hơn,
ngày 28/10/2008, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ban hành
"Chương trình hành động của Chính phủ", trong đó có nêu mục tiêu: "Tập trung
đào tạo nguồn nhân lực ở nông thôn, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp
sang công nghiệp và dịch vụ, giải quyết việc làm nhằm nâng cao thu nhập một
bước cho người nông dân"[1]. Một trong những nhiệm vụ chủ yếu trong
Chương trình hành động của Chính phủ là: "Xây dựng Chương trình quốc gia về
đào tạo nguồn nhân lực nông thôn. Tập trung xây dựng kế hoạch và giải pháp
đào tạo cho bộ phận con em nông dân đủ trình độ, năng lực vào làm việc ở các
2
4
còn vướng mắc trong quá trình thực hiện. Các địa phương thuộc diện được
cấp chỉ tiêu đào tạo cũng có những báo cáo thường niên với cơ quan cấp trên
về quá trình thực hiện đề án. Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu nào
đánh giá và có những giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn theo đề án 1956 trên địa bàn TP Hà Nội. Do vậy, tác giả đã
mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn theo đề án 1956 ở TP Hà Nội” nhằm đánh giá đúng thực
trạng và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn của TP trong thời gian tới.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tìm hiểu một số cơ sở khoa học về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn, đề tài phân tích và đánh giá một số những vấn đề sau:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề cho
lao động nông thôn.
- Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo
đề án 1956 trên địa bàn TP Hà Nội.
Từ những phân tích và đánh giá trên đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm
nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn TP Hà Nội.
4. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các đối tượng sau:
- Các vấn đề lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Các văn bản quy phạm pháp luật chỉ đạo việc thực hiện đề án 1956 về
đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn
TP Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu.
Hà Nội theo đề án 1956.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao
động nông thôn TP Hà Nội theo đề án 1956.
6
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO
ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1. Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm nghề
Nghề là một khái niệm trừu tượng, khó có một cách hiểu cụ thể và rõ
ràng. Nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chẳng
hạn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định
mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát
triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội. Mặc dù
khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể
thấy một số nét đặc trưng nhất định:
Một là: Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi
lặp lại.
Hai là: Nghề là sự phân công là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
Ba là: Nghề là phương tiện để sinh sống.
Bốn là: Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi
trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định.[8]
Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển
kinh tế xã hội của đất nước.
Trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng khái niệm nghề theo giáo
trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân: Nghề là một
dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là
toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các
tính hiệu quả của công việc.
8
Thái độ của người lao động cho thấy cách nhìn nhận của người đó về vai
trò, trách nhiệm, mức độ nhiệt tình, đam mê đối với công việc, điều này sẽ
được thể hiện qua các hành vi của họ. Một người có kỹ năng tốt nhưng thái độ
không đúng thì hiệu quả đóng góp sẽ không cao.
Như vậy, nói đến năng lực của người lao động là nói đến cả ba yếu tố:
kiến thức, kỹ năng và thái độ. Ở đây, thái độ là yếu tố hàng đầu quyết định sự
thành công của người lao động với công việc. Một người có thể có kiến thức
sâu rộng, kỹ năng chuyên nghiệp nhưng thái độ bàng quan với cuộc sống, vô
trách nhiệm với xã hội thì chưa chắc đã làm tốt công việc.
1.1.2.2 Chất lượng đào tạo nghề:
Chất lượng đào tạo nghề là khái niệm đa chiều, không thể trực tiếp đo
đếm và cảm nhận được và luôn luôn biến đổi theo thời gian và theo không
gian.
Chất lượng đào tạo nghề phản ánh trạng thái đào tạo nghề nhất định và
trạng thái đó thay đổi phụ thuộc vào các yếu tố tác động đến nó. Sẽ không thể
biết được chất lượng đào tạo nếu chúng ta không đánh giá thông qua một hệ
thống các chỉ tiêu và các yếu tố ảnh hưởng. Chất lượng của công tác đào tạo
nghề sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng của người lao động sau
khi học nghề, chính là sản phẩm của công tác đào tạo nghề.
Khái niệm chất lượng đào tạo nghề là để chỉ chất lượng của công tác đào
tạo nghề cho người lao động trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, theo mục
tiêu và kế hoạch đào tạo xác định trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau,
biểu hiện một cách tổng hợp nhất ở mức độ hoàn thành của kế hoạch và chấp
nhận của thị trường lao động, của xã hội đối với kết quả đào tạo. Đồng thời
chất lượng đào tạo nghề còn phản ánh cả kết quả đào tạo của các cơ sở đào
trên phạm vi cả nước. Trong các cuộc điều tra này, khái niệm lực lượng lao
động được sử dụng như sau:
10
“Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm
toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm
kiếm việc làm. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (hay còn gọi là dân
số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ
tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55
tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu
cầu làm việc và sẵn sàng làm việc”.[8]
1.1.3.2 Lao động nông thôn:
Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm lao động nông thôn được
hiểu như sau:
Lao động nông thôn gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thuộc khu vực
nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, công
nghiệp và xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng vì lí do khác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh
tế. Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động
nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân như đang thất
nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, không có nhu cầu làm việc, và
những người thuộc tình trạng khác.[20]
Như vậy, nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao
động quốc gia, thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng trong
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.
1.1.3.3 Các đặc điểm của nguồn lao động nông thôn
Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành
nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên tác
dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo
đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức
12
khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng
tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu
của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.[11]
Với định hướng nhằm đáp ứng đòi hỏi sự phát triển kinh tế - xã hội; cùng
với các hệ thống giáo dục, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
hướng đến các mục tiêu chủ yếu, quan trọng trong vấn đề đào tạo nhân lực
cho khu vực kinh tế nông thôn. Theo đánh giá của tác giả, có một số mục tiêu
chính cụ thể hơn như sau:
Một là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực nông thôn về kiến thức và kỹ năng, đáp ứng được nhu cầu thị
trường lao động trong nước, khu vực và trên thế giới.
Hai là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải tạo sự chuyển biến
trong chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế trong quá trình phát triển
kinh tế đất nước.
Ba là, đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải trang bị cho người lao
động những kiến thức kỹ năng cần thiết để người lao động có thể tự giải quyết
việc làm, qua đó thúc đẩy phát triển ngành nghề mới ở nông thôn. Giải quyết
việc làm cho người lao động là một trong những chủ trương lớn của Đảng và
Nhà nước nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, trong điều kiện
hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm còn gặp nhiều khó khăn, đa số lực lượng
lao động hiện nay có kiến thức và chuyên môn thấp, khó có thể tìm kiếm
được việc làm. Để tháo gỡ vấn đề này, phát triển công tác đào tạo nghề sẽ là
một biện pháp hữu hiệu nhằm đào tạo đội ngũ lao động nông thôn, giúp họ có
bài bản và khoa học sẽ giúp họ nâng cao tầm nhận thức của mình và mở ra
cho họ cơ hội tìm kiếm việc làm mới nhằm nâng cao thu nhập, từ đó giúp cho
đời sống kinh tế của họ được ổn định, các chế độ phúc lợi và an sinh sẽ được
đảm bảo và phát triển hơn.
14
1.3 Nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
1.3.1 Xác định nhu cầu đào tạo
Đây là nội dung quan trọng đầu tiên trong đào tạo nghề cho lao động
nông thôn. Để đáp ứng được yêu cầu đa dạng của thị trường cũng như đảm
bảo hiệu quả sau đào tạo nghề trong việc giải quyết việc làm và tự tạo việc
làm đối với lao động nông thôn, cần thiết phải xác định nhu cầu đào tạo.
Trước hết, phải hiểu, xác định nhu cầu đào tạo là quá trình thu thập thông
tin và phân tích thông tin, để làm rõ hơn khoảng cách giữa những kiến thức và
kỹ năng lao động hiện có so với mục tiêu cần đạt đến.
Để có thể xác định được nhu cầu đào tạo, một biện pháp phổ biến thường
được sử dụng đó là điều tra khảo sát trên các đối tượng có liên quan. Mà cụ
thể trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, ta cần khảo sát nhu
cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn, nhu
cầu học nghề của người lao động tại địa phương.
Đồng thời, cũng cần quan tâm tới các yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng
đến nhu cầu đào tạo, đó là yếu tố:
- Định hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Các xu thế phát triển của thị trường lao động địa phương, các
ngành nghề đang có tiềm năng phát triển trong tương lai.
- Thế mạnh của địa phương so với các địa phương khác về một
ngành nghề, hay một sản phẩm đặc trưng.
- Kế hoạch vi mô, là loại kế hoạch mang tính cụ thể, chi tiết, loại kế
hoạch này thường do các cơ sở lên kế hoạch để thực hiện.
Các cơ quan quản lý của Nhà nước xây dựng kế hoạch đào tạo dựa vào
các yếu tố về mặt mục tiêu, chỉ tiêu kế hoạch, khả năng đầu tư của ngân sách
trong từng kì thực hiện. Từ đó sẽ có thể đưa ra những chỉ đạo phù hợp cho các
cơ sở đào tạo lập kế hoạch đào tạo cụ thể.
Các cơ sở đào tạo dựa trên các yếu tố về nhu cầu đào tạo đã khảo sát
được, cùng với các điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, chương trình đào tạo,
đội ngũ giảng viên giáo viên sẽ lập kế hoạch chi tiết về tính khả thi của từng
16
lớp học. Bước này cần có sự phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước, cũng
như sự chuẩn bị kĩ lưỡng cả cơ sở đào tạo nghề.
1.3.3 Tổ chức đào tạo
Sau khi đã xây dựng được kế hoạch đào tạo, tổ chức chương trình đào
tạo là nội dung quan trọng thứ ba trong đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Trong giai đoạn này, bộ phận phụ trách đào tạo thực hiện các nhiệm vụ: tổ
chức các lớp đào tạo bằng các hình thức, phương pháp đào tạo khác nhau.
Phương thức đào tạo rất đa dạng, căn cứ vào nhu cầu, mục tiêu cũng như đặc
điểm của ngành nghề, đối tượng học nghề để lựa chọn và xác định phương
thức đào tạo phù hợp. Đa số các hình thức đào tạo đều sử dụng chung phương
pháp đào tạo trực tiếp, đó là Nghe/đặt câu hỏi kết hợp với Xem xét/thực hành
để áp dụng. Sự khác nhau giữa các lớp học và giữa các cơ sở dạy nghề chính
là ở hình thức đào tạo, một số hình thức đào tạo phổ biến:
- Đào tạo tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề.
- Kèm cặp trong sản xuất, tại địa điểm tập trung trong địa phương:
- Đào tạo tại doanh nghiệp.
Có thể có nhiều mô hình tổ chức dạy nghề khác, trong quá trình thực
TP Hà Nội đang trong quá trình đô thị hóa một cách nhanh chóng. Hơn
bao giờ hết, thủ đô cần phải khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế cả
nước; do đó, TP Hà Nội cần phải có những chiến lược cùng với những hướng
đi phù hợp với điều kiện kinh tế của mình. Một trong những vấn đề cần được
quan tâm và giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn chính là
phát triển nguồn nhân lực, tức là chúng ta cần phải quan tâm đến vấn đề nâng
cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động hiện nay. Không thể phủ nhận những
kết quả có được ngày hôm nay nhờ vào nguồn nhân lực dồi dào. Tuy nhiên, với
tình hình phát triển hiện nay của TP Hà Nội cũng như trên cả nước thì chất lượng
nguồn nhân lực cần được quan tâm hơn nữa.
Quá trình phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi chất lượng lao động phải cao
không những để đáp ứng nhu cầu lao động trong nước mà còn để đáp ứng
nhu cầu xuất khẩu lao động, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế. Xuất khẩu lao
động là chiến lược lâu dài, thường xuyên của các quốc gia phát triển. Đối với
18
nước ta, xuất khẩu lao động không những vừa giải quyết việc làm cho lao
động, tăng thu nhập cho ngân sách nhà nước, tăng thu nhập cho bản thân gia
đình người lao động, mà còn tiếp thu học tập chuyên môn kỹ thuật hiện đại
của các nước có nền công nghiệp phát triển.
Vấn đề cấp bách hiện nay là phải khẩn trương bồi dưỡng về mọi mặt cho
số công nhân, số lao động chưa qua đào tạo đầy đủ, tăng nhanh về qui mô với
chất lượng cao. Và chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
phải đạt được một số yêu cầu chính như sau:
Một là, công tác chỉ đạo và lập kế hoạch phải sát với thực tế, phù hợp với
các đặc điểm của đối tượng là lao động nông thôn, cụ thể là kết quả công tác
xác định nghề đào tạo và nhu cầu đào tạo.
Hai là, quá trình đào tạo phải chú trọng tính hiệu quả, dạy thật học thật.
20
1.5 Kinh nghiệm trong nước và quốc tế về đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
1.5.1 Kinh nghiệm đào tạo nghề tại một số nước trên thế giới
* Kinh nghiệm của Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước thực hiện hiện đại hóa, công nghiệp hóa khá
thành công. Với dân số đông nhất thế giới, lên tới hàng tỉ người, hàng năm có
Trung Quốc có hàng chục triệu người bước vào độ tuổi lao động, một nửa
trong số đó là lao động khu vực nông thôn. Quá trình đô thị hóa, công nghiệp
hóa, hiện đại hóa diễn ra nhanh chóng, tại nhiều vùng nông thôn diện tích
canh tác ngày càng thu hẹp, dẫn tới hàng trăm triệu lao động nông thôn không
có việc làm. Trước tình hình đó, Chính phủ Trung Quốc rất coi trọng công tác
đào tạo nghề cho nông thôn để tạo việc làm cho lao động nông thôn ngay tại
địa phương, các kinh nghiệm chính của Trung Quốc trong đào tạo nghề cho
lao động nông thôn là:
- Đào tạo nhân lực phục vụ cho phát triển công nghiệp hương trấn, thực
hiện phương châm “ly nông bất ly hương”. Đẩy mạnh các doanh nghiệp
hương trấn, sử dụng lao động địa phương. Đặc điểm sử dụng lao động của
doanh nghiệp hương trấn là lấy hiệu quả làm đầu, tự chủ sản xuất kinh doanh,
hoạt động theo cơ chế thị trường, rất coi trọng vấn đề phát triển nguồn nhân
lực. Chính phủ có chính sách hỗ trợ, phát triển hệ thống các lớp, cơ sở dạy
nghề, ở các vùng nông thôn, nhằm đáp ứng cho phát triển doanh nghiệp
hương trấn. Biện pháp đào tạo mà doanh nghiệp hương trấn sử dụng là dùng
các lao động nông thôn có chuyên môn kỹ thuật, dám nghĩ, dám làm, trưởng
thành từ thực tiễn, để đào tạo tay nghề cho những người vừa tốt nghiệp các
cấp trung học phổ thông. Tuy nhiên, khó khăn của doanh nghiệp hương trấn là
thiếu lao động chuyên môn kỹ thuật cao để có thể nâng cao năng suất lao
động, chất lượng sản phẩm và tăng cường khả năng cạnh tranh của các doanh
bình quân đầu người của Hàn Quốc tăng trung bình 6,7%/năm. Quá trình
22
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã đặt ra nhiệm vụ lớn cho
Chính phủ Hàn Quốc là phải tăng cường đào tạo nguồn nhân lực nông thôn để
đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Có thể nói, Hàn Quốc
là nước thành công trong việc kết hợp được hài hòa giữa chính sách chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông thôn với chính sách phát triển nguồn nhân lực nông
thôn. Thành tựu trong vấn đề đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Hàn
Quốc phải kể tới vai trò của việc tập trung đầu tư cho giáo dục, đảm bảo cho
mọi người dân, trong đó có dân cư khu vực nông thôn được giáo dục đào tạo
với quy mô lớn, ở tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế.
Trong những năm đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị
hóa, Chính phủ Hàn Quốc phát triển hệ thống đào tạo, thu hút lao động nông
thôn vào đào tạo các ngành nghề hàm lượng lao động cao như dệt, may, giày
da, đồ chơi, công nghiệp chế biến, nhà hàng, … Các thời kì sau, công nghiệp
phát triển mạnh mẽ , lao động nông thôn được đào tạo với quy mô lớn trong
các lĩnh vực sắt thép, hóa chất, đóng tàu, xây dựng công nghiệp, … Sự phát
triển mạnh của các ngành công nghiệp xuất khẩu đã giải quyết được việc làm
cho lao động nông thôn mất việc làm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh
tế và cơ cấu lao động.
Chính phủ Hàn Quốc có chính sách khuyến khích các công ty tham gia
đào tạo nghề, hướng dẫn thực tập nghề nghiệp cho người lao động, đặc biệt là
lao động nông thôn tham gia học nghề ban đầu, để đảm bảo nguồn cung ứng
cho nhu cầu của các ngành công nghiệp có tốc độ phát triển nhanh. Chính phủ
cũng khuyến khích phát triển hình thức tín dụng, giảm thuế và trợ cấp, nhằm
tạo điều kiện cho lao động nghèo, lao động nông thôn có thể tham gia các
khóa đào tạ học nghề, học đại học. Trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu công
không phát huy hiệu quả. Hơn nữa muốn kéo nông dân đi học, không chỉ
tuyên truyền kêu gọi mà điều quan trọng là phải có mô hình điểm hiệu quả
cho người dân nhìn, có thế họ mới hăng hái tham gia học nghề. Nếu dạy nghề
24
mà không tạo thu nhập cho nông dân thì không đầy một tuần bà con sẽ nghỉ
hết.
Để khắc phục những "cái khó" trên, Trung tâm Dạy nghề huyện Hải Hậu
đã xây dựng chương trình đào tạo gồm 12 nghề, trong đó: hàn điện, máy công
nghiệp, đan, thêu, móc là các nghề thị trường lao động có nhu cầu cao; tổ
chức dạy nghề ngay tại địa bàn khu dân cư, dạy nghề gắn với sản xuất, vừa
học vừa làm, đồng thời xây dựng đội ngũ cộng tác viên ở địa phương là
những người có tay nghề, nghiệp vụ sư phạm làm công tác tuyên truyền nghề,
dạy nghề. Nhờ đó, hầu hết học viên sau khi tốt nghiệp đều được các doanh
nghiệp, tổ hợp sản xuất trên địa bàn tiếp nhận vào làm việc. Một số học viên
sau khi được học nghề còn mạnh dạn vay vốn đầu tư mở cơ sở sản xuất, tạo
việc làm cho nhiều lao động khác.
Với phương châm đào tạo nghề theo hướng "cầm tay chỉ việc", "học đi
đôi với hành", các doanh nghiệp trên địa bàn đã tạo cho học viên tay nghề
vững, tiếp cận dễ dàng với công việc. Cùng với việc dạy nghề, những năm
qua các doanh nghiệp đã huy động thêm vốn của Ngân hàng Chính sách xã
hội và nhiều "kênh" khác đầu tư mở rộng nhà xưởng, tổ chức sản xuất thêm
các sản phẩm may mặc bên cạnh sản phẩm mây tre đan truyền thống. Việc
làm này đã góp phần tạo thêm việc làm cho lao động nông nhàn tại 18 xã
trong huyện. Hoạt động thu mua bẹ chuối, bèo tây của doanh nghiệp cũng
gián tiếp tạo việc làm cho nhiều lao động nông thôn khác trên địa bàn.[6]
Có thể thấy, sự phối hợp nhịp nhàng “3 nhà” trong đào tạo nghề cho lao
động nông thôn như trên thực sự đem lại hiệu quả đào tạo rất cao. Đây là một
trong đó, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề theo địa chỉ.
Ngay từ đầu năm, huyện đã triển khai điều tra, khảo sát tại 85 thôn, xóm
để nắm được số liệu cụ thể về người lao động, đồng thời, tiến hành điều tra, rà
soát nhu cầu sử dụng lao động tại 42 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa
bàn. Qua đó, nắm được chính xác nhu cầu lao động của các DN để có kế
hoạch đào tạo cụ thể. Ngoài ra, để nâng cao hiệu quả dạy nghề, đặc biệt, để